các lý thuyết cổ điển về thưong mại quốc tế - Pdf 25

2.1. Các lý thuyết cổ điển về thương mại quốc tế
2.1.1. Quan điểm của trường phái trọng thương về thương mại quốc tế
Cho đến nay, nhiều quan điểm của các học giả trọng thương vẫn có ảnh hưởng lớn đến
chính sách thương mại của các quốc gia trên thế giới. Chính vì vậy, chúng ta cần có sự
nghiên cứu cụ thể về các quan điểm này.
a. Thương mại quốc tế và sự phồn thịnh của các quốc gia
Nghiên cứu kinh tế học nói chung, thương mại quốc tế nói riêng được coi là khởi đầu từ
các quan điểm của trường phái trọng thương vào các thế kỷ XVII và XVIII. Vào thời gian
đó, vàng và bạc được sử dụng với tư cách là tiền tệ và tạo nên kho của cải của các quốc
gia. Một quốc gia được coi là giàu có và hùng mạnh hơn nếu như có được càng nhiều
vàng bạc. muốn vậy, phải phát triển mạnh thương nghiệp, đặc biệt là ngoại thương và
trong ngoại thương phải thực hiện xuất siêu. Các học giả trọng thương lập luận rằng, đối
với một quốc gia, xuất khẩu là rất có ích vì nó kích thích sản xuất trong nước đồng thời
dẫn đến dòng kim loại quý đổ vào bổ sung cho kho của cải của quốc gia đó. Ngược lại,
nhập khẩu là gánh nặng cho quốc gia vì làm giảm nhu cầu đối với hàng sản xuất trong
nước, và hơn nữa dẫn tới sự thất thoát của của cải quốc gia do phải dùng vàng bạc chi trả
cho nước ngoài. Như vậy sức mạnh và sự giàu có của quốc gia sẽ tăng lên nếu quốc gia
đó xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu. Để đạt mục tiêu và sự thịnh vượng đó, các nhà trọng
thương còn đề nghị nhà nước can thiệp vào nền kinh tế thông qua luật pháp và các chính
sách kinh tế. Cụ thể là, về mặt chính sách, các học giả trọng thương kiến nghị nhà nước
phải thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch, theo đuổi chủ nghĩa dân tộc về kinh tế. Cụ thể
là, nhà nước phải hạn chế tối đa nhập khẩu, đồng thời khuyến khích sản xuất và xuất
khẩu thông qua các công cụ chính sách thương mại như thuế quan, trợ cấp…
b. Ý nghĩa của các quan điểm trọng thương
Các lập luận trên của trường phái trọng thương không phải là hoàn toàn vô lý. Trên thực
tế, khi năng lực sản xuất trong nước vượt quá mức cầu thì việc khuyến khích xuất khẩu
và hạn chế bớt nhập khẩu là điều đáng hoan nghênh. Cũng có khi quốc gia gặp khó khăn
trong thanh toán với nước ngoài cho nên mong muốn tạo ra được mức thặng dư trong
hoạt động ngoại thương để bù đắp thiếu hụt đó. Thậm chí ngay cả khi chưa có nhu cầu
tức thời về ngoại tệ nhưng quốc gia vẫn có thể mong muốn tích lũy càng nhiều ngoại tệ
càng tốt để đề phòng những bất trắc trong tương lai.

đây:
* Thế giới chỉ bao gồm hai quốc gia và hai mặt hàng
* Thương mại hoàn toàn tự do
* Chi phí vận chuyển là bằng không
* Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và được di chuyển tự do giữa các ngành sản xuất
trong nước nhưng không di chuyển được giữa các quốc gia
*Cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên tất cả thị trường
* Công nghệ sản xuất ở các quốc gia là như nhau và không đổi
b. Lợi ích từ chuyên môn hóa và trao đổi
Thời gian lao động cần thiết để sản xuất mỗi đơn vị thép và vải ở mỗi nước được cho
trong bảng 1.1 dưới đây:

