Xây dựng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự việt nam - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ THU VÂN

XÂY DỰNG THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG
TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2017
i


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ THU VÂN

XÂY DỰNG THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG
TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số : 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS.Lê Thu Hà

Hà Nội – 2017
ii


KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ....................................................................................... 37
CHƢƠNG 2. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM
2015 VỀ THỦ TỤC RÚT GỌN............................................................................. 39
2.1. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn .................................................................... 39
2.2. Về cấp xét xử theo thủ tục rút gọn. .................................................................. 44
2.3. Về thành phần xét xử khi giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn. ..................... 45
2.4. Về thời hạn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn. ........................................... 46
iv


2.4.1. Thời hạn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp sơ thẩm. ....... 46
2.4.2. Thời hạn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp phúc thẩm. ... 48
2.5. Về trình tự thủ tục giải quyết vụ án.................................................................. 49
2.5.1. Trình tự thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp sơ thẩm. ........................................... 50
2.5.1.1. Thụ lý vụ án theo thủ tục rút gọn và thời điểm áp dụng thủ tục rút gọn. .. 50
2.5.1.2. Phiên tòa xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn............................................ 53
2.5.2. Trình tự thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp phúc thẩm. ....................................... 57
2.5.2.1. Về quyền kháng cáo, kháng nghị. .............................................................. 57
2.5.2.2. Lập hồ sơ vụ án phúc thẩm ........................................................................ 58
2.5.2.3. Phiên tòa xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn. ...................................... 59
2.6. Về cơ chế chuyển hóa từ thủ tục rút gọn sang thủ tục thông thường .............. 61
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ....................................................................................... 65
CHƢƠNG 3. TỔ CHỨC THỰC THI VÀ TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CHẾ
ĐỊNH THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ .......... 67
3.1. Thực tiễn giải quyết vụ án dân sự liên quan đến yêu cầu xét xử theo thủ tục rút
gọn ............................................................................................................................ 67
3.2. Tổ chức thực thi các quy định thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự .... 74
3.3. Tiếp tục hoàn thiện quy định về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự. ............. 79
3.3.1. Nguyên tắc và yêu cầu hoàn thiện các quy định về thủ tục rút gọn trong pháp
luật tố tụng dân sự Việt Nam .................................................................................. 79

Bộ luật tố tụng dân sự

TANDTC

:

Tòa án nhân dân Tối cao

TAND

:

Tòa án nhân dân

HĐTP

:

Hội đồng thẩm phán

VKSND

:

Viện kiểm sát nhân dân

vi


PHẦN MỞ ĐẦU

lập pháp nước ta. Bởi lẽ thiết lập thủ tục tố tụng dân sự rút gọn sẽ giúp loại bỏ sự
rườm rà, bảo đảm tính linh hoạt, mềm dẻo của thủ tục tố tụng dân sự.
Ngày 25/11/2015, Quốc hội khóa XIII thông qua Bộ luật tố tụng dân sự
(BLTTDS) số 92/2015/QH13 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016, thay thế
cho BLTTDS năm 2004 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm
2011. BLTTDS năm 2015 dành hai chương riêng là Chương XVIII và Chương XIX
thuộc Phần thứ tư để quy định về giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn. Đây
là sự đổi mới, thể hiện sự tiến bộ trong kỹ thuật lập pháp, phù hợp yêu cầu thể chế
hóa đường lối cải cách tư pháp về thủ tục rút gọn đối với những vụ án đơn giản,
chứng cứ rõ ràng, giá trị tranh chấp thấp , là sự cụ thể hóa quy định của HP năm
2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (Luật tổ chức TAND) năm 2014 về việc
Tòa án xét xử tập thể, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn, phù hợp với yêu
cầu của với thực tiễn giải quyết các tranh chấp dân sự trong thời gian qua.
Tuy nhiên những nghiên cứu về thủ tục tố tụng rút gọn trong tố tụng dân sự
Việt Nam chưa nhiều, các quan điểm khoa học về vấn đề này còn chưa thống nhất
do xuất phát từ các phương diện nghiên cứu khác nhau.
Với những lý do trên luận văn thạc sỹ với đề tài “Xây dựng thủ tục rút gọn
trong tố tụng dân sự Việt Nam” mong muốn đưa ra nghiên cứu cơ bản và toàn diện
về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này, đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu, luận văn, báo cáo, bài viết trên các báo, tạp chí,... đề
cập đến những khía cạnh khác nhau của chế định thủ tục rút gọn trong tố tụng dân

