thi công nhà cao tầng theo phương pháp top down - Pdf 25

chơng I : tình hình xây dựng nhà có tầng hầm ở việt nam
1. Khái niệm về tầng hầm :
Trong các công trình xây dựng dân dụng nhà nhiều tầng trên thế giới, ngời ta
quy định phần tầng nhà là từ cao trình mặt đất tự nhiên trở lên. Nhà nhiều tầng có
thể hiểu là từ 4 tầng trở lên, khi số tầng lên đến vài chục tầng thì ngời ta gọi đó là
nhà cao tầng. Khái niệm cao tầng hiện nay tạm định lợng nh nhà cao dới 9 tầng
gọi là nhà thấp tầng. Nhà từ 10 đến 24 tầng gọi là nhà cao trung bình. Nhà có từ
25 tầng trở lên đợc gọi là nhà cao tầng.
Trong khu nhà cao tầng bao gồm tầng trệt (Tầng 1) sàn của nó nằm ngang trên
mặt đất, tiếp theo là các tầng 2,3,4 có độ cao sàn dơng. Còn những tầng tiếp
theo ở thấp hơn so với mặt đất (nằm dới tầng trệt) đều đợc gọi là tầng hầm.
Tầng hầm có thể nửa nổi nửa chìm hoặc nằm hoàn toàn trong lòng đất. Thờng ở
những toà nhà cao tầng thì tầng hầm gồm 2 tầng trở lên, tầng hầm trên cùng có
thể là nửa nổi nửa chìm một khi ta muốn tận dụng sự thông gió, chiếu sáng tự
nhiên. Số lợng tầng hầm cho nhà nhiều tầng chủ yếu phụ thuộc vào ý đồ sử dụng
của chủ đầu t, tuy nhiên nó cũng phụ thuộc vào chiều cao của công trình và nền
đất dới công trình cũng nh kỹ thuật xây dựng tầng hầm hiện tại.
2. Xu h ớng phát triển nhà có tầng hầm :
Nhà có tầng hầm đã có từ lâu trên thế giới, nó trở thành phổ biến và gần nh là
một thông lệ khi xây dựng nhà nhiều tầng. ở châu Âu do đặc điểm nền đất tơng
đối tốt, mực nớc ngầm thấp, kỹ thuật xây dựng tiên tiến và cũng do nhu cầu sử
dụng nên hầu nh nhà nhiều tầng nào cũng có tầng hầm, thậm chí các siêu thị chỉ
có 2-3 tầng nhng có tới 2-3 tầng hầm. Công nghệ này còn đợc dùng để thi công
các ga ra ngầm dới lòng đờng, đờng cao tốc ngầm ở Paris.
Việc xây dựng tầng hầm trong nhà nhiều tầng là điều rất bình thờng nó trở nên
qúa quen thuộc mỗi khi thiết kế và thi công vì nó giải quyết đợc các vấn đề phát
sinh do nhà nhiều tầng đặt ra.
ở châu á nói chung nhà nhiều tầng có tầng hầm cha phải là nhiều, nhng ở một
số nớc và vùng lãnh thổ nh Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc thì số lợng nhà
nhiều tầng có tầng hầm chiếm tỉ lệ khá cao, số lợng tầng hầm trong các nhà từ 1
đến 4 tầng hầm.

Tai Pao - Đài Loan
Chung Yian
Sen Jue - Đài Loan
Trung tâm sách - Hà Nội
Vietcombank - Hà Nội
Sun way Hotel - Hà Nội
7
56
75
14
20
27
19
17
6
22
11
4
3
3
3
4
4
3
3
1
2
2
23
12