Bảng 1.1. Mô hình đơn giản về lợi thế tuyệt đốiNhật Bản Việt Nam
Thép (giờ công/1 đơn vị sản phẩm) 2 6
Vải (giờ công/1 đơn vị sản phẩm 5 3

Khi chưa có thương mại, thế giới bao gồm hai thị trường biệt lập với hai mức giá tương
quan (hay tỷ lệ trao đổi nội địa) khác nhau. Mỗi nước đều sản xuất cả hai mặt hàng để
tiêu dùng. Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, Nhật Bản là nước có hiệu quả cao hơn (lợi thế
tuyệt đối) trong sản xuất thép vì để làm ra một đơn vị thép, nước này chỉ cần 2 giờ công
lao động. Ngược lại, Việt Nam có lợi thế tuyệt đối về sản xuất vải vì để sản xuất một đơn
vị vải Việt Nam chỉ cần 3 giờ công lao động, trong khi đó Nhật Bản lại cần đến 5 giờ
công lao động. Khi đó, theo quan điểm của lý thuyết lợi thế tuyệt đối, Nhật Bản nên tập
trung toàn bộ số lao động của mình để sản xuất thép, còn Việt Nam thì thực hiện chuyên
môn hóa sản xuất vải, và hai nước thực hiện trao đổi hàng hóa với nhau để thu được lợi
ích.
Động cơ chủ yếu của thương mại giữa hai nước là ở chổ, mỗi nước đều mong muốn tiêu

Lao động
120 0 0 120

Năng suất lao động (giờ
công/đv sản phẩm)
2 5 6 3

Khối lượng sản phẩm
60 0 0 40Rõ ràng là, nhờ chuyên môn hóa và trao đổi, sản lượng của toàn thế giới tăng lên không
chỉ đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của mỗi nước như trong trường hợp tự cung tự cấp
mà còn dôi ra một lượng nhất định. Vì vậy, mỗi nước có thể tăng lượng tiêu dùng cá nhân
cả hai mặt hàng và do đó trở nên sung túc hơn.
Tóm lại, lợi thế tuyệt đối không chỉ giúp mô tả hướng chuyên môn hóa và trao đổi giữa
các quốc gia, mà còn được coi là công cụ để các nước gia tăng phúc lợi của mình. Mô
hình thương mại nói trên có thể giúp giải thích cho phần nhỏ của thương mại quốc tế, cụ
thể là, nếu một quốc gia không có được điều kiện tự nhiên thích hợp để trồng càphê,
chuối… thì buộc phải nhập khẩu các sản phẩm này từ nước ngoài. Tuy nhiên, mô hình
này không giải thích được trường hợp tại sao thương mại vẫn có thể diễn ra khi một quốc
gia không có lợi thế tuyệt đối (hoặc ở mức bất lợi tuyệt đối) về tất cả các mặt hàng. Để
giải thích cho vấn đề này chúng ta cần dựa trên một khái niệm có tính chất khái quát hơn
- đó là khái niệm về lợi thế so sánh do David Ricardo đưa ra lần đầu tiên năm 1817.

2.1.3. Lý thuyết lợi thế so sánh
a. Khái niệm về lợi thế so sánh
Nếu như khái niệm lợi thế tuyệt đối được xây dựng trên cơ sở sự khác biệt về số lượng
lao động thực tế được sử dụng khác nhau ( hay nói cách khác, sự khác biệt về hiệu quả
sản xuất tuyệt đối), thì lợi thế so sánh lại xuất phát từ hiệu quả sản xuất tương đối. Trong