2


sự thời gian qua. Có thể phân loại các công trình nghiên cứu này thành ba nhóm lớn
như sau:
- Nhóm các luận văn:

và giải pháp, năm 2014” do TS. Trần Anh Tuấn làm chủ nhiệm đề tài; và “Báo cáo
nghiên cứu và đề xuất cơ chế, mô hình giải quyết tranh chấp dân sự theo thủ tục rút
gọn tại Tòa án Việt Nam” là công trình nghiên cứu do nhóm chuyên gia của Dự án
Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền thực hiện năm 2015. Các báo cáo này
đã phân tích mô hình tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay, một số vấn đề lý luận về thủ
tục rút gọn giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh nghiệm của một số nước áp dụng
thủ tục rút gọn, phân tích kết quả điều tra xã hội học về một số vấn đề liên quan đến
thủ tục rút gọn và đề xuất mô hình thủ tục rút gọn tại Tòa án Việt Nam.
- Nhóm các bài viết trên các báo, tạp chí:
Các bài báo, tạp chí chuyên ngành luật như “Sự cần thiết phải quy định thủ
tục rút gọn trong pháp luật TTDS” của Ngô Anh Dũng (Tạp chí Tòa án nhân dân,
số 4/2002); “Thủ tục xét xử nhanh trong BLTTDS Pháp và yêu cầu xây dựng thủ tục
rút gọn trong BLTTDSVN” của ThS. Trần Anh Tuấn (Tạp chí dân chủ và pháp luật,
số 2/2004); “Cần bổ sung thủ tục đơn giản vào BLTTDS” của Cao Hồng Sơn (Tạp
chí Tòa án nhân dân, tháng 11/2010); “Pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập
quốc tế và phát triển bền vững” của TS. Trần Anh Tuấn (Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, 2009); “ Giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng theo thủ tục rút gọn”
của Đặng Thanh Hoa (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 8/2013) và “Khả năng áp
dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự ở Việt Nam” Tạp chí Viện nhà nước và
pháp luật số 12/2011; “Vấn đề áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử và thành lập Tòa
giản lược trong hệ thống Tòa án nhân dân” – Chánh án TAND tối cao Trương Hòa
Bình (Tạp chí TAND số 04/2014), “Cần có quy định thủ tục rút gọn trong BLTTDS”
4


– Đỗ Văn Chỉnh và Phạm Thị Hằng (Tạp chí TAND số 03/2013); “Bổ sung thủ tục
rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự (sửa đổi)” của TS. Lê Thu Hà (Tạp chí Nhà
nước và Pháp luật số 2/2015); “Một vài ý kiến về hòa giải khi xây dựng thủ tục tố
tụng dân sự rút gọn ở Việt Nam” của TS. Nguyễn Thị Thu Hà(Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật số 2/2015); “Một số vấn đề về thủ tục rút gọn quy định tại Bội luật tố tụng

