nghiên cứu - trao đổi
50 tạp chí luật học số 11/2007
TS. Hoàng Thị Minh Sơn *
1. ỏp ng yờu cu ci cỏch t phỏp,
Ngh quyt s 08-NQ/TW ca B chớnh tr
ó xỏc nh: Nghiờn cu quy nh v
thc hin th tc rỳt gn i vi nhng v
ỏn n gin, phm ti qu tang, chng c rừ
rng, hu qu ớt nghiờm trng. Vi tinh
thn ú, B lut t tng hỡnh s (BLTTHS)
nm 2003 ó khụi phc th tc rỳt ngn c
ỏp dng trc õy iu tra, truy t v xột
x i vi nhng v ỏn hỡnh s ớt quan trng,
phm ti qu tang, n gin, rừ rng
(1)
(nay
gi l th tc rỳt gn). BLTTHS cng ó
dnh mt chng quy nh v th tc ny, tuy
vy trờn thc t hin nay th tc ny ớt c
cỏc c quan tin hnh t tng quan tõm ỏp
dng gii quyt v ỏn hỡnh s.
Cựng vi cụng cuc i mi ton din
ca t nc trờn mi lnh vc trong iu
kin xõy dng nh nc phỏp quyn v hi
nhp quc t chỳng ta cn phi sa i, b
(2)
2. Sau hn ba nm thi hnh BLTTHS
nm 2003 (t ngy 1/7/2004 n nay), hu
nh th tc rỳt gn ớt c ỏp dng, thm
chớ cú c quan tin hnh t tng mt s
tnh cú nm khụng iu tra, truy t, xột x
mt v ỏn no theo th tc ny. Do vy, vic
ỏp dng th tc ny cũn nhiu bt cp cn
c khc phc.
Nguyờn nhõn ca s khụng ỏp dng th
tc rỳt gn gii quyt v ỏn hỡnh s l do
ngi trỏch nhim; nhng quy nh ca
* Ging viờn chớnh Khoa lut hỡnh s
Trng i hc Lut H Ni nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè 11/2007 51
BLTTHS về thủ tục rút gọn chưa được rõ
ràng, đầy đủ. Mặt khác, lại chưa có văn bản
hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng những quy
định của BLTTHS về việc điều tra, truy tố
theo thủ tục rút gọn, cụ thể như sau:
Thứ nhất, thời hạn điều tra theo thủ tục
rút gọn là 12 ngày kể từ ngày ra quyết định
khởi tố vụ án. Trong thời hạn đó cơ quan
điều tra phải tiến hành một loạt các hành vi
tố tụng như: Ra quyết định khởi tố vụ án
ổn vì thời hạn nghiên cứu hồ sơ để ra quyết
định truy tố quá ngắn so với thời hạn gia
quyết định truy tố bị can và chuyển hồ sơ
cho toà án.
Thứ ba, thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ
tục rút gọn theo quy định tại khoản 1 Điều
324 BLTTHS là bảy ngày. Nếu vụ án được
tiến hành theo thủ tục bình thường thì quyết
định đưa vụ án ra xét xử phải được giao cho
bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ và
người bào chữa chậm nhất là mười ngày
trước khi mở phiên toà.