cả hai nước. Cụ thể là, tỷ lệ về chi phí lao động để sản xuất thép ở Nhật Bản so với Việt
Nam chỉ bằng 1/6, trong khi đó tỷ lệ tương ứng đối với sản xuất vải là 5/6. Điều đó chứng
tỏ : Nhật Bản có lợi thế tuyệt đối về cả hai mặt hàng, nhưng mức độ thuận lợi về sản xuất
thép lớn hơn mức độ thuận lợi về sản xuất vải nên nước này có lợi thế so sánh về mặt
hàng thép. Với cách lập luận tương tự, Việt Nam bất lợi tuyệt đối về cả hai mặt hàng,
nhưng do mức độ bất lợi về sản xuất vải nhỏ hơn mức độ bất lợi về sản xuất thép nên
Việt Nam có lợi thế so sánh về vải.
Lợi thế so sánh của mỗi nước có thể được xác định thông qua so sánh các mức giá cả
tương quan của thép và vải. Giá cả tương quan giữa hai mặt hàng là gúa cả của một mặt
hàng tính bằng số lượng mặt hàng kia. Trong mô hình Ricardo giá cả tương quan được
tính thông qua yếu tố trung gian là chi phí lao động. Trên cơ sở các số liệu trong bảng
1.4. có thể tính được các mức giá tương quan của thép và vải như trong bảng 1.5. Giá
tương quan của thép và vải ở Nhật Bản và Việt Nam tương ứng là:
1 thép = 0,4 vải và 1 thép = 2 vải
1 vải = 2,5 thép và 1vải = 0,5 thépNhật Bản Việt Nam
Thép (1 đơn vị) 0,4v 2v
Vải (1 đơn vị) 2,5t 0,5t

Như đã chỉ ra ở trên, xét theo giác độ tuyệt đối thì Nhật Bản có hiệu quả hơn Việt Nam
trong sản xuất cả hai mặt hàng, nhưng nước này chỉ có lợi thế so sánh về thép, và điều
này có thể thấy được qua so sánh giá tương quan của thép ở Nhật Bản so với ở Việt Nam,
cụ thể là thép ở Nhật Bản rẻ hơn so với Việt Nam. Tương tự, vải ở Việt Nam rẻ hơn so
với Nhật Bản nên Việt Nam có lợi thế so sánh về mặt hàng vải. Nếu mỗi nước thực hiện
chuyên môn hóa hoàn toàn trong việc sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế so sánh và
sau đó trao đổi với nhau thì cả hai đều trở nên sung túc hơn.
Thực vậy, nếu Nhật Bản chuyển 5 giờ công lao động từ ngành vải sang sản xuất thép thì
sẽ có 2,5 đơn vị thép được làm ra và khi bán 2,5 đơn vị thép này sang Việt Nam với mức

xuất 24 đơn vị vải. Có thể nhận thấy rằng, nếu mỗi khi Nhật Bản cắt giảm 10 đơn vị thép
thì sẽ có 20 lao động được giải phóng, và lượng lao động này đủ để sản xuất thêm 4 đơn
vị vải. Điều này có nghĩa là 10 thép = 4 vải hay 1 thép = 0,4 vải (vì cùng cần tới lượng
lao động là 20). Đây chính là giá tương quan ( hay còn gọi là chi phí cơ hội) của thép ở
Nhật Bản. Tương tự, các phương án sản xuất hai mặt hàng thép và vải tại Việt Nam lần
lượt là T', A', B', C' và V'. Ở Việt Nam, cứ mỗi 2,5 đơn vị thép được cắt giảm thì sẽ giải
phóng 30 lao động, đủ để sản xuất thêm 5 đơn vị vải. Như vậy, 2,5 thép = 5 vải, và chi
phí cơ hội của thép ở Việt Nam là 1 thép = 2 vải.
Bảng 1.4: Các phương án sản xuất thép và vải ở Nhật Bản và Việt Nam
Nhật Bản Việt Nam
Thép Vải Thép Vải
L (2) Q (3) L (4) Q (5) L (7) Q (8) L (9) Q(10)
T 120 60 0 0 T' 120 10 0 0
A 100 50 20 4 A' 90 7,5 30 5
B 80 40 40 8 B' 60 5 60 10
C 60 30 60 12 C' 30 2,5 90 15
D 40 20 80 16 V' 0 0 120 20
E 20 10 100 20
V 0 0 120 24