Trang 2
Làm tầng phục vụ sinh hoạt công cộng nh bể bơi, cửa hàng, quán bar
Làm gara ô tô, xe máy.
Làm tâng kỹ thuật để giải quyết các vấn đề điều hoà không khí, xử lý nớc
thải, lắp đặt máy móc phục vụ giao thông (thang máy), cấp nhiệt
Làm nơi c trú tạm thời khi có sự cố xảy ra nh chiến tranh.
ở các ngân hàng, kho bạc nó còn là nơi cất trữ tài liệu mật, tiền bạc, vàng,
đá quý và các tài sản có giá trị cao của quốc gia.
* ở Việt Nam : Tình hình cũng không ngoài xu hớng phát triển của thế giới,
chỉ có điều là ta luôn đi sau vài thập niên so với các nớc tiên tiến. Cho mãi tới
những năm chín mơi của thế kỷ trớc các toà nhà nhiều tầng mới đợc xây dựng
tại TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội, đi kèm theo nó là các tầng hầm đợc thiết kế,
thi công theo các kỹ thuật tiên tiến nhất. Ngày nay, nhu cầu và xu thế của tầng
hầm đã là quá rõ ràng đối với nhà nhiều tầng. Sự ra đời của nó hoàn toàn nhằm
đáp ứng nhu cầu vừa nêu trớc.
b. Về mặt nền móng :
Ta thấy nhà nhiều tầng thờng có tải trọng rất lớn ở chân cột, nó gây ra áp lực
rất lớn lên nền và móng, vì vậy khi làm tầng hầm ta đã giảm tải cho móng vì
một lợng đất khá lớn trên móng đã đợc lấy đi, hơn nữa khi có tầng hầm thì
móng đợc đa xuống khá sâu, móng có thể đặt vào nền đất tốt, cờng độ của nền
tăng lên (Khi ta cho đất tham gia chịu lực). Thêm vào đó tầng hầm sâu nếu nằm
dới mực nớc ngầm, nớc ngầm sẽ đẩy nổi công trình lên theo định luật Acsimet
nh thế nó sẽ giảm tải cho móng công trình và đồng thời cũng giảm lún cho
công trình.
c. Về mặt kết cấu :
Đối với nhà nhiều tầng không có tầng hầm, độ sâu ngàm vào đất là nông (từ
2-3m), độ ổn định của công trình không cao do trọng tâm của công trình ở trên
cao. Khi nhà có tầng hầm, trọng tâm của công trình sẽ đợc hạ thấp làm tăng
tính ổn định tổng thể của công trình. Hơn nữa, tờng, cột, dầm sàn của tầng hầm
sẽ làm tăng độ ngàm của công trình vào đất, tăng khả năng chịu lực ngang nh

sâu hố đào, tình hình địa chất thuỷ văn, vào chiều sâu hố đào, tình hình địa chất
thuỷ văn, vào khối lợng đất cần đào và nó còn phụ thuộc vào thiết bị máy móc,
nhân lực của công trình. Sau khi đào xong, ngời ta cho tiến hành xây nhà theo thứ
tụ bình thờng từ dới lên trên, nghĩa là từ móng lên mái. Để đảm bảo cho hệ hố
đào không bị sụt lở trong quá trình thi công ngời ta dùng các biện pháp giữ vách
đào theo các phơng pháp truyền thống nghĩa là ta có thể đào theo mái dốc tự
nhiên (Theo góc của đất). Hoặc nếu khi mặt bằng chật hẹp không cho phép mở
rộng ta luy mái dốc hố đào thì ta có thể dùng cừ để giữ tờng hố đào.
Ưu điểm của phơng pháp này là thi công đơn giản, độ chính xác cao, hơn nữa
các giải pháp kiến trúc và kết cấu cho tầng hầm cũng đơn giản vì nó giống phần
trên mặt đất. Việc xử lý chống thấm cho thành tầng hầm và việc lắp đặt hệ thống
mạng lới kỹ thuật cũng tơng đối thuận tiện dễ dàng. Việc làm khô hố móng cũng
đơn giản hơn, ta có thể dùng bơm hút nớc từ đáy móng đi theo hố thu nớc đã đợc
tính toán sẵn.
Nh ợc điểm của phơng pháp này là : khi chiều sâu hố đào lớn sẽ rất khó thực
hiện, đặc biệt khi lớp đất bề mặt yếu. Khi hố đào không dùng hệ cừ thì mặt bằng
phải rộng đủ để mở taluy cho hố đào. Xét về mặt an toàn cho các công trình lân
Trang 5
cận hay cho những công trình xây chen thì biện pháp này không khả thi, còn xét
về chiều sâu hố đào khi quá lớn nếu dùng biện pháp này ta sẽ phải đào thành
nhiều đợt, nhiều bậc và độ ổn định cũng nh an toàn cho thi công ta phải bàn đến.
Qua thực tế ta có thể đa ra các phơng án giữ vách hố đào theo phơng pháp thi
công cổ điển nh :
- Đào đất theo độ dốc tự nhiên, phơng pháp này chỉ áp dụng khi hố đào
không sâu, với đất dính, góc ma sát trong lớn, mặt bằng thi công rộng rãi đủ
để mở taluy mái dốc hố đào và để thiết bị thi công cũng nh chứa đất đợc đào
lên.
- Dùng ván cừ đặt thành nhiều tầng (Không chống). Hố đào đợc đào thành
nhiều bậc, mở rộng phía trên áp dụng cho trờng hợp khi ván cừ không đủ dài để
chống một lần hoặc khi hố đào quá sâu, thi công đào đất bằng phơng pháp thủ