tiễn giải quyết một số loại tranh chấp tại Tòa án Việt Nam để làm cơ sở định hướng
hoàn thiện chế định thủ tục rút gọn trong BLTTDS Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tác giả đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Phân tích và làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng thủ
tục rút gọn trong tố tụng dân sự hiện nay; yêu cầu của một mô hình thủ tục rút gọn
cần phải có.
- Phân tích nội dung của chế định thủ tục rút gọn trong BLTTDS năm 2015.
- Phân tích thực tiễn giải quyết các vụ án đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục
rút gọn tại Tòa án Việt Nam; đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục
rút gọn trong BLTTDS Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số vấn đề lý luận về thủ tục rút gọn, cơ
sở quy định thủ tục rút gọn trong BLTTDS Việt Nam và thực tiễn các hoạt động tố
tụng dân sự của Tòa án để giải quyết một số loại vụ án nhằm làm rõ sự cần thiết
phải xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn. Những quy định của pháp luật tố tụng
dân sự Việt Nam bao gồm cả thủ tục tố tụng thông thường và thủ tục tố tụng rút gọn
qua các thời kỳ. Đồng thời, tác giả cũng có sự nghiên cứu, so sánh với thủ tục rút
gọn trong hệ thống pháp luật tố tụng dân sự một số nước trên thế giới.
6


4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu toàn bộ hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt
Nam. Đồng thời, luận văn có mở rộng nghiên cứu về vấn đề này ở một số quốc gia
khác để có sự so sánh và đối chiếu với pháp luật Việt Nam, từ đó tiếp thu những
điểm tiến bộ và phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp các phương pháp chủ yếu như

ĐỊNH THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ.

8


CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG
TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân
sự.
1.1.1 Khái niệm thủ tục tố tụng dân sự rút gọn.
- Thủ tục tố tụng.
Theo từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh: "tố tụng" là việc thưa kiện
(procès), "tố tụng pháp lý" là việc pháp luật quy định những thủ tục về cách tố tụng
(code deprocédure)"[47,tr.32]. Sách Tiếng nói nôm na của Lê Gia, dẫn giải 30.000
từ tiếng Việt thường dùng có liên quan đến từ Hán Việt (NXB Văn Nghệ TP HCM,
1999) giải thích chi tiết hơn: "Tố tụng" là vạch tội và đưa ra cửa công để phân giải
phải trái do chữ "tố" là vạch tội; chữ "tụng" là thưa kiện ở cửa công để xin phân
phải trái" [48,tr.1027,1028].
Hiểu một cách đơn giản: "Tố tụng" là việc thưa kiện ở tòa án.
Thời Pháp thuộc, người ta dùng chữ "tố tụng" để dịch chữ "procédure" (chữ
Pháp procédure hay chữ Anh procedure đều bắt nguồn từ chữ La tinh processus
nghĩa là quá trình, trình tự, thủ tục), như hai bộ luật Bắc kỳ dân sự, thương sự tố
tụng; Trung kỳ dân sự, thương sự tố tụng... Và trước năm 1975, ở miền Nam Việt
Nam cũng có Bộ luật Hình sự tố tụng, Bộ luật Dân sự và Thương sự tố tụng năm
1972.
Nhìn chung, các bộ luật tố tụng (Code de procédure) dù là Bộ luật tố tụng
hình sự (Code de procédure pesnale hoặc Code de procédure criminelle) hay Bộ luật
tố tụng dân sự (Code de procédure civile) đều là những hình thức pháp luật quy
định về thủ tục làm việc của các cơ quan Nhà nước và những người có liên quan khi
giải quyết, xử lý một vụ án.

