Quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự - Pdf 34

BÀI LÀM
A/ ĐẶT VẤN ĐỀ:
Qua quá trình học tập, cũng như tìm hiểu thực tế ta thấy vấn đề thủ tục trong
tố tụng hình sự, là một vấn đề không thể thiếu khi giải quyết một vụ án hình sự.
Vấn đề này được quy định rất rõ ràng và cụ thể trong Bộ luật hình sự năm 2003.
Khi tìm hiểu Bộ luật hình sự ta thấy, ngoài việc quy định các “thủ tục tố tụng
chung”, các nhà lập pháp còn quy định các “thủ tục đặc biệt” cụ thể tại Phần thứ
bảy (gồm các chương từ Chương XXXII – Chương XXXV). Việc quy định về thủ
tục rút gọn là căn cứ pháp lý cho các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền giải
quyết nhanh chóng, kịp thời nhiều vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng, có tính chất
quả tang, đơn giản, rõ ràng. Thủ tục này đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng
chống tội phạm một cách kịp thời, góp phần giải quyết tình trạng tồn đọng án kéo
dài và việc vi phạm các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thời hạn giải quyết
vụ án; khắc phục tình trạng quá tải trong các trại giam và những khó khăn trong tổ
chức tạm giữ, tạm giam...
Việc giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn tạo điều kiện để những thiệt hại do
hành vi phạm tội gây ra nhanh chóng được khắc phục, góp phần bảo đảm lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.
Thủ tục rút gọn đáp ứng yêu cầu của nhân dân là xử lý kịp thời, chính xác
các hành vi phạm tội và người phạm tội, qua đó phát huy tác dụng giáo dục ý thức
pháp luật trong nhân dân, góp phần vào việc phòng ngừa tội phạm.
Thủ tục rút gọn tạo điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng tiết kiệm
được thời gian, tiền bạc, công sức trong việc giải quyết những vụ án đơn giản, rõ
ràng, ít nghiêm trọng, tập trung vào việc giải quyết những vụ án nghiêm trọng,
phức tạp hơn; đồng thời cũng tiết kiệm được thời gian, chi phí cho những người


tham gia tố tụng, giúp họ nhanh chóng ổn định cuộc sống và tham gia vào các quan
hệ pháp luật khác.
Với ý nghĩa to lớn trên, em đã lựa chọn đề tài: “ Quy định về điều kiện áp
dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự” làm đề tài cho bài tập lớn của mình.



thể...Đây là một trong những điều kiện cần thiết để có thể giải quyết vụ án nhanh
chóng, thuận lợi và chính xác.
- Điều kiện thứ hai: Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng.
Theo hướng dẫn tại Thông tư số 10/TATC năm 1974: “Tội phạm đơn giản, rõ
ràng là: Vụ án không có các tình tiết phải mất thì giờ điều tra, xác minh, bị cáo đã
nhận tội và trong vụ án chỉ có một hoặc hai bị cáo”.
Có thể hiểu sự việc phạm tội đơn giản là những sự việc mà vấn đề chứng minh
trong vụ án không phức tạp và dễ xác định. Các tình tiết của hành vi phạm tội đơn
giản; vụ án thường ít bị cáo hoác có thể có nhiều bị cáo nhưng không phải trường
hợp phạm tội có tổ chức hoặc đồng phạm phức tạp, khó xác định vai trò, vị trí của
từng đối tượng; lỗi, năng lực trách nhiệm hình sự, động cơ, mục đích phạm tội rõ
ràng. Việc giải quyết vụ án không liên quan đến nhiều cấp, nhiều nghành, đến
chính sách dân tộc, tôn giáo, phong tục tập quán hay những vấn đề xã hội phức tạp
khác.
Chứng cứ rõ ràng là những chứng cứ đã được thu thập tương đối đầy đủ ngay từ
đầu, thông qua biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai cuả người bị hại,
người trực tiếp chứng kiến sự việc phạm tội, các tang vật thu được ở hiện
trường...Các chứng cứ này không chỉ đầy đủ mà còn phải thống nhất và đảm bảo
giá trị chứng minh.
Những trường hợp phạm tội quả tang nhưng không đảm bảo điều kiện tính chất
của sự việc phạm tội đơn giản, rõ ràng thì không áp dụng thủ tục rút gọn.
- Điều kiện thứ ba: Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng.
Theo quy định tại Điều 8 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009: “Tội
phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao
nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 3 năm tù...”. Dấu hiệu về mặt nội
dung chính trị - xã hội của loại tội này là tính nguy hại không lớn cho xã hội, dấu
hiệu về mặt hậu quả pháp lý của loại tội này có thể là phải chịu hình phạt đến mức