nó có u điểm là đứng trên đào xuống thấp nên có thể đào những nơi có nớc và
việc đa vật liệu lên ô tô là dễ dàng, nhanh gọn. Khi nớc ngầm ở thấp hơn cao trình
máy đứng ta có thể dùng máy đào gầu thuận, nó có thể đào đợc những hố đào khá
sâu rất thích hợp khi kết hợp với đào và đổ đất lên xe vận chuyển đi. Tuy nhiên
loại máy này yêu cầu đờng đi cho xe ô tô vận chuyển phải di chuyển liên tục tốn
công làm đờng. Ngoài hai loại máy chính trên ngời ta còn có thể sử dụng máy
đào gầu dây và máy đào gầu ngoạm. Với máy đào gầu dây, nó chỉ thích hợp nhất
khi đào móng sâu có nớc, loại này năng suất thấp so với máy đào gầu thuận và
gầu nghịch. Với máy đào gầu ngoạm thì sử dụng để đào những hố đào thẳng
đứng, nó dùng để đào trong lòng giếng, đào hố sâu có thành cọc ván cừ hay tờng
Trang 7
chắn. Nó chỉ thích hợp cho đất yếu hoặc đất hạt rời. Khi đào chỗ đất rắn ta phải
làm tơi đất trớc.
Với những công trình mà khối lợng đào đất không lớn, hố đào không sâu
(<500m
3
) ngời ta thiên về đào bằng thủ công. Dụng cụ để đào là các dụng cụ cổ
truyền nh cuốc, xẻng, mai, cuốc chim, kéo cắt đất, choòng, búa. Để vận chuyển
đất ngời ta dùng quang gánh, xe cút kít một bánh, xe cải tiến, đờng goòng Để
thi công đạt năng suất cao ngời ta phải chọn dụng cụ thích hợp đồng thời cũng
phải tìm cách giảm khó khăn cho thi công cũng nh làm tăng hoặc giảm độ ẩm của
nền đất hoặc làm khô mặt bằng
Sau khi đã thi công xong phần đào đất móng, ngời ta tiến hành thi công nhà
theo các phơng pháp thông thờng nh ta đã biết, nghĩa là thi công móng nhà sau đó
tiến hành đến phần thân nhà.
2. Thi công t ờng nhà làm t ờng chắn đất.
ở mục II.1 ta đã trình bày các phơng pháp thi công đất truyền thống nhng nó
chỉ thích hợp cho những tầng hầm có chiều sâu không lớn, mặt bằng thi công
rộng rãi và cách xa các công trình có sẵn còn đối với những công trình xây chen
nh ở thành phố Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh với nhũng nhà nhiều tầng có từ 1 >

các biện pháp chống tờng bao nh sau :
a) Dùng hệ dầm và cột chống văng giữa các tờng đối diện (Hình 4a). Hệ dầm
này thờng làm bằng thép hình gồm các xà ngang, dầm văng và cột chống xà
ngang tỳ lên tờng, tơng chịu áp lực đất (chịu uốn). Dầm văng là bộ phận chịu
lực chính (chịu nén) làm nhiệm vụ chống giữ các tờng đối diện. Cột chống có
nhiệm vụ giữ cho dầm văng ổn định (giảm chiều dài tính toán).
Phơng pháp này có u điểm là đơn giản, dễ tính toán, xong rất tốn vật liệu
làm xà, dầm, cột (có thể thu hồi 100%). Tuy nhiên nhợc điểm của nó là
chiếm không gian trong hố đào, khi thi công, dễ bị vớng gây khó khăn cho
qúa trình thi công tầng hầm. Khi tầng hầm đợc thi công xong thì hệ chống đỡ
này sẽ đợc dỡ đi và áp lực ngang sẽ chuyển vào khung nhà (tầng hầm chịu).
Khi chiều ngang công trình lớn thì hệ chống đỡ trở nên phức tạp vì khoảng
cách giữa các tờng đối diện quá lớn.
Trang 9
a2. Mặt cắt A-A. Hệ giằng chống
a1. Mặt bằng hệ chống hố đào bằng hệ dầm cột
bằng thép hình
Cột chống
Hình 4.a
Tờng bao
Thanh chống
Thanh giằng
Dầm đỡ
Tờng bao
Cột chống
bằng thép
hình
Dầm đỡ
A
A