(4)
Đối với thủ tục rút
gọn BLTTHS lại không quy định thời hạn
này nhưng thời hạn quy định theo thủ tục
thông thường không thể áp dụng được. Theo
khoản 1 Điều 324 BLTTHS thì trong thời
hạn bảy ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ
án, thẩm phán được phân công chủ toạ phiên
toà phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử
chứ không quy định phải giao quyết định
đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo trong thời hạn
bao nhiêu ngày kể từ ngày ra quyết định như
đối với vụ án bình thường. Như vậy, toà án
có thể giao quyết định đưa vụ án ra xét xử
cho bị cáo bất cứ thời điểm nào miễn là
trước khi mở phiên toà đều được coi là
không vi phạm thủ tục tố tụng. Nếu giao
quyết định đưa vụ án ra xét xử cận ngày quá
sát chứ không phụ thuộc vào toà án. Tuy
nhiên, trong trường hợp viện kiểm sát trả hồ
sơ để điều tra bổ sung hoặc tạm đình chỉ vụ
án theo quy định tại điểm b và điểm c khoản
1 Điều 323 BLTTHS thì viện kiểm sát phải
ra quyết định huỷ bỏ quyết định áp dụng thủ
tục rút gọn và vụ án được giải quyết theo thủ
tục chung. Trong trường hợp toà án trả hồ sơ
để điều tra bổ sung hoặc tạm đình chỉ vụ án
theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1
Điều 324 BLTTHS thì toà án chuyển hồ sơ
cho viện kiểm sát và vụ án được giải quyết
theo thủ tục chung. Có thể thấy rằng, do
chưa có quy chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ
quan điều tra, viện kiểm sát và toà án trong
việc điều tra, truy tố, xét xử đối với những
vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ
tục rút gọn nên việc áp dụng thủ tục này
trong thực tế còn hạn chế.
Thứ năm, điều kiện áp dụng thủ tục rút
gọn được quy định trong BLTTHS còn có
điểm chưa hợp lí. Ngoài ba điều kiện được
quy định tại khoản 1, 2, 3 thì khoản 4 Điều
319 BLTTHS quy định “người phạm tội
phải có căn cước, lai lịch rõ ràng”. Xác
minh căn cước, lai lịch của người phạm tội
là trách nhiệm của cơ quan điều tra và trong
trường hợp cần thiết cơ quan điều tra có thể
uỷ thác cho cơ quan điều tra khác
(5)
là ba ngày kể từ ngày nhận được quyết định. nghiên cứu - trao đổi
tạp chí luật học số 11/2007 53
Khiu ni c gi n vin kim sỏt ó ra
quyt nh ỏp dng th tc rỳt gn v phi
c gii quyt trong thi hn ba ngy k t
ngy nhn c khiu ni. Nh vy, nu
khiu ni c chp nhn hay khụng chp
nhn thỡ v ỏn s c gii quyt theo th tc
no cng cha c quy nh rừ rng. Tuy
nhiờn, nu khiu ni c chp nhn thỡ v ỏn
phi c gii quyt theo th tc bỡnh thng
nhng thi hn iu tra, truy t s c tớnh
nh th no m bo cho vic tin hnh t
tng ỳng vi tinh thn ca BLTTHS m
khụng nh hng n vic bo v quyn v
li ớch hp phỏp ca nhng ngi tham gia t
tng. Trờn thc t, nu quyt nh ỏp dng
th tc rỳt gn b khiu ni v vic gii quyt
khiu ni dự cú kp thi, ỳng quy nh ca
BLTTHS thỡ cng mt 6 ngy m thi hn
truy t ti a ch l bn ngy nu khiu ni
khụng c chp nhn.
Th by, BLTTHS cha cú quy nh v
s tham gia ca ngi bo cha trong th tc
rỳt gn. Nu ngi bo cha lm th tc
tham gia bo cha nh i vi cỏc v ỏn
- V thi hn ỏp dng th tc rỳt gn:
m bo cho vic tin hnh cỏc hot ng
iu tra, truy t v xột x theo th tc rỳt
gn cú hiu qu ng thi to iu kin cho
nhng ngi tham gia t tng nht l ngi
b tm gi, b can, b cỏo thc hin tt
quyn v ngha v ca h, cn quy nh thi
hn iu tra, truy t v xột x theo th tc
rỳt gn l 45 ngy ch khụng ch l 30 ngy
nh hin nay.
