Quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Thủ tục rút gọn lần đầu tiên được quy định tại chương 34 của Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2003, gồm bảy điều. Đây là một trình tự
tố tụng đặc biệt nhằm điều tra, truy tố, xét xử nhanh những vụ án
ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, đơn giản, chứng cứ và nhân
thân người phạm tội rõ ràng.
Thủ tục rút gọn là một phương thức quan trọng và cần thiết của tố
tụng hình sự trong việc xử lý tội phạm ở các giai đoạn phát triển
của cách mạng Việt Nam. Áp dụng thủ tục rút gọn sẽ thúc đẩy
nhanh quá trình xét xử các vụ án có mức độ nguy hiểm không lớn;
hạn chế việc tồn đọng án ở các địa phương, khắc phục tình trạng
quá tải trong nhà tạm giữ, trại giam. Đồng thời còn tạo điều kiện
cho các cơ quan tiến hành tố tụng có thời gian và lực lượng tập
trung giải quyết tốt hơn những loại án nghiêm trọng. Vậy điều kiện
để áp dụng thủ tục rút gọn là gì và trong tố tụng hình sự đã quy
định những gì về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn chính là nội
dung của bài làm dưới đây.
B. NỘI DUNG CHÍNH
1. Cơ sở lí luận
Trước khi đi vào phân tích những điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn
trong tố tụng hình sự tôi xin đi tìm hiểu qua một số khái niệm cũng
như đặc điểm về thủ tục rút gọn, nhằm có một nền kiến thức làm
cơ sở.
- Khái niệm thủ tục rút gọn: Thủ tục rút gọn là thủ tục đặc biệt
trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với những vụ án về tội
phạm ít nghiêm trọng, sự việc phạm tội đơn giản , chứng cứ rõ
ràng, người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang, có căn
cước, lai lịch rõ ràng
người thực hiện hành vi phạm tội. Người bị bắt trong trường hợp
phạm tội quả tang thường nhận tội ngay, chứng cứ tương đối rõ
ràng và đầy đủ; người làm chứng, người bị hại (nếu có) cũng
thường được xác định cụ thể… Đây là một trong những điều kiện
cần thiết để có thể giải quyết vụ án nhanh chóng, thuận lợi và
chính xác.
- Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng
Theo hướng dẫn tại thông tư số 10/TATC năm 1974: “Tội phạm đơn
giản, rõ ràng là : vụ án không có các tình tiết phải mất thì giờ điều
tra, xác minh, bị cáo đã nhận tội và trong vụ án chỉ có một hoặc
hai bị cáo”.
Có thể hiểu sự việc phạm tội đơn giản là những sự việc mà vấn đề
cần chứng minh trong vụ án không phức tạp và dễ xác định. Các
tình tiết của hành vi phạm tội đơn giản; vụ án thường ít bị cáo
hoặc có thể nhiều bị cáo nhưng không phải trường hợp phạm tội có
tổ chức hoặc đồng phạm phức tạp, khó xác định vai trò, vị trí của
từng đối tượng; lỗi; năng lực trách nhiệm hình sự; động cơ mục
đích phạm tội rõ ràng. Việc giải quyết vụ án không liên quan đến
nhiều cấp, nhiều ngành, đến chính sách dân tộc, tôn giáo, phong
tục tập quán hay những vấn đề xã hội phức tạp khác.
Chứng cứ rõ ràng là chứng cứ đã được thu thập tương đối đầy đủ
ngay từ đầu, thông qua biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời
khai của người bị hại, người trực tiếp chứng kiến sự việc phạm tội,
các tang vật thu được ở hiện trường… Các chứng cứ này không chỉ
đầy đủ mà còn phải thống nhất và đảm bảo giá trị chứng minh.
Những trường hợp phạm tội quả tang nhưng không đảm bảo điều
kiện tính chất của sự việc phạm tội đơn giản, rõ ràng thì không áp
dụng thủ tục rút gọn.
Theo quy định tại Điều 319 Bộ luật tố tụng hình sự thì thủ tục rút
gọn chỉ được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:
“1. Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang;
2. Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng;
3. Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng;
4. Người phạm tội có căn cước lai lịch rõ ràng.”
Như vậy, thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng khi thỏa mãn bốn điều
kiện nêu trên mà ở đó:
Thứ nhất: Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang, theo
quy định tại Điều 82 BLTTHS thì phạm tội quả tang là trường hợp
người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội
phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt. Đây chính là một trong
những điều kiện cần thiết để có thể giải quyết vụ án nhanh chóng,
thuận lợi và chính xác vì người bị bắt trong trường hợp phạm tội
quả tang thường nhận tội ngay, chứng cứ tương đối rõ ràng và đầy
đủ.
Thứ hai: Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng: là vụ án
không có các tình tiết phải mất thì giờ điều tra, xác minh, bị cáo đã
nhận tội và trong vụ án chỉ có một hoặc hai bị cáo… (Thông tư số
10/TATC năm 1974). Có thể hiểu phạm tội đơn giản là những vấn
đề cần chứng minh trong vụ án không phức tạp dễ xác định, vụ án
ít bị cáo, các chứng cứ đã được thu thập tương đối đầy đủ từ đầu.
Thứ ba: Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng: Đó là
loại tội phạm tính nguy hiểm cho xã hội không lớn mà theo quy
định tại Điều 8 BLHS thì “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây
nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình
phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù…”
Thứ tư: Người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng: Căn cước, lai
Ngoài ra, qua thực tiễn xét xử, có rất nhiều vụ án phạm tội nghiêm
trọng, hoàn toàn thỏa mãn các điều kiện 1, 2, 4 quy định tại Điều
319, song không thể áp dụng được thủ tục rút gọn vì không thỏa
mãn với điều kiện thứ ba là “Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít
nghiêm trọng”. Như vậy, điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn quy
định tại Điều 319 BLTTHS hiện hành chỉ được áp dụng trong trường
hợp phạm tội quả tang, đối với tội phạm ít nghiêm trọng, là không
phù hợp với thực tiễn, bỏ sót rất nhiều vụ án có thể áp dụng được
thủ tục rút gọn, nhưng lại không được áp dụng, làm mất nhiều thời
gian, không hạn chế được lượng án tồn đọng, tốn kém về chi phí
vật chất, gây thiệt hại cho các chủ thể tham gia tố tụng hình sự,
đôi khi còn vi phạm cả về thời hạn tạm giữ, tạm giam, xâm phạm
đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
Để khắc phục tình trạng trên cần bỏ điều kiện thứ nhất quy định
tại Điều 319 BLTTHS, chỉ cần những vụ án mà sự việc phạm tội đơn
giản, chứng cứ rõ ràng, tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít
nghiêm trọng, nghiêm trọng, người phạm tội có căn cước lai lịch rõ
ràng thì các cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét để quyết
định có hay không việc áp dụng thủ tục rút gọn, chứ không nên
quy định đóng khung như hiện nay. Có như vậy, thì những quy định
về thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự mới được áp dụng rộng rãi
hơn, đúng với ý nghĩa của thủ tục rút gọn là đơn giản hóa quá trình
tố tụng, rút ngắn thời hạn tiến hành tố tụng nhằm giúp Cơ quan
điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án giải quyết nhanh chóng vụ án.
C. KẾT LUẬN
Sau khi đi phân tích và tìm hiểu về quy định về điều kiện áp dụng
thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự, từ đó đưa ra được những