dụng ở những công trình thực sự cần thiết đến hệ neo này.
3. Ph ơng pháp gia cố nền tr ớc khi thi công hố đào :
Khi công trình đợc thi công ở những vùng đất cát, việc đào đất sẽ gặp khó khăn
vì cát sẽ lở. Ngoài những biện pháp chống đỡ thành hố đào nh đã nêu ở trên ta
cũng có thể áp dụng phơng pháp gia cố nền hố đào trớc khi đào đất. Nó thích hợp
cho công trình co mặt bằng thi công rộng và chiều sâu hố đào không lớn.
Nội dung của phơng pháp này là trớc khi thi công đào đất ngời ta dùng khoan
và bơm cao áp phụt vữa xi măng vào nền đất xung quanh hố đào. Khi vữa xi
Trang 11
măng rắn chắc sẽ làm cho nền đất có cờng độ tăng lên cụ thể là tăng hệ số dính C
và góc ma sát trong của nền đất. Với biện pháp gia cố này hố đào có thể đào
thẳng đứng hoặc nghiêng theo góc khá lớn.
Đào
đợc bơm xuống
Vữa XM-cát đã
Bơm xi măng cát
Hình 5 : Gia cố hố đào trớc khi đào móng
Bơm xi măng cát
Ưu điểm của phơng pháp này là thi công đơn giản, giá thành thấp, tạo mặt bằng
thi công thoáng không bị vớng bởi hệ chống.
Nh ợc điểm:
Khó xác định chính xác các thông số của nền sau khi gia cố.
Độ tin tởng thấp.
Đòi hỏi phải có mặt bằng xung quanh rộng để gia cố vùng có nguy cơ tr-
ợt.
4. Ph ơng pháp thi công từ trên xuống (Top-down) :
ở phần trên chúng ta đã trình bày phơng pháp thi công tờng chắn bằng phơng
pháp "Bottom-up" nghĩa là thi công từ dới lên theo các phơng pháp truyền thống.
Trong phơng pháp này để giữ cho tờng chắn ổn định không bị biến dạng ngời ta
Trang 12

thì thời gian thi công từ 3 > 6 tháng.
Không phải chi phí cho hệ thống chống phụ.
Chống vách đất đợc giải quyết triệt để vì dùng tờng và hệ kết cấu công
trình có độ bền và ổn định cao.
Không tốn hệ thống giáo chống, cốppha cho kết cấu dầm sàn vì sàn thi
công trên mặt đất.
Trang 13
Nh ợc điểm của phơng pháp "Top-down" :
Kết cấu cột tầng hầm phức tạp.
Liên kết giữa dầm sàn và cột tờng khó thi công.
Thi công đất trong không gian kín khó thực hiện cơ giới hoá.
Thi công trong tầng hầm kín ảnh hởng đến sức khoẻ ngời lao động.
Phải lắp đặt hệ thống thông gió và chiếu sáng nhân tạo
Dới đây ta cụ thể hoá các bớc thi công Top-down bằng hình vẽ với nhà nhiều
tầng có 2 tầng hầm.
Trang 14
e1
c1
Sàn tầng hầm
Trong đất
Tờng
Cọc nhồi
Giai đoạn 2 : Đổ sàn tầng trệt
Bê tông sàn
e1
e2
c2
c1
Giai đoạn 6 : Đổ bê tông tầng đáy + đài móng
Đổ bê tông sàn tầng e2

