1
MỞ ĐẦU:
1. Lý do chọn đề tài:
Ngày nay nền kinh tế nước ta đang có những chuyển biến rất lớn. Sự
kiện Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO cho thấy rằng nền
kinh tế nước ta đang trong tiến trình hội nhập mạnh mẽ với nền kinh tế thế
giới. Điều đó thể hiện rất rõ trong tỉ lệ tăng trưởng GDP của đất nước. Vấn đề
vốn đang là một đòi hỏi rất lớn, cùng với sự phát triển của đất nước là sự xuất
hiện của nhiều nhà máy xí nghiệp, các công trình công cộng kéo theo những
nhu cầu rất lớn về vốn. Trong thời gian hiện nay, các ngân hàng thương mại
(NHTM) đóng vai trò như là một chiếc cầu nối từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu
vốn, từ nơi có vốn đến nơi cần vốn. Như vậy, các NHTM đóng vai trò rất
quan trọng, là một điều kiện tiên quyết, không thể thiếu cho sự phát triển kinh
tế của nước ta. Vậy tình hình huy động vốn (HĐV) của các NHTM nước ta
như thế nào? Thực trạng ra sao? Phương pháp để nâng cao hiệu quả HĐV của
các NHTM trong sự phát triển kinh tế xã hội là gì? Để làm rõ những vấn đề
này, tôi chọn đề tài tiểu luận: “Hoạt động huy động vốn của các ngân hàng
thương mại Việt Nam giai đoạn 2008-2010”.
2. Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại trong nước.
3. Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận về NHTM và họat động huy động vốn
của các NHTM trong nước.
- Tìm hiểu thực trạng hoạt động huy động vốn của các NHTM.
- Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn
của các NHTM ở nước ta.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Thời gian: giai đoạn 2008-2010.
2
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp tổng hợp.
- Chức năng trung gian tài chính.
- Chức năng tạo tiền.
- Chức năng cung cấp và quản lý các phương tiện thanh toán.
- Chức năng cung cấp các dịch vụ tài chính.
3. Vai trò của NHTM:
- NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế.
- NHTM là cầu nối của doanh nghiệp và thị trường.
4
- NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
- NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia và nền tài chính quốc tế.
4. Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại:
4.1. Khái niệm hoạt động huy động vốn của NHTM:
Hoạt động HĐV là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng
nhất của NHTM. Hoạt động này mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thể
thực hiện các hoạt động khác như cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ ngân
hàng cho khách hàng. Nhìn vào bảng cân đối tài sản của NHTM chúng ta thấy
rằng hoạt động HĐV được phản ánh bên phần tài sản nợ. Do vậy, HĐV còn
được gọi là nghiệp vụ tài sản nợ.
4.2. Các hình thức huy động vốn của NHTM:
Theo nghị định 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 của Chính phủ về tổ
chức và hoạt động của NHTM nhằm cụ thể hóa việc thi hành Luật các tổ chức
tìn dụng, NHTM được HĐV dưới các hình thức sau đây:
- Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới
hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các tiền gửi khác.
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ khác có giá khác để
huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước.
- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của
tổ chức tín dụng nước ngoài.
- Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước.
- Các hình thức HĐV khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
kiện thuận lợi để giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội.
Bước vào năm 2009, nền kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn thách
thức. Khủng hoảng tài chính của một số nền kinh tế lớn trong năm 2008 đã
đẩy kinh tế thế giới vào tình trạng suy thoái, làm thu hẹp đáng kể thị trường
xuất khẩu, thị trường vốn, thị trường lao động và tác động tiêu cực tói nhiều
lĩnh vực kinh tế-xã hội khác của nước ta. Tính chung cả năm 2009, tổng sản
phẩm trong nước đạt 1645,418 nghìn tỷ đồng, tăng 5,32%, bao gồm: khu vực
nông-lâm-nghiệp và thủy sản tăng 1,83%, khu vực công nghiệp và xây dựng
tăng 5,52%, khu vực dịch vụ tăng 6,63%. Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng tín
dụng và HĐV tăng so với năm 2008. Tốc độ tăng trưởng tín dụng đạt 37,53%
trong khi tốc độ tăng trưởng của hoạt động HĐV đạt 28,6%.
