phương pháp nghiên cứu trong kinh doanh- thực hành nghiên cứu thực tế - Pdf 25

TÓM TẮT
Hiện nay các mặt hàng lưu niệm tại Việt Nam ngày càng trở nên nhàm chán
với những chủng loại sản phẩm quen thuộc . Người tiêu dùng Việt Nam , nhất là
giới trẻ đang có xu hướng tìm cho mình những thứ mới lạ để thể hiện tình cảm hay
chỉ đơn giản là thể hiện cá tính riêng của bản thân . Với trào lưu đó việc xuất hiện
một mặt hàng lưu niệm như Origami đã thổi vào thị trường lưu niệm một luồn gió
mới .
Origami là nghệ thuật xếp giấy có xuất xứ từ Nhật Bản .Từ một trang giấy
vô hồn, dưới bàn tay tài hoa của người nghệ sĩ đã trở thành một tác phẩm nghệ
thuật độc đáo. Nhưng do đây là một sản phẩm hoàn toàn mới nên làm thế nào để
ngày càng nhiều bạn trẻ thật sự yêu thích và tìm đến với môn nghệ thuật này và
cùng chung tay phát triển Origami Việt ? Để giải đáp câu hỏi đó chúng tôi đã đưa
ra kế hoạch xây dựng một cửa hàng Origami tại Việt Nam , để đáp ứng nhu cầu
của khách hàng cũng như giúp cho việc tìm kiếm nguyên vật liệu đảm bảo chất
lượng , có giá thành phù hợp trở nên dễ dàng hơn tại Việt Nam .
Vậy các yếu tố nào sẽ ảnh hưởng đến việc xây dựng một cửa hàng
Origami? Và làm cách nào để cửa hàng có được lợi nhuận cũng như giúp cho
thương hiệu Origami Việt phát triển hơn trong tương lai ? Đó chính là lý do của
bài nghiên cứu này .
Nghiên cứu được tiến hành qua hai giai đoạn : Nghiên cứu định tính và
nghiên cứu định lượng . Nghiên cứu định tính bằng cách phỏng vấn sâu 20 đối
tượng nghiên cứu thông qua một dàn bài được chuẩn bị sẵn. Nghiên cứu định
lượng được thực hiện bằng cách khảo sát 150 khách hàng thông qua bảng câu hỏi,
dữ liệu thu thập được mã hóa và xử lý với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS để đưa ra
kết quả nghiên cứu .
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp xác định các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến việc
xây dựng một cửa hàng Origami . Ngoài ra kết quả nghiên cứu còn là nguồn tham
khảo cho việc hoạch định chiến lược kinh doanh , chiến lược tiếp thị , mở rộng
thương hiệu và tạo lợi nhuận dài hạn cho cửa hàng Origami trong tương lai .
1
MỤC LỤC

4.2 Phân tích dữ liệu 16
4.2.1 Mức độ thường xuyên mua đồ trang trí, quà lưu niệm 16
4.2.2 Các yếu tố quan tâm khi chọn mua quà lưu niệm 17
4.2.3 Thái độ của khách hàng đối với việc thay thế sản phẩm lưu niệm hiện
nay bằng một sản phẩm hoàn toàn mới 18
4.2.4 Mức độ biết đến loại hình Origami 19
4.2.5 Các yếu tố của sản phẩm Origami mà khách hàng quan tâm 20
4.2.6 Mẫu mã sản phẩm 20
4.2.7 Giá sản phẩm 21
4.2.8 Hình thức mua hàng 22
4.2.9 Mục đích mua sản phẩm Origami 23
2
4.2.10 Các loại hình kinh doanh đi kèm 24
4.2.11 Hình thức khuyến mãi 25
4.2.12 Vị trí mở cửa hàng 25
4.2.13 Ý kiến về hướng phát triển của Origami tại Việt Nam trong thời gian
tới 26
4.3 Kiểm định 27
4.4 Đề án kinh doanh 29
4.5 Nhận xét 43
CHƯƠNG V : KẾT LUẬN 43
5.1 Kết quả chính 43
5.2 Những hạn chế trong nghiên cứu 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
LỜI CẢM ƠN 45
PHỤ LỤC 46
3
Danh sách nhóm 3
STT Tên Mã số sinh viên
Mức độ hoàn