phạm những sai lầm đáng tiếc. Tất cả những vấn đề trên cần đợc nghiên cứu, xem
xét một cách nghiêm túc, đầy đủ để có thể lập thành một quy trình công nghệ áp
dụng cho từng trờng hợp cụ thể để đạt đợc hiệu quả cao nhất.
Những vấn đề hiện nay chúng ta cần quan tâm là :
1. Xác định lực tác dụng lên vách chống :
Ta biết áp lực của đất lên vách chống rất phức tạp nó phụ thuộc vào địa tầng,
trạng thái của đất nền, áp lực lên mặt đất, hình thức chống vách đất và đặc biệt là
phơng pháp thi công. Để xác định đợc áp lực đó ta phải giả thuyết đợc gần đúng
sơ đồ tính toán và tìm phơng pháp tính toán đơn giản và nhanh nhất. Hiện tại có
rất nhiều cách xác định lực tác dụng lên vách chống, nhiệm vụ của chúng ta là
chọn phơng pháp tính đơn giản đủ độ tin cậy phục vụ cho thi công nhanh, an toàn
vì sau khi thi công xong công trình ở trạng thái làm việc nó đã đợc ngời thiết kế
tính toán đầy đủ.
2. Chống vách đất :
Để cho hố đào đợc ổn định trong quá trình thi công, với giá thành hạ, ta phải
chọn phơng án đào và chống vách đất hợp lý theo các nguyên tắc sau :
Phải giữ đợc vách đào ổn định, an toàn trong quá trình thi công.
Phải phù hợp với biện pháp đào đất và công nghệ thi công phần ngầm.
Thi công phải đơn giản, giá thành hạ.
Luôn chú ý đến khả năng sử dụng lại sau khi công trình hoàn thành.
Sau đây là một số phơng án chống vách đất có thể áp dụng đợc : (Hình 7)
a) Đóng cọc tha cách nhau một khoảng từ 0,8 ữ 1,5m đào đến đâu thì ghép
ván đến đó. Cọc đóng thờng là cọc thép hình (I hay H), ván gỗ. Nó đợc áp
dụng khi hố không sâu, áp lực đất nhỏ, không có nớc ngầm chảy mạnh.
Gỗ và cọc sau khi thi công đợc thu hồi để sử dụng lại.
Trang 16
b) Đóng ván cừ thép không chống làm việc dới dạng công-xôn, áp dụng khi
hố đào nông, có nớc ngầm. Ván cừ thép sẽ đợc thu hồi bằng máy nhổ cọc
hay cần trục tháp sau khi đã thi công xong tầng hầm.
c) Đóng cọc thép phun vữa bê tông giữ đất. Cọc thép đợc đóng xuống đất hết

vẫn thuộc phần đất công trình, khi đó sẽ cho phép tầng hầm có đủ không
gian thông thoáng để thi công và lúc đó độ dầy của tờng bao sẽ giảm đi
đáng kể.
Trang 17
Cừ gỗ tấm
Cọc thép
Cừ Rombas
Cừ Terres - Rouges
Cừ Beval
Cừ Larssen
Ván cừ thép
a. Đóng cọc tha, đào đất đến đâu ghép ván tới đó
b. Ván cừ thép không chống làm việc dạng công xôn
Hình 7
Trang 18
f. Dùng tờng trong đất thi công từng đoạn
hay thi công liên tục
1 22
e. Dùng các tấm bê tông đúc sẵn để
làm tờng chắn đất tạo thành váh chống đất
d. Dùng cọc khoan nhồi liền nhau
c. Đóng cọc thép sau đó phun vữa bê tông dạng vòm để giữ vách đất
Cọc thép
Hình 7
3. Một số giải pháp kết cấu của t ờng trong đất :
Các tờng trong đất sẽ tiếp nhận cả tải trong ngang và tải trong thẳng đứng, vì
thế khi cấu tạo chung cần thiết phải xét đến tất cả các lực tác dụng lên tờng trong
đất để đảm bảo độ bền và ổn định trong quá trình xây dựng và khai thác công
trình.
a) T ờng trong đất bằng bê tông toàn khối có chiều dày từ 0,6 > 1,0m :