Các thông tin về sản xuất cho trong các cột (3),(5),(8) và (10) được sử dụng để vẽ ra các
đường giới hạn khả năng sản xuất của hai nước Nhật Bản và Việt Nam như trong hình
1.1. Mỗi điểm trên các đường này cho thấy mức sản lượng thép và vải mà quốc gia có thể
sản xuất ra. Chẳng hạn tại điểm C, Nhật Bản sản xuất được 30 thép và 12 vải, còn tịa
điểm B' Việt Nam sản xuất được 5 thép và 10 vải.

Lưu ý là cả hai đường giới hạn khả năng sản xuất đều là những đường thẳng bởi vì chi
phí cơ hội ở hai quốc gia là không đổi, còn chúng có độ dốc đi xuống là vì để sản xuất
thêm vải thì hai quốc gia phải giảm sản xuất thép. Độ dốc tuyệt đối của các đường này
chính bằng chi phí cơ hội, hay nói cách khác, chính là mức giá tương quan giữa thép và

thép). Nếu mức giá trao đổi quốc tế vượt ra khỏi giới hạn nói trên thì một trong hai quốc
gia sẽ từ chối tham gia buôn bán vì nhận thấy rằng buôn bán với nước khác không những
không có lợi mà ngược lại còn gây thiệt hại cho quốc gia đó.
Điều này được phản ánh trong hình 1.2. Đối với Nhật bản mức giá quốc tế được biểu thị
bởi đường thẳng T T đi qua điểm sản xuất mới (T) và nằm trong miền giới hạn bởi đường
giới hạn khả năng sản xuất của nước này, tức TV, với độ dốc tuyệt đối phản ánh mức giá
tương quan ở Nhật Bản là 1 thép = 0,4 vải và đường TG là đường thẳng đi qua T và song
song với đường giới hạn khả năng sản xuất của Việt Nam (có độ dốc tuyệt đối bằng với
mức giá tương quan ở Việt Nam là 1 thép = 2 vải).
Hình 1.2 Lợi ích từ thương mại quốc tế, trường hợp chi phí cơ hội không đổi
Thép

Thép

Vải

Vải

Nhật Bản

Việt Nam

T

G

T

VNhật Bản Việt Nam
Thép (giờ công/1 đơn vị sản phẩm) 2 12
Vải (giờ công/1 đơn vị sản phẩm 5 30

Các số liệu trong bảng cho thấy Nhật Bản có lợi thế tuyệt đối về cả hai mặt hàng, nhưng
chi phí lao động của nước này trong cả hai ngành sản xuất đều chỉ bằng 1/6 lần chi phí
lao động của Việt Nam, cho nên không xác định được nước nào có lợi thế so sánh về mặt
hàng nào. Tuy nhiên, trên thực tế trường hợp lợi thế cân bằng như vậy rất ít khi xảy ra,
nếu không nói là không tồn tại.
Qua những nội dung giới thiệu trên đây, có thể rút ra nhận xét rằng, các lý thuyết về lợi
thế tuyệt đối và lợi thế tương đối đều nhấn mạnh yếu tố cung, coi quá trình sản xuất trong
mỗi nước là yếu tố quy định hoạt động thương mại quốc tế. Trong các lý thuyết này, giá
cả từng mặt hàng không được biểu hiện bằng tiền, mà được tính bằng số lượng hàng hóa
khác, và thương mại giữa các nước được thực hiện theo phương thức hàng đổi hàng.
Những giả định này khiến cho phân tích trở nên đơn giản hơn, trong khi vẫn giúp chỉ ra
nguồn gốc sâu xa của thương mại quốc tế.
Hạn chế cơ bản duy nhất của lý thuyết cổ điển về thương mại quốc tế là ở chổ nó được
xây dựng trên cơ sở học thuyết về giá trị lao động, theo đó lao động là yếu tố sản xuất
duy nhất và đồng nhất trong các ngành sản xuất. Do tính chất phi thực tế của học thuyết
về giá trị lao động cho nên lý thuyết lợi thế so sánh gặp những nguy cơ bị bác bỏ. Tuy
nhiên, vào năm 1936 lý thuyết lợi thế so sánh đã được cứu nguy bởi một nhà kinh tế học
tân cổ điển là Haberler trình bày trên cơ sở vận dụng khái niệm chi phí cơ hội.
2.3. Các lý thuyết mới về thương mại quốc tế
Căn cứ vào cách tiếp cận, các lý thuyết mới này có thể phân thành ba nhóm: Lý thuyết
dựa trên hiệu suất theo quy mô; Lý thuyết liên quan đến công nghệ; Và lý thuyết liên
quan đến cầu.