Chương 1
GIỚI THIỆU
1.1 Cơ sở hình thành đề tài
Thị trường hàng lưu niệm ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay rất phong phú
và đa dạng về chủng loại, mẫu mã, giá cả, chất lượng… Từ các loại hàng thủ
công mỹ nghệ cho đến các loại hàng điện tử đẹp mắt vốn xuất xứ từ trung quốc,
handmade v.v Chính vì thế người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn cho phù hợp
với sở thích, thói quen, thị hiếu và khả năng chi trả của họ.
Trong bối cảnh hiện nay, khi thu nhập của người dân tăng lên nhu cầu về
hàng lưu niệm cũng đòi hỏi được nâng cao về chất lượng, mẫu mã và quan trọng là
phải thể hiện được cái tâm của người tặng quà. Bên cạnh đó có một số mặt hàng
điện tử xuất xứ từ Trung Quốc không rõ chất lượng, không đảm bảo cho sức khỏe
đã gây hoang mang cho người tiêu dùng. Chính vì thế các loại hàng thủ công đang
là một thị trường đầy tiềm năng và Origami là một trong số đó .
Origami là một hình thức mới du nhập vào Việt Nam và có tiềm năng phát
triển trong những năm gần đây .Bởi Ogami không chỉ là một món quà có ý nghĩa
mà nó còn có tính nghệ thuật cao, là nghệ thuật dành cho số đông và cho mọi lứa
tuổi . Có người còn cho rằng, Origami không phải là môn gấp giấy mà phải là thổi
hồn vào giấy, biến những mảnh giấy vô tri giác thành những sản phẩm có hồn Vì
thế nên, ở mỗi đất nước, mỗi vùng miền trên thế giới, Origami đều được con
người sáng tạo, thể hiện theo nhiều cách khác nhau, mang những nét văn hoá đặc
trưng của từng dân tộc. Ở Việt Nam, dù còn mới mẻ, nhưng nghệ thuật gấp giấy
cũng đã chủ yếu đi theo những hình tượng văn hoá phương Đông, văn minh lúa
nước. Các tác phẩm chủ yếu là hình tượng bình dị, những con vật gắn bó với cuộc
sống người dân, như con trâu, con gà, hoa lá, cỏ cây Không chỉ thế, những
Origami Việt Nam đang từng ngày "thổi hồn" Việt vào tờ giấy để tạo nên những
tác phẩm Origami mang đậm phong cách Việt .
Những sản phẩm từ giấy này đang được đông đảo bạn trẻ Việt Nam yêu
thích, họ còn gửi gắm cả tâm tư tình cảm của mình vào đó. Đã từ lâu, hạc giấy và
ngôi sao đựng trong một chiếc lọ thủy tinh cũng đã trở thành món quà vô cùng ý