án hình sự ít quan trọng, phạm tội quả tang, đơn giản, rõ ràng,( ) nay gọi là thủ tục
rút gọn và giành một chương quy định về thủ tục này nhưng hiện nay ít được các
cơ quan tiến hành tố tụng quan tâm, chú ý đến việc áp dụng để giải quyết vụ án
hình sự. Cùng với công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước trên mọi lĩnh vực
trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế, Nghị quyết số
48-NQ/TƯ ngày 25/5/2005 về chiến lược xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TƯ
ngày 2/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ việc cần phải
tiếp tục sửa đổi, bổ sung nhằm tiếp tục hoàn thiện BLTTHS, nâng cao chất lượng
công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành
tố tụng. Những quy định của BLTTHS về thủ tục rút gọn cũng cần phải được
nghiên cứu sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu. Nhìn chung, áp dụng thủ tục rút
gọn góp phần vào việc giải quyết nhanh chóng vụ án hình sự và tránh tình trạng
tồn đọng án. Quá trình tố tụng theo thủ tục rút gọn được quy định tại BLTTHS
năm 2003 chỉ kéo dài ba mươi ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự,
giúp cơ quan tố tụng nhanh chóng giải quyết vụ án hình sự; bị can, bị cáo không
phải chờ lâu, không bị tạm giam kéo dài… Mặt khác, việc áp dụng thủ tục này còn
tiết kiệm được thời gian, chi phí… trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Theo quy định tại Điều 319 BLTTHS thì, thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng khi
có đủ bốn điều kiện là: Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang; sự việc
phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm
trọng; người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng. Tuy nhiên, thủ tục rút gọn lại
chỉ được áp dụng trong quá trình điều tra và truy tố chứ không áp dụng trong quá
trình xét xử. Do vậy, tại phiên toà xét xử đối với những vụ án được điều tra, truy
tố, xét xử theo thủ tục rút gọn lại được tiến hành như đối với các vụ án tiến hành
theo thủ tục bình thường.( )..


- Thứ hai: Sau hơn bốn năm thi hành BLTTHS năm 2003 (từ ngày 1/7/2004 đến
nay), hầu như thủ tục này ít được áp dụng, thậm chí có cơ quan tiến hành tố tụng ở

của họ và người bào chữa chậm nhất là mười ngày trước khi mở phiên toà.( ) Đối
với thủ tục rút gọn thì BLTTHS lại không quy định thời hạn này nhưng thời hạn
quy định theo thủ tục thông thường thì không thể áp dụng được. Theo khoản 1
Điều 324 BLTTHS thì, trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án,
thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà phải ra quyết định đưa vụ án ra xét
xử…chứ không quy định phải giao quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo trong
thời hạn bao nhiêu ngày kể từ ngày ra quyết định như đối với vụ án bình thường.
Như vậy, toà án có thể giao quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo bất cứ thời
điểm nào miễn là trước khi mở phiên toà đều được coi là không vi phạm. Nếu giao
quyết định đưa vụ án ra xét xử cận ngày quá thì bị cáo không có thời gian để mời
người bào chữa. Muốn bảo vệ cho thân chủ có hiệu quả ngoài việc nghiên cứu hồ
sơ, sắp xếp lịch để tham gia phiên toà, luật sư còn phải gặp gỡ, trao đổi với thân
chủ, trao đổi, đề xuất với cơ quan tiến hành tố tụng khi cần thiết. Với thời gian điều
tra, truy tố, xét xử theo thủ tục rút gọn như trên thì người bào chữa khó có thể làm
thủ tục kịp để bảo vệ thân chủ. Điều này dẫn đến việc lúng túng khi thực hiện việc
áp dụng thủ tục rút gọn. – Việc áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định của BLTTHS
năm 2003 lại không phải là bắt buộc nên mặc dù vụ án có đủ điều kiện để áp dụng
thủ tục này nhưng cơ quan tiến hành tố tụng không áp dụng thì cũng không phải là
vi phạm thủ tục tố tụng. Khoản 1 Điều 320 BLTTHS quy định: “Sau khi khởi tố vụ
án, theo đề nghị của cơ quan điều tra hoặc xét thấy vụ án có đủ các điều kiện quy
định tại Điều 319 của Bộ luật này, Viện kiểm sát có thể ra quyết định áp dụng thủ
tục rút gọn”. Như vậy có thể nói vụ án có điều tra, truy tố, xét xử theo thủ tục rút
gọn hay không hoàn toàn phụ thuộc vào cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chứ không
phụ thuộc vào toà án. Tuy nhiên, nếu trường hợp Viện kiểm sát trả hồ sơ để điều