sản xuất là UV và các đường bàng quan I
1
. I
2
, I
3
.
Khi chưa có thương mại, hai nước có chung điểm cân bằng, tức cùng sản xuất và tiêu
dùng tại điểm E, nơi đường giới hạn khả năng sản xuất tiếp xúc với đường bàng quan I
1
.
Mức giá hàng hóa tương quan giữa hai nước là bằng nhau và được biểu thị bằng độ dốc
của đường giá cả chung ST. Khi có thương mại, Nhật Bản thực hiện việc chuyên môn
hóa hoàn toàn vào sản xuất ôtô, cụ thể là tại điểm sản xuất mới là U, và Mỹ chuyên môn
hóa hoàn toàn vào sản xuất máy bay tại điểm V. Khi đó, điểm tiêu dùng của Nhật Bản là
N, và của Mỹ là M. Nhật Bản sẽ xuất khẩu RU ôtô để đổi lấy RN máy bay của Mỹ: hai
tam giác thương mại URN và MHV là như nhau. Cả hai nước đều có lợi do đạt tới cá
điểm tiêu dùng cao hơn.
Như vậy, mức giá hàng hóa tương quan giống nhau không cản trở việc hai nước buôn bán
một cách có lợi với nhau. Lưu ý là, trong mô hình thương mại dựa trên hiệu suất theo quy
mô, mỗi nước phải thực hiện chuyên môn hóa hoàn toàn, và tỷ lệ trao đổi quốc tế cũng
đúng bằng mức giá tương quan trước khi có thương mại.

2.3.2. Thương mại dựa trên yếu tố công nghệ
Trong lý thuyết Ricardo, thương mại hình thành do có sự khác biệt về năng suất lao động
giữa các quốc gia. Về phần mình, sự khác biệt về năng suất lao dộng lại là kết quả của sự
khác biệt về công nghệ sản xuất. Còn lý thuyết H - O là một mô hình thương mại tĩnh,
với công nghệ được giả định là giống nhau giữa các quốc gia. Về thực chất thì các lý
thuyết thương mại liên quan đến công nghệ theo đuổi cách tiếp cận chủ yếu của lý thuyết
Ricardo, nhưng điểm khác là ở chổ sự khác biệt về công nghệ được coi không phải là yếu