Địa điểm khảo sát : tại các cửa hàng quà lưu niệm , shop quà tặng trong khu
vực TP Hố Chí Minh . Nhưng do hạn chế về mặt kinh phí và thời gian nên việc
khảo sát chỉ tập trung nhiều ở các khu vực quận 1 , quận 3 , quận 7 , quận Bình
Thạnh và quận Thủ Đức .
1.4Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này được tiến hành thông qua Nghiên cứu định lượng .
- Nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng cách điều tra bảng hỏi với
mẫu là 150 . Đối tượng điều tra là các khách hàng tại các cửa hàng quà lưu niệm
và shop quà tặng ở khu vực TP Hồ Chí Minh .
Bảng hỏi bao gồm 3 phần : (1) Một số câu hỏi về thông tin cá nhân của
người trả lời sử dụng cho việc phân loại và so sánh các kết quả trong các phân tích
, (2) Thông tin chung, (3) Thông tin liên quan đến nhu cầu sử dụng sản phẩm
Origami .
6
Điều tra bảng hỏi được chọn vì Origami là hình thức mới còn mơ hồ với
một số người Việt Nam nên cần có bảng câu hỏi hỗn hợp gồm các câu hỏi đã
chuẩn bị sẵn với cả hai hình thức mở và đóng để người được phỏng vấn lựa chọn
dễ dàng .
Do có sử dụng bảng câu hỏi chuẩn bị sẵn nên sẽ đỡ mất thời gian và chi phí
cho việc nghiên cứu .
Điều tra bảng hỏi phù hợp với các vấn đề về đánh giá, so sánh những thông
tin phản hồi và những ý kiến về mức độ thõa mãn về dịch vụ cũng như chất lượng
sản phẩm Origami hiện nay tại TP Hồ Chí Minh . Bên cạnh đó việc sử dụng
phương pháp điều tra bảng hỏi sẽ giúp cho việc hệ thống hóa và phân tích các
thông tin thu được trở nên dễ dàng hơn .
Tuy nhiên hình thức này sẽ gây ra sai số trong kết quả phân tích được do
người trả lời không trả lời đầy đủ

1.5Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Bài nghiên cứu được chia thành 05 chương :

định về các áp lực cạnh tranh trong mọi ngành sản xuất kinh doanh.
1. Áp lực cạnh tranh của nhà cung cấp
2. Áp lực cạnh tranh từ khách hàng
3. Áp lực cạnh tranh từ đối thủ tiềm ẩn
4. Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế
5. Áp lực cạnh tranh nội bộ ngành
Theo mô hình số lượng nhà cung cấp và khách hàng sẽ quyết định đến áp
lực cạnh tranh . Tuy nhiên số lượng nhà cung cấp lẫn nơi tiêu thụ sản phẩm
Origami tại Việt Nam đều không nhiều nên không tạo được áp lực cạnh tranh .
Bên cạnh đó mặt hàng Origami vẫn còn khá xa lạ nên không hình thành đối thủ
tiềm ẩn và sản phẩm thay thế . Do phạm vi nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức độ xây
dựng cửa hàng nên yếu tố áp lực cạnh tranh trong nội bộ ngành không tồn tại .
Dựa trên các tiêu chí đó yếu tố cạnh tranh ảnh hưởng đến việc xây dựng
cửa hàng Origami là không cao .
8
2.1.3 Chi phí :
Kinh doanh và sản xuất ra cái gì đều phải do chi phí quyết định .
(P.A.Samuelson ,1948) Chi phí bao gồm tổng chi phí cố định (Total Fixed Cost )
và tổng chi phí biến đổi (Total Variable Cost )
Tổng chi phí cố định bao gồm : chi phí thuê mặt bằng mở cửa hàng , chi phí
mua kệ trưng bày, bàn ghế, bảng hiệu, vật dụng trang trí , chi phí đầu tư trang thiết
bị , tiền lương thuê mướn nhân viên .
Tổng chi phí biến đổi bao gồm : chi phí đầu tư quảng cáo , khuyến mãi cho
sản phẩm , số lượng nguyên vật liệu nhập vào : giấy , bao bì và thành phẩm ; chi
phí trang hoàng cửa hàng theo từng dịp lễ tết .
Việc giảm chi phí sẽ giúp làm giảm giá thành mặt hàng Origami phù hợp
với khả năng của nhiều đối tượng khách hàng khác nhau .
Dựa trên cơ sở giá sản phẩm , số lượng khách hàng mua sản phẩm và chi
phí ta sẽ tính được doanh thu và lợi nhuận .
Doanh thu thuần = Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ - Các khoản