10


các thủ tục được đơn giản hóa hơn so với thủ tục tố tụng thông thường, được áp
dụng trước các Tòa án theo thông luật hoặc trước các Tòa án có thẩm quyền chung
trong những trường hợp đặc biệt”.
BLTTDS của Pháp, Nga, Trung Quốc và Đài Loan đều có những quy định
về thủ tục ra lệnh thanh toán nợ với những khoản nợ có chứng cứ rõ ràng như có
khế ước vay nợ viết, nợ do cam kết nhận hoặc rút hối phiếu (LC), ký nhận một kỳ
phiếu…Ngoài ra, BLTTDS của những nước này và một số nước như Mỹ, Australia
và một số nước Châu Á có điều kiện gần gũi và tương đồng với Việt Nam như Nhật
Bản, Thái Lan, Hàn Quốc, Singapore… đều có những quy định về thủ tục giản đơn
đối với những vụ kiện có giá trị nhỏ (đòi món nợ nhỏ) do một Thẩm phán giải quyết
và phán quyết được đem ra thi hành ngay, đương sự không có quyền kháng cáo theo
thủ tục phúc thẩm hoặc hạn chế quyền kháng cáo phá án của đương sự [56, tr.53]
Ở Việt Nam, thủ tục rút gọn là một khái niệm mới và được du nhập từ thủ tục
tố tụng của các nước. Tuy nhiên, một số nội dung của thủ tục rút gọn đã từng được
thể hiện trong pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam ngay từ trước năm 1945 khi
quy định về giải quyết một số loại án có giá ngạch thấp bởi Tòa án cấp sơ thẩm và
không được phép kháng cáo. Trong nghiên cứu khoa học pháp lý ở Việt Nam, nhiều
khái niệm thủ tục tố tụng dân sự rút gọn đã được các nhà làm luật, các nhà nghiên
cứu luật học đưa ra. Theo GS. Nguyễn Huy Đẩu thì “Thủ tục giản lược (procédure
sommaire) là một thủ tục ít nệ thức, đỡ tốn kém, và mau chóng hơn, được nhà lập
pháp dự liệu như biệt lệ đối với thủ tục tố tụng thông thường”. Theo đó, thủ tục giản
lược được áp dụng đối với “…các việc kiện về đối nhân động sản có chứng khoán
không bị tranh nại, các đơn kiện này không có chứng khoán nhưng dưới 90.000
quan, các tố quyền bất động sản hoa lợi đồng niên dưới 8.000 quan, các đơn thỉnh
cầu tạm thời hoặc kiện về tiền thuê nhà, lúa ruộng” [34]. Khái niệm trên đã xác
định được điều kiện áp dụng và một vài đặc trưng của thủ tục rút gọn trong tố tụng
11


tương đối đầy đủ, đã chỉ ra thủ tục rút gọn chỉ áp dụng cho một số vụ án dân sự có
đủ điêu kiện nhất định với trình tự, thủ tục đơn giản hơn so với thủ tục tố tụng thông
thường và ý nghĩa của việc áp dụng thủ tục này trong thực tiễn.
Từ những phân tích trên, trong phạm vi luận văn có thể đưa ra khái niệm của
thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự như sau: Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn là loại
thủ tục tố tụng giản lược về thủ tục và rút ngắn về thời gian so với thủ tục tố tụng
dân sự thông thường, được áp dụng để giải quyết các vụ án dân sự có đủ điều kiện
nhất định theo quy định của BLTTDS nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời
nhưng vẫn bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự và quyền lợi
hợp pháp của các đương sự theo quy định của pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự
Qua việc nghiên cứu khái niệm thủ tục rút gọn, nhận thấy đây là một thủ tục
tố tụng đặc biệt trong tố tụng dân sự có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, rút ngắn về thời gian tố tụng.
Đặc trưng của thủ tục rút gọn so với thủ tục thông thường là có sự rút ngắn về
thời gian tố tụng. Pháp luật quy định một thời hạn tố tụng tối đa để tiến hành các
hoạt động tố tụng ở các giai đoạn tố tụng nhất định nhằm bảo đảm vụ án giải quyết
được chính xác, kịp thời và đúng pháp luật. Tuy nhiên, một số vụ án có các điều
kiện nhất định cho phép việc giải quyết nhanh hơn so với thời hạn thông thường,
nếu áp dụng thời hạn chung để giải quyết sẽ gây ra sự lãng phí về thời gian, tiền
bạc, công sức của cả đương sự và các cơ quan tiến hành tố tụng. Điều 126 và Điều
128 của BLTTDS Nga quy định, thời gian từ khi thụ lý đơn cho đến khi lệnh của
Tòa án có hiệu lực thi hành là 15 ngày (nếu người có nghĩa vụ phải thi hành không
phản đối), trong khi thời gian từ khi thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường cho đến
khi có bản án, quyết định của Tòa án trung bình mất khoảng 3 tháng đến 6 tháng.
Tại Trung Quốc, thời hạn giải quyết tranh chấp theo thủ tục rút gọn là không quá 03
13