một nước có thể được khuyến khích bởi những bộ luật thích hợp về phát minh và sáng
chế, bản quyền và thuế.
* Thứ hai, một nước có thể may mắn có được những nguồn lực thích hợp cho công tác
nghiên cứu và phát triển, chẳng hạn như nguồn lực hùng hậu các nhà khoa học và kỷ sư,
nguồn tài chính dồi dào.
* Thứ ba, trong nước tồn tại thị trường thích hợp đối với sản phẩm mới. Thị trường đó
thường có qui mô lớn và sức mua cao vì trong giai đoạn đầu các sản phẩm mới thường
được sản xuất với chi phí rất cao.
Tất cả những điều trên cho thấy rằng, các phát minh, sáng chế thường ra đời ở các nước
giàu có và phát triển.
b. Lý thuyết vòng đời sản phẩm
Về thực chất, lý thuyết vòng đời sản phẩm chính là sự mở rộng lý thuyết khoảng cách
công nghệ. Các phát minh, sáng chế có thể ra đời ở các nước giàu, nhưng điều đó không
có nghĩa là quá trình sản xuất chỉ diễn ra ở các nước đó mà thôi. Lý thuyết khoảng cách
công nghệ chưa trả lời được câu hỏi là phải chăng các hãng phát minh ra sẽ tiến hành sản
xuất tại những nước có điều kiện thích hợp nhất (tài nguyên, các yếu tố sản xuất ) đối với
mặt hàng mới. Theo Vernon (1966) các nhân tố cần thiết cho sản xuất một sản phẩm mới
sẽ thay đổi tùy theo vòng đời sản phẩm được minh họa trong hình 2.4

Nước phát minh
Các nước phát triển khác
Các nước kém phát triển
Thời gian
t
0
t
1
t
3
t

Các lý thuyết trên đều nhấn mạnh tới yếu tố cung. Tuy nhiên, sự khác biệt về cầu cũng là
cơ sở dẫn tới thương mại quốc tế.
a. Sự phân hóa sản phẩm và thương mại nội bộ ngành
Thương mại nội bộ ngành là hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu đồng thời các sản phẩm
về cơ bản là giống nhau hay nói cách khác là các sản phẩm phân hóa. Chẳng hạn, Nhật
Bản xuất xe hơi Toyota sang Mỹ, đồng thời lại nhập khẩu xe Ford từ Mỹ. Thương mại
nội bộ ngành được đo bằng công thức sau:
Trong đó:
- X và M là xuất và nhập khẩu
- X+M là toàn bộ thương mại
- là phần chênh lệch giữa xuất và nhập khẩu.
Sự phân hóa sản phẩm chính là sự thể hiện tính đa dạng của nhu cầu đối với các sản
phẩm. Có hai cách tiếp cận trong việc giải thích tính đa dạng của cầu sẽ tạo ra thương mại
quốc tế như thế nào.
* Cách tiếp cận thứ nhất cho rằng, các dạng biến tướng khác nhau của cùng một loại sản
phẩm đòi hỏi tỷ lệ các yếu tố sản xuất dùng để sản xuất ra chúng là khác nhau. Khi đó,
theo lý thuyết H - O, mỗi quốc gia sẽ sản xuất dạng sản phẩm nào phù hợp nhất với mức
độ trang bị các yếu tố sản xuất của quốc gia đó. Tuy nhiên, cách tiếp cận này không thể lý
giải được mức tăng trưởng nhanh chóng của thương mại nội bộ ngành.
* Cách tiếp cận thứ hai gắn liền sự phân hóa sản phẩm với hiệu suất tăng dần theo quy
mô. Cách thức hiệu quả nhất để cung cấp các dạng biến tướng của sản phẩm là thực hiện
chuyên môn hóa sản xuất từng dạng biến tướng và sau đó tiến hành trao đổi. Cách tiếp
cận này dựa trên hai giả thiết quan trọng là:
- Thứ nhất là tồn tại nhu cầu đối với các dạng biến tướng khác nhau của các sản phẩm.
- Thứ hai là nhu cầu đó không thể thỏa mãn một cách tốt nhất trong phạm vi nội địa vì
tính hiệu suất theo quy mô. Như vậy, lợi ích do thương mại nội bộ ngành đối với các sản
phẩm phân hóa đem lại bao gồm khả năng đa dạng hóa diện mặt hàng mà người tiêu
dùng có thể tiếp cận, và việc giảm bớt chi phí và giá cả của hàng hóa sản xuất ra nhờ hiệu
suất theo qui mô.
b. Giả thiết Linder


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status