và mức độ uy tín của thương hiệu được đánh giá dựa trên những tiêu chí đó.
Chất lượng cảm nhận sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định mua sắm và sự
trung thành của khách hàng đối với sản phẩm đó. Chất lượng cảm nhận còn hỗ trợ
cho việc xác định một chính sách giá cao vì khi khách hàng cảm nhận được giá trị
của sản phẩm đó thì cho dù giá cao họ vẫn sẵn lòng sử dụng.
Chất lượng cảm nhận có 3 thành tố (Olson & Jacoby , 1997, Olson , 1977) :
- Yếu tố bên trong gắn liến với các cấu trúc vật lý , bản chất sản phẩm và
quá trình tiêu dùng – là nguồn gốc của sự hữu ích.
- Yếu tố bên ngoài : tạo ra giá trị tăng thêm , không gắn với cấu trúc vật lý
- Yếu tố lưỡng tính (bên trong và bên ngoài)
Do khách hàng thường không thể đánh giá một cách đầy đủ và chính xác về
chất lượng sản phẩm mà nhà sản xuất cung cấp . Cho nên , chất lượng mà khách
hàng cảm nhận được là yếu tố được khách hàng dùng làm căn cứ để ra quyết định
tiêu dùng (Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang , 2002)
Dựa trên các yếu tố đó việc tạo nên chất lượng cảm nhận cho từng mặt
hàng Origami là vô cùng quan trọng vì mặt hàng này chưa tạo được thương hiệu
tại Việt Nam nên không thể dựa vào mức độ uy tính của thương hiệu để tăng chất
lượng cảm nhận của từng khách hàng mà phải dựa vào chất lượng và dịch vụ đi
kèm của sản phẩm . Các mặt hàng Origami có điểm khác biệt chủ yếu đối với các
mặt hàng lưu niệm khác là hoàn toàn bằng giấy nên dễ tạo cho khách hàng cảm
giác là sản phẩm không có độ bền cao và khó bảo quản . Do đó việc tăng cường
chất lượng giấy tốt với độ bền lâu dài , mẫu mã mới lạ và đẹp mắt mà giá thành
vẫn hợp lí đi kèm với các dịch vụ khuyến mãi đa dạng sẽ giúp tăng chất lượng cảm
nhận đối với khách hàng khi họ so sánh với các sản phẩm lưu niệm khác vốn đã
trở nên quá quen thuộc và không có gì mới lạ .
2.1.7 Giá trị cảm nhận :
Giá trị người tiêu dùng nhận được chính là sự chênh lệch giữa tổng giá trị
nhận được và tổng chi phí phải trả. Tổng giá trị nhận được là những lợi ích mà
người tiêu dùng mong đợi ở một sản phẩm hay dịch vụ. Tổng chi phí là tất cả
10

cáo sẽ đẩy mạnh khách hàng đến với quyết định mua sản phẩm .
Vì mặt hàng Origami còn khá xa lạ với đại đa số người Việt Nam nên mức
độ hiểu biết của họ về sản phẩm là không nhiều . Thông qua các hình thức quảng
cáo và giới thiệu về Origami sẽ giúp khách hàng nhận thấy lợi ích do Origami
mang lại . Khi có được sự hiểu biết cơ bản về sản phẩm như nguồn gốc , giá trị ,
giá cả của Origami khách hàng sẽ có xu hướng tìm hiểu thêm và dần dần sẽ tạo
dựng được một mức độ hiểu biết tương đối về sản phẩm . Dựa vào cơ sở đó ,
khuynh hướng lựa chọn Origami thay cho các sản phẩm lưu niệm khác sẽ được
hình thành .
11
2.2 Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu
2.2.1 Các giả thuyết
- Cửa hàng Origami được mở tại quận 3
- Vốn bỏ ra là 50 triệu và sẽ hoàn vốn trong vòng 6 tháng.
- Có 80% khách hàng thoã mãn về mặt hàng.
- Cứ 30 người mua thì có 20 người mua các mặt hàng Origami có giá từ 10.000 đ
tới 20.000 đ
- Một ngày có từ 15 - 25 người đến mua hàng.
- Mỗi ngày bán được 10 – 20 sản phẩm.
- Doanh thu mỗi ngày là 250.000 đ.
2.2.2 Mô hình nghiên cứu
Hình 1 : Mô hình nghiên cứu đề xuất
2.2.3 Các khái niệm trong mô hình
Origami
Origami là nghệ thuật gấp giấy (hay nghệ thuật xếp giấy) có xuất xứ từ
Nhật Bản.
Chữ origami trong tiếng Nhật bắt nguồn từ hai chữ: oru là gấp hay xếp và
kami là giấy. Origami chỉ được dùng từ năm 1880; trước đó, người Nhật dùng chữ
orikata.
Origami kết hợp những cách gấp đơn giản để biến miếng giấy hình chữ