Năm 2010 mặc dù kinh tế thế giới đã thoát khỏi đáy của khủng hoảng
và bắt đầu những tín hiệu phục hồi nhưng chưa thực sự bền vững. Khủng
hoảng nợ công tại một số nước Châu Âu vẫn là mảng tối của bức tranh kinh tế
thế giới. Trong bối cảnh đó, Chính phủ Việt Nam tiếp tục chính sách điều
hành linh hoạt nhằm giảm bớt tác động xấu từ các yếu tố bên ngoài đến các
ngành kinh tế, đồng thời đối phó với các khó khăn thách thức nội tại để đưa
nền kinh tế nước ta đạt được một số thành tích cơ bản tốt hơn năm 2009: GDP
năm 2010 đạt 1951,2 nghìn tỷ đồng tăng 6,78% (mạnh nhất trong 3 năm), giá
7
trị sản xuất công nghiệp tăng 14,3%, kim ngạch xuất khẩu tăng 25,5%, vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tăng 9,9%, đạt gần 10 tỷ USD. Nhưng
đổi lại, chỉ số giá tiêu dùng đã vượt quá hai con số (11,75%). Lạm phát, lãi
suất, tỷ giá,…có nhiều diễn biến phức tạp. Tăng trưởng tín dụng toàn hệ
thống ngân hàng cao (29,81%) trong khi tăng trưởng huy động vốn từ nền
kinh tế chỉ đạt khoảng 27,2%.
2. Mức huy động vốn và cung cấp tín dụng của ngân hàng thương mại cổ
phần công thương Việt Nam (Vietinbank) giai đoạn 2008-2010:
2.1. Lịch sử hoạt động của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương
Việt Nam (Vietinbank):
Với mạng lưới chi nhánh rộng khắp toàn quốc, sảm phẩm tiền gửi đa
dạng với nhiều tiện ích cho người gửi tiền, tổng nguồn vốn huy động của
NHCTVN luôn tăng trưởng qua các năm. Năm 2008, trong bối cảnh cạnh
tranh gay gắt giữa các NHTM về tiền gửi từ khách hàng để đảm bảo nguồn
vốn và thanh khoản, NHCTVN vẫn đạt mức tăng trưởng tốt về nguồn vốn.
Tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng là 174905 tỷ đồng. Trong đó
tiền gửi của khách hàng đạt 121634 tỷ đồng, chiếm 69,5% tổng vốn huy động.
Cơ cấu tiền gửi của tổ chức kinh tế bao gồm tiền gửi của doanh nghiệp quốc
doanh đạt 35528 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 75,8% tổng tiền gửi của tổ chức kinh
tế; tiền gửi của doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các đối tượng khác chiếm
tỷ trọng 17% tổng tiền gửi của các tổ chức kinh tế; tiền gửi của doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài tăng 20,2% so với năm trước nhưng chiếm tỷ trọng
nhỏ nhất trong tổng tiền gửi tổ chức kinh tế (7,2%). Với lợi thế là một ngân
hàng quốc doanh có mạng lưới rông lớn và thương hiệu mạnh, trong tình hình
HĐV khó khăn thì nguồn tiền gửi của dân cư vào NHCTVN vẫn luôn ổn định
và đạt 67670 tỷ đồng, tăng 24% so với năm trước.
Chính sách hỗ trợ lãi suất để tạo đà cho tăng trưởng kinh tế của NHNN
đã tạo cú hích cho tăng trưởng tín dụng đồng thời cũng dẫn đến tình trạng
9
cạnh tranh căng thẳng trong HĐV nhằm đáp ứng nhu cầu cho vay của các
NHTM, đặc biệt là vào những tháng cuối năm 2009. Trong bối cảnh đó, số dư
HĐV của Vietinbank vẫn đạt được kết quả rất khả quan: cụ thể là nguồn vốn
huy động đến cuối năm 2009 đạt trên 220 ngàn tỷ đồng, tăng trên 26% so với
năm trước.