tra bổ sung hoặc tạm đình chỉ vụ án theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1
Điều 323 BLTTHS thì Viện kiểm sát phải ra quyết định huỷ bỏ quyết định áp dụng
thủ tục rút gọn và vụ án được giải quyết theo thủ tục chung. Hoặc trong trường hợp
toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc tạm đình chỉ vụ án theo quy định tại điểm

cũng hiểu rằng, nếu khiếu nại được chấp nhận thì vụ án phải được giải quyết theo
thủ tục bình thường nhưng thời hạn điều tra, truy tố sẽ được tính như thế nào để
đảm bảo cho việc tiến hành tố tụng đúng với tinh thần của BLTTHS mà không ảnh
hưởng gì đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố
tụng. Thực tế, nếu quyết định áp dụng thủ tục rút gọn bị khiếu nại và việc giải
quyết khiếu nại dù có kịp thời, đúng quy định của BLTTHS thì cũng mất 6 ngày,
mà thời hạn truy tối đa chỉ là bốn ngày, nếu khiếu nại không được chấp nhận. –
BLTTHS chưa có quy định về sự tham gia của người bào chữa. Nếu người bào
chữa cứ làm thủ tục tham gia bào chữa như đối với các vụ án bình thường thì họ
khó có thể bào chữa kịp thời và hiệu quả, vì thời hạn điều tra chỉ có 12 ngày mà
việc bị can tiến hành mời được người bào chữa, người bào làm thủ tục xin được
cấp giấy chứng nhận người bào chữa thì cũng mất mấy ngày rồi. Ngoài những lí do
trên, việc cơ quan tiến hành tố tụng ngại, không áp dụng thủ tục rút gọn để giải
quyết vụ án hình sự, kể cả trường hợp có đủ điều kiện để có thể áp dụng. Đó là,
nhận thức của cán bộ điều tra trong việc áp dụng thủ tục rút gọn. Có ý kiến cho
rằng, không bị áp lực về lượng án thì không việc gì phải áp dụng thủ tục rút gọn
một cách gấp gáp như vậy. Họ cho rằng, nếu thời gian ngắn như vậy thì dễ dẫn đến
sai sót và nếu không may lại làm oan người vô tội thì trách nhiệm rất lớn . Do đó,
cứ theo thủ tục bình thường để điều tra, truy tố, xét xử cho cẩn thận vẫn tốt hơn.
- Thứ ba: Từ việc phân tích những bất cấp nêu trên cho thấy, thủ tục rút gọn là
một trong những vấn đề cơ bản cần được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp
với xu thế hội nhập và tiến trình cải cách tư pháp, để từ năm 2007 đến năm 2010


có thể thông qua. Nếu tuyệt đối hoá điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn như hiện
nay…thì hầu như không thể thực hiện được.( ) Để khắc phục những bất cập nêu
trên, theo chúng tôi cần sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLTTHS theo hướng
sau: – Đối với thời hạn áp dụng thủ tục rút gọn: Để đảm bảo cho việc tiến hành các
hoạt động điều tra, truy tố và xét xử theo thủ tục rút gọn theo có hiệu quả, đồng
thời tạo điều kiện cho những người tham gia tố tụng nhất là người bị tạm giữ, bị