Bảng hỏi bao gồm 3 phần : (1) Một số câu hỏi về thông tin cá nhân của
người trả lời sử dụng cho việc phân loại và so sánh các kết quả trong các phân tích
, (2) Thông tin chung, (3) Thông tin liên quan đến nhu cầu sử dụng sản phẩm
Origami .
Sau đó dữ liệu sẽ được mã hóa và xử lý bằng cách tính phần trăm , chia tỷ
lệ để đưa ra kết quả nghiên cứu .
3. 2 Mẫu
Nghiên cứu định lượng : mẫu được chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận
tiện .
- Kích thước mẫu là 150 mẫu . Do có thể xảy ra hiện tượng sai số trong khi
khảo sát và số phiếu khảo sát không hợp lệ nên số bảng câu hỏi được phát ra là
165 bảng . Bao gồm mẫu 150 + 10% phiếu dự phòng .
13
3. 3 Quy trình nghiên cứu
Hình 2 : Quy trình nghiên cứu
Chương 4
PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ ĐÁNH GIÁ KÊT
QUẢ THU ĐƯỢC
Trong chương này chúng tôi sẽ phân tích dữ liệu nghiên cứu định lượng
dựa vào các lý thuyết đã chọn , kết cấu theo như mô hình nghiên cứu và kết quả
khảo sát . Từ đó sẽ có kết luận về các giả thuyết đã đặt ra trong quá trình nghiên
cứu .
14
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng cửa
hàng Origami
Cơ sở lý thuyết
Mô hình nghiên cứu , các giả thiết
Nghiên cứu định lượng
(khảo sát bằng bảng hỏi , n = 150)
- Xây dựng bảng câu hỏi

Từ 35 tuổi trở lên
Hình 4 : Thống kê theo độ tuổi của mẫu khảo sát
15
40%
60%
40%
32.67%
16.67%
10.67%
Nhận thấy rằng các khách hàng thường lui tới các cửa hàng quà lưu niệm
và shop quà tặng đa phần là người trẻ , tuổi từ 25 trở xuống . Điều này nói lên rằng
cửa hàng Origami phải tập trung quan tâm nhiều đến đối tượng khách hàng trẻ đáp
ứng nhu cầu đa dạng về các mặt hàng Origami của họ . Đồng thời tạo nên sự thu
hút đến các khách hàng có độ tuổi từ 25 trở lên .
Nghề nghiệp
Về nghề nghiệp của mẫu quan sát sau khi phân tích các câu trả lời của
người khảo sát , chúng tôi chia nghề nghiệp thành 5 nhóm sau : học sinh , sinh
viên , nhân viên văn phòng , lao động phổ thông và các nghề khác ( như tự do ,
nội trợ …). Trong đó nhóm học sinh có 60 người , chiếm 40% . Nhóm sinh viên có
44 người , chiếm 29.33% . Nhóm nhân viên văn phòng có 26 người , chiếm
17.33% . Nhóm lao động phổ thông có 11 người , chiếm 7.33%. Và các nghề khác
có 9 người , chiếm 6% còn lại .
Học sinh (40%)
Sinh viên (29.33%)
Nhân viên văn phòng (17.33%)
Lao động phổ thông (7.33%)
Nghề nghiệp khác (6%)
Hình 5 : Thống kê theo nghề nghiệp của mẫu khảo sát
Qua thống kê trên chúng tôi phân tích được rằng , nhóm học sinh , sinh viên
là nhóm có mức độ lui tới các cửa hàng quà lưu niệm và shop quà tặng đông nhất .