Tính đến cuối năm 2010, tổng nguồn vốn huy động đạt 339 nghìn tỷ
đồng, tăng 54% so với năm 2009 và vượt 28% so với chỉ têu đặt ra của Đại
hội đồng cổ đông. Trong đó nguồn vốn từ dân cư chiếm 33% tổng nguồn vốn
và huy động từ doanh nghiệp chiếm 31% tổng nguồn vốn. Ngoài ra, Ngân
hàng Công thương phát hành thành công 5350 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 2
năm nhằm cơ cấu lại nguồn vốn theo hướng bền vững hơn.
đồng, tăng 52% so với đầu năm.
Với vai trò là một NHTM chủ lực, năm 2010 Vietinbank đã tài trợ
nhiều dự án lớn trọng điểm của Chính phủ, ngành, địa phương, góp phần vào
công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước. Tiếp tục cho vay hỗ
trợ lãi suất 2% theo chỉ đạo của Chính phủ. Tổng tài sản tăng trưởng 51% thể
hiện Vietinbank đã đáp ứng tốt nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của nền kinh
tế, góp phần vào tăng trưởng GDP 6,78% của cả nước trong năm 2010.
Tổng dư nợ cho vay đến 31/12/2010 đạt 234 nghìn tỷ đồng, tăng 43,5%
so với đầu năm, trong đó dơ nợ cho vay theo Nghị quyết 18 và 41, Chỉ thị 2,
đạt trên 40 nghìn tỷ đồng. Tổng dư nợ cho vay đối với các khách hàng mới có
quan hệ tín dụng trong năm 2010 đạt 34,2 nghìn tỷ đồng.
3. Thuận lợi trong việc huy động vốn của các NHTM Việt Nam:
- Quản trị nguồn vốn trong nghiệp vụ tài sản nợ ngày càng có hiệu quả.
Dễ nhận thấy là hầu hết các NHTM đều thành lập phòng nguồn vốn. Công
việc kinh doanh vốn thường được xây dựng thành các đề án ngắn hạn, trung
hạn và dài hạn. Đây là bộ phận đưa ra các chiến dịch phát hành trái phiếu, kỳ
phiếu, chứng chỉ tiền gửi, huy động tiết kiệm của NHTM…; đưa ra các mức
11
lãi suất cụ thể cho từng loại sản phẩm và dịch vụ HĐV. Kèm theo đó là các
giải pháp về khuyến mại, về marketing, về quảng bá, tiếp thị,… trong HĐV.
- Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ổn định, giúp cho người dân có cơ
hội đầu tư, phát triển sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi để ngân hàng mở rộng
hoạt động cho vay và HĐV.
- Lãi suất cho vay cũng như lãi suất tiền gửi tiết kiệm phù hợp.
- Hội nhập quốc tế làm tăng uy tín và hệ thống ngân hàng Việt Nam
nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Cơ cấu, mạng lưới NHTM ngày càng đa dạng, mở rộng và phát triển.
- Phát triển nhiều loại hình dịch vụ mới, cung cấp nhiều sản phẩm dịch
vụ tiện ích cho khách hàng và nền kinh tế.
- Cạnh tranh sôi động trong lĩnh vực HĐV, nhưng các ngân hàng trong
vào tài sản đảm bảo, trong khi thị trường bất động sản và thị trường hàng hóa
chưa phát triển và còn nhiều biến động phức tạp; tự do hóa lãi suất có xu
hướng làm cho mặt bằng lãi suất trong nước tăng lên, tạo điều kiện thu hút
thêm tiền tiết kiệm vào hệ thống Ngân hàng.
Nói tóm lại, trong giai đoạn hiện nay các NHTM đang đứng trước
nhiều khó khăn thách thức. Để có thể tiếp tục tồn tại và phát triển được trong
tình hình hiện tại, đặc biệt để làm sao huy động được nhiều vốn đòi hỏi phải
có nhiều biện pháp thích hợp, hiệu quả. Tất cả điều này đòi hỏi sự nổ lực, liên
kết không chỉ một ngân hàng mà phải là sự đoàn kết nhất trí ở tất cả ngân
hàng.