- V thm quyn quyt nh ỏp dng th
tc rỳt gn: Theo quy nh ca BLTTHS thỡ
c quan iu tra ch cú quyn ngh vin
kim sỏt ra quyt nh ỏp dng th tc rỳt
gn ch khụng cú quyn quyt nh ỏp
dng th tc rỳt gn. Vic cú ỏp dng th
tc rỳt gn hay khụng li hon ton ph
thuc v vin kim sỏt. Tc l trờn c s
ngh ca c quan iu tra, vin kim sỏt ra
quyt nh ỏp dng th tc rỳt gn. iu
ny khụng nhng khụng gin lc c th
tc m cũn phc tp thờm. Do vy, theo nghiên cứu - trao đổi
54 tạp chí luật học số 11/2007
chỳng tụi cn quy nh theo hng c
quan iu tra cú quyn ra quyt nh ỏp
dng th tc rỳt gn khi v ỏn cú iu
tc rỳt gn i vi ti phm ớt nghiờm trng
õy l quy nh cn c cõn nhc v xem
xột (khon 3 iu 319 BLTTHS). Thc tin
iu tra, truy t, xột x cho thy tớnh phc
tp ca v ỏn khụng phi lỳc no cng ph
thuc vo loi ti phm ớt nghiờm trng,
nghiờm trng, rt nghiờm trng hay c bit
nghiờm trng. Do vy, m bo tớnh kp
thi v khn trng trong quỏ trỡnh t tng
nờn b sung khon 3 iu 319 BLTTHS
theo hng: Th tc rỳt gn ch c ỏp
dng khi cú cỏc iu kin sau õy: Ti
phm ó thc hin l ti phm ớt nghiờm
trng, nghiờm trng.
- V khiu ni i vi quyt nh ỏp
dng th tc rỳt gn: Cn b sung iu 320
BLTTHS theo hng quy nh rừ thi hn
iu tra, truy t, xột x trong trng hp
khiu ni c chp nhn hoc khụng c
chp nhn.
- V vn tham gia t tng ca ngi
bo cha trong th tc rỳt gn: to iu
kin cho ngi b tm gi, b can, b cỏo bo
v quyn v li ớch hp phỏp ca mỡnh cng
nh ngi bo cha tham gia t tng cú hiu
qu, cn b sung thờm iu lut quy nh v
vn ny vi ni dung gin lc mt s
th tc ngi bo cha cú th tham gia
mt cỏch kp thi, chng hn, nu c b
can hoc thõn nhõn ca h yờu cu mi lut
BLTTHS hiện hành thì trong giai đoạn điều
tra, khi kết thúc điều tra, cơ quan điều tra
không phải làm bản kết luận điều tra mà ra
quyết định đề nghị truy tố và gửi hồ sơ cho
viện kiểm sát. Trong giai đoạn truy tố, viện
kiểm sát không phải làm bản cáo trạng mà ra
quyết định truy tố bị can trước toà án bằng
quyết định truy tố. Trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm thì ngoài việc rút ngắn thời hạn chuẩn
bị xét xử, mọi thủ tục đều tiến hành như đối
với các vụ án thông thường. Chúng tôi cho
rằng BLTTHS nên quy định thành phần hội
đồng xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn chỉ
cần một thẩm phán mà không cần phải có
thêm hai hội thẩm như đối với các vụ án xét
xử theo thủ tục thông thuờng. Quy định theo
hướng này vừa tạo điều kiện cho toà án chủ
động trong việc sắp xếp lịch xét xử đồng
thời khắc phục tình trạng thiếu hội thẩm
tham gia phiên toà nhưng vẫn đảm bảo được
chất lượng xét xử.
- Về việc giao các quyết định tố tụng cho
bị can, bị cáo. Để bảo đảm quyền và lợi ích
hợp pháp của bị can, bị cáo và áp dụng thống
nhất những quy định về thủ tục rút gọn trong
việc giải quyết vụ án hình sự, BLTTHS cần
bổ sung quy định về thời hạn giao quyết định
truy tố cho bị can, quyết định đưa vụ án ra
xét xử cho bị cáo.
Tóm lại, thủ tục rút gọn có nhiều tính ưu
dựng BLTTHS cho những năm sau 2010”, Tạp chí
kiểm sát số 15/2005, tr.18.