nhỏ nên việc xây dựng một cửa hàng Origami là hoàn toàn có khả năng đem lại lợi
nhuận, vì trong theo số liệu đã khảo sát cho thấy cứ 150 người thì có 138 người sẽ
mua quà tặng nhau khi cần thiết, và đặc biệt là trong đó có 80 người thỉnh thoảng
sẽ mua quà tặng nhau nhân các dịp lễ, các ngày đặc biệt.
4.2.2 Các yếu tố quan tâm khi chọn mua quà lưu niệm
Theo kết quả khỏa sát có 170 ý kiến , trong đó có 21 ý kiến cho rằng quan
tâm đến hình thức của sản phẩm , chiếm 12.35% . 26 ý kiến quan tâm đến chất
lượng vật liệu , chiếm 17.33% . 106 ý kiến quan tâm đến sự lạ mắt , mới mẻ của
sản phẩm , chiếm 62.35% . 10 ý kiến quân tâm đến cách thức làm ra sản phẩm đó ,
chiếm 5.88% và 10 ý kiến khác , chiếm 5.88%
Hình thức đẹp (12.35%)
Làm bằng vật liệu bền chắc (17.33%)
Lạ mắt , mới mẻ trên thị trường (62.35%)
Cách thức làm ra sản phẩm (5.88%)
Ý kiến khác (5.88%)

Hình 7 : Các yếu tố quan tâm khi mua quà trang trí, lưu niệm
17
Theo biểu đồ ta thấy khi chọn mua sản phẩm trang trí, quà lưu niệm mọi
người thường có xu hướng chọn mua những sản phẩm lạ mắt, mới mẻ trên thị
trường nhiều hơn hẳn các yếu tố khác.
Bởi theo thị hiếu con người, ai cũng muốn sở hữu những đồ vật, những
món quà đạc sắc, hiếm có, chỉ mình có mà người khác không có, và khách hàng
luôn thay đổi nhu cầu, họ luôn cần những sản phẩm mới lạ, cải tiến hơn những sản
phẩm trước, nên sản phẩm Origami là 1 món quà có thể đáp ứng được hầu hết các
nhu cầu đó của khách hàng. Con người thường có xu hướng thích những điều mới
mẻ, lạ mắt, nên sản phẩm nào tạo ra ấn tượng đặc biệt mới lạ trong tâm trí khách
hàng sẽ thu hút được khách hàng nhiều hơn. Và mặt hàng Origami với ưu điểm
vừa mới lạ, luôn thay đổi theo xu hướng của thị trường, vừa lạ mắt do nó có xuất
xứ từ Nhật Bản, một nền văn hóa khác lạ so với Việt Nam. Trong tổng số 170 ý

không
không quan tâm
ý kiến khác
Hình 8 : Thái độ của khách hàng đối với việc thay thế sản phẩm lưu niệm
hiện nay bằng một sản phẩm hoàn toàn mới
4.2.4 Mức độ biết đến loại hình Origami
Khi đưa ra sản phẩm mới trên thị trường, bước đầu là làm cho người tiêu
dùng biết đến sản phẩm của mình một cách rộng rãi. Với 113 ý kiến “đã từng nghe
nói tới nhưng chưa hề sử dụng” trong tổng số 166 ý kiến (chiếm 67%). Điều này
cho thấy tỉ lệ phần trăm biết đến sản phẩm Origami khá cao nhưng do việc kinh
doanh loại hình này còn quá ít nên khách hàng khó tiếp cận được.16 ý kiến “đã
mua và sử dụng” , chiếm 10% .10 ý kiến nói rằng họ biết đến Origami “do người
khác mua tặng” , chiếm 6% .Chỉ có 21 ý kiến “chưa bao giờ biết đến” chiếm 13% .
Bên cạnh đó có 6 ý kiến khác được đưa ra trong đó có 5 ý kiến xem trên internet
và 1 ý kiến qua lời kể của bạn bè.
Chứng tỏ Origami cũng được khá nhiều người biết đến nhưng do còn hạn
chế về nhiều mặt như quảng cáo , nhà cung cấp … nên việc phổ biến còn khá hạn
hẹp. Vì vậy, chúng tôi sẽ cố gắng làm cho loại hình quà lưu niệm này phổ biến
hơn và phát triển trong thời gian sớm nhất.
10%
6%
67%
1 3%
4%
đã từng mua và sử dụng
biết đến do người khác tặng
từng nghe nhưng chưa sử dụng
chưa biết đến
ý kiến khác
Hình 9 : Mức độ biết đến loại hình Origami