thấp được coi là vụ kiện nhỏ và được giải quyết theo thủ tục giản lược, giá ngạch
thấp do từng tiểu bang quy định, cơ bản trong khoảng từ 2.500 USD đến 25.000
USD. Và ở Nhật Bản quy định các vụ kiện có giá trị dưới 900.000 JPY được giải
quyết theo thủ tục rút gọn [41, tr.44]. Như vậy, kinh nghiệm nước ngoài cho thấy
chỉ cần một tiêu chí giá ngạch thấp là đủ để vụ án được giải quyết theo thủ tục giản
lược hoặc thủ tục rút gọn. Giá ngạch bao nhiêu được coi là thấp phụ thuộc vào quy
định của từng nước và dựa trên tính khả thi của quy định về thủ tục rút gọn.
Ngoài tiêu chí giá ngạch thấp, kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy các tranh
chấp đơn giản, chứng cứ rõ ràng mà không phụ thuộc vào giá trị tranh chấp cũng
được giải quyết theo thủ tục rút gọn.
Ở Pháp, Điều 1405 BLTTDS Pháp và Luật số 81-1 ngày 2/1/1981 khuyến
khích tín dụng doanh nghiệp của Pháp, thủ tục ra lệnh thanh toán nợ là một thủ tục
giản đơn được thực hiện bởi Tòa án trong những trường hợp có yêu cầu về:(i)
khoản nợ có nguồn gốc từ một hợp đồng hoặc từ một nghĩa vụ theo điều lệ và là
một số tiền nhất định; nếu là do hợp đồng thì được xác định theo các điều khoản
của hợp đồng, kể cả điều khoản phạt (nếu có); (ii) Nợ do cam kết nhận hoặc rút hối
phiếu, ký nhận một kỳ phiếu, chuyển nhượng hoặc bảo lãnh các loại tín phiếu ấy
hoặc nhận chuyển nhượng một khoản nợ. Theo Điều 1425-1 BLTTDS Pháp, thủ tục
ra lệnh buộc thực hiện một công việc: nếu giá trị của trái vụ không vượt quá thẩm
quyền của Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp, đương sự có thể làm đơn đề nghị Tòa
sơ thẩm thẩm quyền hẹp cho thanh toán bằng hiện vật trái vụ phát sinh từ hợp đồng
giữa người không phải là thương nhân.
Ở nhiều tiểu bang của Hoa Kỳ, các vụ kiện về nợ không được thanh toán, tiền
thuê còn thiếu, hoàn trả tiền kỹ quỹ, tài sản bị hư hại hay bị thiệt hại, các hóa đơn

15


bác sỹ hoặc hóa đơn bệnh viện và một số tranh chấp đơn giản khác đều được coi là
các yêu cầu nhỏ và được giải quyết theo thủ tục rút gọn.