13
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC NHTM
- Đưa ra các chiến lược sản phẩm: phân tích điểm mạnh, điểm yếu, tập
trung vào các sản phẩm dịch vụ chính có hiệu quả, nghiên cứu, từng bước mở
rộng sản phẩm mới.
- Đưa ra các chiến lược khách hàng: thường xuyên đổi mới phong cách
giao dịch, mở rộng mạng lưới, quan tâm đến khách hàng, tổ chức việc phân
loại khách hàng để có các chính sách HĐV phù hợp và có hiệu quả.
- Phát huy hiệu quả của các công cụ lãi suất: thường xuyên theo dõi,
nắm bắt diễn biến lãi suất trên thị trường để có giải pháp linh hoạt và phù hợp.
- Không ngừng đưa ra các chiến lược marketing: đưa ra các chính sách
tuyên truyền, quảng cáo, tiếp thị tới các khách hàng nhằm thực hiện chiến
lược HĐV, góp phần thu hút sự chú ý của khách hàng và tăng cường uy tín.
- Hiện đại hóa, đa dạng hóa các nghiệp vụ: nhằm mục đích duy trì quan
hệ với khách hàng truyền thống mở rộng khách hàng trên các thị trường hoạt
động kinh doanh, áp dụng các tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại góp
phần nâng cao hoạt động ngân hàng từ đó uy tín của ngân hàng sẽ được nâng
lên và khả năng HĐV cũng theo đó mà tăng lên.
- Đổi mới phong cách làm việc, thái độ phục vụ: thay đổi nhận thức đối
được quan tâm một cách đúng mức, sẽ ngày càng có những biện pháp hữu
hiệu hơn để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế.
Các ngân hàng thương mại đã và đang khẳng định vị trí của mình trên
thương trường. Tuy nhiên, các ngân hàng không nên dừng tại đó mà cần phải
có thêm nhiều biện pháp mới để nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, công
tác quản lý, hoạt động marketing, để cạnh tranh với các ngân hàng khác trên
thị trường và đáp ứng nhu cầu của người khách hàng.
2. Kiến nghị:
Lãi suất là một công cụ quan trọng để ngân hàng HĐV hiện có trong
dân cư, doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng…Chính sách lãi suất chỉ phát huy
hiệu lực đối với việc HĐV trong điều kiện kinh tế ổn định, giá cả ít biến động.
Sử dụng chính sách lãi suất hợp lý sẽ thu hút ngàu càng nhiều nguồn
vốn trong xã hội, kích thích các tổ chức kinh tế sử dụng nguồn vốn có hiệu
quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Để giúp cho ngân hàng có được lãi suất hợp lý, thu hút được nhiều
nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư đồng thời đẩy mạnh chính sách cho vay
mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, giảm khối lượng tiền trong lưu thông
NHNN phải sử dụng linh hoạt chính sách lãi suất trong quản lý hoạt động
16
kinh doanh của các NHTM, chuẩn bị các điều kiện để áp dụng chính sách lãi
suất chiết khấu, tái chiết khấu vì đây là điều kiện chủ yếu tác động vào việc
thực hiện chính sách lãi suất của NHTM.
Trong điều kiện chuyển từ nền kinh tế tập trung sang cơ chế thị trường
có điều tiết vĩ mô, việc hình thành và phát triển thị trường vốn có ý nghĩa rất
lớn đối với các NHTM hiện nay. Sự hình thành và phát triển của thị trường
vốn là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của thị trường hàng hóa.
Nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến tích cực, tăng trưởng
ngày càng cao đòi hỏi nhu cầu vốn ngày càng tăng nhằm đáp ứng nhu cầu
phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc HĐV thông qua phát hành giấy
tờ có giá. Thị trường vốn là nơi gặp gỡ giữa người có khả năng cung cấp vốn