Các con vật nuôi, thú cưng
Các kiểu xe
Loại khác

Hình 11: Mẫu mã sản phẩm
20
43%33%
24%
40%
45%
10%
5%
Có thể thấy rằng sản phẩm Origami hình vật nuôi , thú cưng được rất nhiều
người ưa chuộng nhưng không có chênh lệch nhiều đối với mặt hàng là các loại
hoa (chỉ chênh lệch 5 %) .Vì lẽ đó cửa hàng sẽ tập trung nhập về loại mẫu mã là
những con vật xinh xắn ngộ nghĩnh, những loại hoa đa dạng đủ sắc màu , phong
phú về chất liệu, kích thước đến độ khó của sản phẩm.
Các kiểu xe cũng được chúng tôi chọn để bán nhưng số lượng rất nhỏ, chỉ
để làm đa dạng thêm chủng loại, mẫu mã và cũng đáp ứng được một thị phần nhỏ
trong thị trường chơi Origami. Bên cạnh đó, khi khảo sát thị trường, người được
khảo sát tiết lộ rằng họ muốn mua Origami với những loại như: nhà, ghế, tủ, các
loại chim và các loại máy bay. Điều này đã giúp cho chúng tôi có thêm cái nhìn
mới, đó là một số sản phẩm Origami mà khách hàng có nhu cầu nhưng chưa được
chúng tôi khảo sát để đưa ra thị trường, vì vậy của hàng Origami quyết định đưa
thêm một vài mẫu mã về nhà, ghế, tủ, các loại chim và các loại máy bay để thăm
dò thị trường, qua đó chúng tôi sẽ xem xét phản ứng của người mua về sản phẩm
Origami loại này, sau đó đánh giá có nên mở rộng sản phẩm Origami loại này hay
không.
4.2.7 Giá sản phẩm
Trong chiến lược kinh doanh sản phẩm Origami có một điều vô cùng quan

Từ 10.000đ đến 50.000đ
Từ 50.000đ đến 100.000đ
Từ 100.000đ đến 300.000đ
Từ 300.000đ trở lên
Mức giá khác
Hình 12 :Giá sản phẩm
4.2.8 Hình thức mua hàng
Hầu hết mọi người Việt Nam có thói quen mua sắm trực tiếp khi mua sắm 1
sản phẩm nào đó. Điều đó cũng đã được cửa hàng Origami kiểm định khi đi tham
khảo thị trường bằng phiếu khảo sát qua 150 người. Và đã có tới 176 ý kiến khác
nhau về mua sản phẩm và có đến 129 ý kiến (chiếm 73,3%) bảo rằng họ sẽ tới trực
tiếp cửa hàng mua sắm sản phẩm có sẵn. Và 15 ý kiến (chiếm 8,5%) là đặt hàng và
chờ giao hàng theo yêu cầu .Có 32 ý kiến chọn mua hàng qua mạng (chiếm
18,18%). Không có ý kiến chọn hình thức nào khác .
Việc tới trực tiếp cửa hàng để mua chiếm hơn ½ ý kiến có thể được lý giải
rằng : Thứ nhất là do thói quen mua sắm của người Việt Nam từ xưa đến nay, thứ
hai vì đây là mặt hàng quà lưu niệm nên cũng rất khó để xác định được sản phẩm
ưng ý khi chỉ xem qua hình ảnh .
Và đây cũng là 1 điều thuận lợi cho cửa hàng trong việc bán và cung cấp
thông tin dễ dàng , chính xác hơn đến với khách hàng , cũng như giảm thiểu được
chi phí giao hàng theo yêu cầu . Nhưng không vì thế mà cửa hàng bỏ qua những ý
kiến khác, nhằm nâng cao chất lượng phục vụ đối với những sản phẩm có giá trị từ
300.000đ trở lên cửa hàng sẽ giao hàng tận nơi và miễn tiền giao hàng. Bên cạnh
đó cửa hàng cũng đang trong quá trình hoàn tất website riêng để thúc đẩy việc bán
hàng qua mạng ,nâng cao hiệu quả phục vụ, hình thức phục vụ để không đánh mất
18.18% khách hàng . Để đúng với phương châm của cửa hàng đặt ra “Uy tín, chất
lượng, lợi ích, mới lạ”.
22
73%
9%