sẽ đơn giản hóa về trình tự, thủ tục hoặc giai đoạn tố tụng, giản lược một số thủ tục
không cần thiết như: không phải tiến hành thu thập chứng cứ, không phải hòa giải
khi đương sự không có yêu cầu; không có thủ tục tranh luận tại phiên tòa; không có
quyền kháng cáo trong một số trường hợp… Có quốc gia quy định đột phá ngay từ
khâu yêu cầu khởi kiện của đương sự theo hướng đương sự có thể trình bày trực
tiếp yêu cầu khởi kiện bằng miệng mà không cần phải làm đơn khởi kiện. Như Hàn
Quốc, nguyên đơn có thể đến Tòa án trực tiếp trình bày yêu cầu khởi kiện với cán
bộ thụ lý vụ án mà không cần làm đơn khởi kiện bằng văn bản, cán bộ thụ lý có
trách nhiệm ghi chép lại nội dung yêu cầu của nguyên đơn. Và ở Trung Quốc,
đương sự cũng có thể khởi kiện bằng miệng đối với loại vụ án đơn giản [41,tr.55].
Về trình tự tiến hành thủ tục rút gọn tại phiên tòa, các nước theo hệ thống
Thông luật cũng có những hình thức giải quyết tranh chấp thông qua phiên tòa
nhưng thủ tục được rút gọn nhằm giảm chi phí và thời gian giải quyết tranh chấp
tương tự như thủ tục rút gọn trong hệ thống dân luật. Vụ kiện sẽ được giải quyết
bằng một Thẩm phán, Thẩm phán có thể bỏ qua các bước không cần thiết và chỉ
tuyên phần quyết định của Tòa án về việc giải quyết vụ án, còn phần nội dung vụ
án, nhận định của Tòa án được ghi ngay trong biên bản phiên tòa.
Thứ năm, rút gọn về cấp xét xử
Về cơ chế kháng cáo phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm được giải
quyết theo thủ tục rút gọn quy định của các nước không giống nhau. Nhưng nhìn
chung, pháp luật tố tụng dân sự ở nhiều quốc gia không cho phép kháng cáo hoặc
cho phép kháng cáo phúc thẩm nhưng nội dung kháng cáo bị hạn chế ở việc chỉ cho
phép kháng cáo về áp dụng pháp luật của Tòa án sơ thẩm.
17


Ở Pháp, đương sự không có quyền kháng cáo phúc thẩm đối với bản án sơ
thẩm được giải quyết theo thủ tục rút gọn nếu giá ngạch của vụ án dưới 4.000 EUR.
Ở Đức, là những tranh chấp có giá ngạch dưới 6.000 EUR. Ở Trung Quốc, các phán
quyết sơ thẩm khi giải quyết theo thủ tục rút gọn có giá trị chung thẩm, đương sự

Tại Hoa Kỳ, đương sự có thể kháng cáo đối với quyết định trong vụ kiện nhỏ.
Tuy nhiên, đương sự chỉ được quyền kháng cáo nếu đủ chứng cứ cho rằng phán
quyết của Tòa án rõ ràng là sai.
Tại Nhật Bản, Điều 397 BLTTDS Nhật Bản quy định , phán quyết cuối cùng
của Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn không được kháng cáo lên Tòa phúc
thẩm. Trong thời hạn 02 tuần kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án, đương
sự có thể đưa ra yêu ầu phản đối quyết định đó. Trong trường hợp yêu cầu phản đối
hợp lệ, vụ kiện sẽ được khôi phục lại đến giai đoạn trước khi kết thúc việc tranh
luận và chuyển sang thủ tục thông thường.
1.1.3. Ý nghĩa của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự
Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn có ý nghĩa quan trọng không chỉ cho các
đương sự, Tòa án mà còn có ý nghĩa cho cả xã hội.
Thứ nhất, thủ tục rút gọn làm giảm nhẹ đáng kể gánh nặng chi phí tố tụng
cho đương sự.
Vì vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng nên Tòa án không cần tiến hành nhiều
thủ tục tố tụng mà gần như chỉ cần căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các đương
sự cung cấp nên không phát sinh các chi phí tố tụng như giám định, thẩm định, định
giá và các biện pháp thu thập chứng cứ khác, mặt khác, để tạo điều kiện cho người
dân khởi kiện để bảo vệ quyền lợi hợp pháp thay vì lựa chọn những cách tiêu cực để
giải quyết tranh chấp nên pháp luật của các quốc gia có quy định về thủ tục rút gọn

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status