e. Hào liên tục nhồi từng đoạn
d. Các đoạn hào nối với nhau
Đối với cốt thép của tờng, ngời ta thờng sử dụng thép gai (thép có gờ). Thờng
thì chúng đợc buộc thành khung có chiều dài tơng ứng với chiều sâu hố đào còn
bề rộng thì bằng bớc đào với lớp bảo vệ từ 5 ữ 7 cm. Các cốt thép chủ theo ph-
ơng thẳng đứng không đợc ngăn cản sự chuyển động của bê tông từ dới lên và
sự chảy của bê tông trong khối đổ khi đổ bằng phơng pháp đổ trong nớc.
Khoảng cách giữa các thanh cốt chủ 170 ữ 200mm, nghĩa là 1 m chiều dài t-
ờng không đặt quá 6 thanh. Cốt thép trong vùng chịu nén cũng dùng thép gai
20 ữ 25 @ 250 ữ 500mm.
Trang 20
Trong khung cốt thép phải bố trí chỗ để ống đổ bê tông, phải đặt các tai định
vị khung ở trong hào (Để dảm bảo lớp bảo vệ lớp bảo vệ của bê tông theo đúng
yêu cầu từ 5 ữ 7cm). ở bên trên có hàn các thanh ngang tựa lên tờng định vị,
ngoài ra còn phải hàn các chi tiết chôn sẵn để liên kết tờng với đáy tầng hầm
hay với các tờng ngang, dầm ngang.
mặt cắt a-a
ống đổ bê tông
Tai định vị
AA
Tai định vị
để tạo hốc
Chi tiết chôn sẵn
ống đổ bê tông
Giá đỡ cốt thép
Hình 9
Mác bê tông thờng dùng không lớn hơn 300
#
. Độ lớn của cốt liệu 50mm.
Bê tông phải dẻo, độ sụt 16 ữ 20cm, thời gian ninh kết là tối đa, Bê tông đợc đổ

Trang 22
* Tính toán vách chắn ở hai đầu t ờng : Ta coi vách chắn nh một dầm tựa 2
đầu. Gọi H là chiều sâu hào, Q là cờng độ cấp bê tông, v : vận tốc dâng bê tông
trong hố đào; t
i
: Tốc độ ninh kết của bê tông;
b
: Trọng lợng riêng của hỗn hợp
bê tông trong vữa;
0
: Hệ số căng, lấy bằng 1.
Ta vẽ đợc biểu đồ quan hệ P-V cho các chiều cao khác nhau của vách ngăn.
H
=
1
5
m
hỗn hợp bê tông lên tấm chắn
Sự thay đổi của trị số áp lực
H
=
1
0
m
v(m/h)
thuộc vào vận tốc đổ bê tông
đầu tờng có bề rộng 1m phụ
H
=
2

Thép tấm
Thép chữ U
Hình 12 : Kết cấu mối nối giữa 2 khung cốt thép của 2 đốt hào kề nhau
Ta thấy thép tấm đợc tăng cờng bằng 2 thép góc đầu và thép [. Thép góc nhô
ra khỏi hào 2ữ3cm mỗi bên để bảo đảm không thấm qua mối nối đổ bê tông.
Thép [ cũng là thép để liên kết với khung của đốt tiếp theo. Cốt thép phân bố đ-
ợc hàn vào thép góc với bớc là 50cm.
Việc đa khung lới cốt thép vào hào tiến hành bằng cần cẩu, phía trái đợc đa
vào rãnh thép [, phía phải đợc hỗ trợ bằng 1 khung dẫn hớng để việc lắp đặt dễ
dàng, thuận lợi.
Rõ ràng là mối nối kiểu này tốt và hợp lý hơn mối nối dạng ống và có thể sử
dụng cho tờng hạ sâu vào trong lòng đất.
b) T ờng trong đất bằng bê tông đúc sẵn.
Công việc thi công tờng trong đất bằng bê tông đổ tại chỗ là khá phức tạp,
chất lợng bê tông không phải lúc nào cũng theo ý muốn, thời gian thi công lại
kéo dài. Để khắc phục ngời ta đa các cấu kiện bê tông đúc sẵn vào với ý đồ là
thay thế bê tông đúc tại chỗ. Hiện nay, nhiều nớc trên thế giới đã giải quyết đợc
vấn đề này một cách khá bài bản và kết quả khá tốt.
Việc sử dụng bê tông đúc sẵn lắp ghép vẫn còn hạn chế chủ yếu do các tấm
bê tông lớn, nặng từ 10 >30T. đòi hỏi phải có thiết bị nâng là lắp ráp nên thế
giá thành cao. Những năm gần đây ngời ta dùng các kết cấu hỗn hợp tức là
phần tờng của tầng hầm của công trình có chiều cao < 10m là cấu kiện lắp
ghép, phần còn lại để chắn nớc ngầm vào đáy hố móng là toàn khối (Hình 13)
Trang 24
đáy móng
Hút nớc
khi đào
Hạ mực nớc ngầm
trung bình
Neo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status