Ngoài việc tặng bạn bè thì một lượng khách không nhỏ đã nói rằng mục
đích của họ mua Origami là làm đồ trang trí cho bản thân.(34%). Điều này cho
chúng ta thấy rằng ngoài việc mua làm quà tặng rất nhiều người đã chọn mua
23
Origami như một đồ dùng trang trí cho bản thân, xu hướng này đẩy chúng ta phải
tìm hiểu song song giữa tâm lý chọn mua quà tặng, và tâm lý chọn mua đồ dùng
trang trí. Sẽ có nhiều những sản phẩm bắt mắt, sử dụng cho trang trí và làm đẹp
không gian đi đôi với những sản phẩm ý nghĩa mang tích chất lưu niệm.
Bên cạnh đó còn một lượng nhỏ khách hàng mua Origami nhằm mục đích
thể hiện phong cách, đây cũng là một xu hướng khá mới của giới trẻ hiện nay .Và
cửa hàng có thể sẽ đầu tư thêm một số lượng nhỏ những sản phẩm mang tính chất
phá cách, đặc biệt theo nhu cầu của họ …
4.2.10 Các loại hình kinh doanh đi kèm
Khảo sát có 217 ý kiến về việc nên tổ chức thêm các loại hình kinh doanh
khác đi kèm với việc bán sản phẩm Origami, trong đó có 129 ý kiến cho rằng nên
dạy cách xếp Origami , chiếm 59% . Có 51 ý kiến cho rằng nên tổ chức các câu lạc
bộ giao lưu , học hỏi về Origami , chiếm 24% . Có 26 ý kiến cho rằng nên tổ chức
các cuộc thi xếp Origami theo định kỳ , chiếm 12% . Và các hình thức khác chiếm
5% với 11 ý kiến .
Dạy cách xếp Origami (59%)
Tổ chức câu lạc bộ giao lưu , học hỏi về Origami
(24%)
Tổ chức các cuộc thi xếp Origami theo định kỳ
(12%)
Hình thức khác (5%)
Hình 15 :Các loại hình kinh doanh đi kèm
Khi được hỏi thì đa số khách hàng muốn học cánh xếp Origami: (59%)
chứng tỏ khách hàng đã có nhu cầu cao hơn về sản phẩm. Họ muốn biết tường tận
sản phẩm của mình chọn mua được làm như thế nào,công đoạn ra sao. Đồng thời
cũng muốn một ngày nào đó chính tay họ sẽ làm được một sản phẩm như vậy. Đây

Origami được mở ở Quận 1 chiếm 40% (78/197 ý kiến) Quận 3 chiếm 31%
(62/197 ý kiến), Quận 5 chiếm 11% (21/167) , quận Tân Bình chiếm 5% (10/197).
Còn những ý kiến về các quận khác thì chiếm tỉ lệ khá thấp. Bên cạnh ý kiến của
khách hàng việc lựa chọn vị trí xây dựng cửa hàng sẽ còn phụ thuộc vào những lí
do khách quan thực tế như: giá thuê mặt bằng ở Quận 1 rất cao và khoảng cách để
khách hàng có thể đi từ Quận 1 đến Quận 3 là tương đối gần. Vì thế việc lựa chọn
mở cửa hàng ở Quận 3 sẽ đáp ứng được cả ý kiến thực tế của khách hàng và khả
năng tài chính của cửa hàng.
25
36%
11%
48%
5%

Trích đoạn Những hạn chế trong nghiên cứu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status