trương trong quá trình tố tụng nên bổ sung điểm 3 Điều 319 theo hướng: Thủ tục
rút gọn chỉ được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây: Tội phạm đã thực hiện là
tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng. – Đối với việc khiếu nại quyết định áp
dụng thủ tục rút gọn: cần bổ sung thêm quy định vào Điều 320 BLTTHS trong đó
quy định rõ thời hạn điều tra, truy tố, xét xử trong trường hợp khiếu nại được chấp
nhận hoặc không được chấp nhận. – Đối với vấn đề tham gia tố tụng của người bào
chữa trong thủ tục rút gọn: Để tạo điều kiện cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như người bào chữa tham gia tố
tụng có hiệu quả, cần bổ sung thêm một điều luật quy định về vấn đề này với nội
dung giản lược một số thủ tục để người bào chữa có thể tham gia một cách kịp thời
như, nếu được bị can hoặc thân nhân của họ yêu cầu mời luật sư và bị can đã đồng
ý thì luật sư không cần phải xuất trình giấy chứng nhận người bào chữa ngay mà
chỉ cần giấy giới thiệu của Văn phòng luật sư, xuất trình thẻ luật sư là có thể tham
gia tố tụng nhưng chậm nhất là 3 ngày luật sư phải xuất trình giấy chứng nhận
người bào chữa. – Những người tiến hành tố tụng đối với vụ án được giải quyết
theo thủ tục rút gọn cũng cần phải được chuyên nghiệp hoá để đáp ứng yêu cầu của
việc giải quyết vụ án theo thủ tục này. Hiện nay do chưa có hướng dẫn cụ thể về
việc áp dụng thủ tục rút gọn và trong BLTTHS còn có những quy định quá chung
chung, chưa rõ ràng nên phần lớn các cơ quan tiến hành tố tụng không quan tâm
đến việc áp dụng thủ tục này. Nếu có một đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên,


thẩm phán được phân công chịu trách nhiệm về thủ tục này thì họ mới quan tâm
đến việc áp dụng nó trong thực tế. – Đối với thành phần hội đồng xét xử: Thủ tục
rút gọn không có nghĩa là chỉ rút ngắn thời hạn điều tra, truy tố, xét xử mà nó còn
giản lược một số thủ tục. Theo quy định của BLTTHS hiện hành thì, trong giai
đoạn điều tra, khi kết thúc điều tra, cơ quan điều tra không phải làm bản kết luận
điều tra mà ra quyết định đề nghị truy tố và gửi hồ sơ cho viện kiểm sát. Trong giai
đoạn truy tố, viện kiểm sát không phải làm bản cáo trạng mà ra quyết định truy tố
bị can trước toà án bằng quyết định truy tố. Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm thì

Bên cạnh việc em đã cố gắng tận dụng những kiễn thức đã được học từ thày cô,
sách vở và sự tìm tòi tài liệu để hoàn thiện phần đề tài mà em đã lựa chọn. Tuy
nhiên, do đây là một trong những đề tài khó, rộng và việc đào sâu kiến thức còn
nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót trong bố cục trình bày,
cũng như trong bài làm của mình.
Chính vì vậy, em rất mong nhận được sự giúp đỡ của thày cô để đề tài mà em
quan tâm được sáng tỏ và bài làm của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình: “Luật tố tụng hình sự Việt nam”, trường Đại học luật Hà Nội,
2.
3.
4.
5.
6.

Nxb: Tư pháp, HN-2006.
Bộ luật Hình sự năm 2009.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.
Thông tư số 10/TATC năm 1974.
Nghị quyết số 08/NQ/TC của Bộ chính trị.
Nghị quyết số 48/NQ/TC ngày 25/5/2005 về chiến lược xây dựng, hoàn

thiện hệ thống pháp luật...
7. Nghị quyết số 49/NQ/TC ngày 2/6/2005 về chiến lược cải cách Tư pháp...


MỤC LỤC


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status