BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU ĐIỆN TỬ, TIN HỌC, TỰ ĐỘNG
HÓA
BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN
ĐỀ TÀI NCKH&PTCN CẤP BỘ NĂM 2012
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU TIẾP CẬN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ ĐIỆN TOÁN
ĐÁM MÂY PHỤC VỤ ĐIỀU HÀNH QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP
2.1.2. IBM SmartCloud 11
2.1.3. Microsoft Azure 12
2.1.4. Nền tảng điện toán đám mây của Google 13
2.1.5. iCloud 14
2.1.6. Điện toán đám mây sử dụng các công nghệ mã nguồn mở 14
2.2. Xây dựng cơ sở hạ tầng điện toán đám mây sử dụng các công nghệ mã nguồn mở 25
2.2.1. Lợi ích của việc triển khai điện toán đám mây bằng nguồn mở 25
2.2.2. Xây dựng cơ sở hạ tầng điện toán đám mây bằng OpenStack 25
Phần 3: THIẾT KẾ, XÂY DỰNG PHẦN MỀM 31
3.1 Mục đích của phần mềm Cloud.EOffice 31
3.2 Kiến trúc của phần mềm 32
3.3 Cơ sở dữ liệu của phần mềm 33
3.4 Thiết kế, xây dựng chức năng của phần mềm 35
3.4.1. Chức năng Quản lý đăng ký sử dụng phần mềm 35
3.4.2. Chức năng Hệ thống phân quyền 36
3.4.3. Chức năng Quản trị hệ thống 37
3.4.4. Chức năng Định nghĩa luồng công việc 38
3.4.5.
Chức năng Quản lý lịch làm việc 39
3.4.6. Chức năng Quản lý hồ sơ công việc 39
3.4.7. Chức năng Quản lý công văn 40
3.4.8. Chức năng Quản lý tài liệu 41
3.4.9. Chức năng Quản lý thông báo chung 41
Phần 4: THỬ NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ 42
Phần 5: PHỤ LỤC 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Hình 3- 10: Use case chức năng định nghĩa luồng công việc 38
Hình 3- 11: Use case chức năng quản lý lịch làm việc 39
Hình 3- 12: Use case chức năng quản lý hồ sơ công việc 40
Hình 3- 13: Use case chức năng quản lý công văn 40
Hình 3- 14: Use case chức năng quản lý tài liệu 41
Hình 3- 15: Use case chức năng quản lý thông báo chung 41
BẢNG CHÚ THÍCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
NIST Viện NC tiêu chuẩn và
công nghệ quốc gia Hoa
Kỳ
IaaS (Infrastructure as a Service) Cơ sở hạ tầng được cung
cấp như dịch vụ
PaaS (Platform as a Service) Nền tảng được cung cấp
như dịch vụ
SaaS (Software as a Service) Phần mềm được cung cấp
như dịch vụ
Middleware Middleware là phần mềm
máy tính với nhiệm vụ kết
nối các thành phần phần
mềm hoặc các ứng dụng
với nhau
API (Application Programming Interface) Giao diện lập trình ứng
dụng
CRM Quản lý quan hệ khách
hàng
Cloud Computing Điện toán đám mây
vào/ra một gốc
Remote Switched Port Analyzer Bộ phân tích cổng được
chuyển mạch từ xa
OVF - Open Virtualization Format Định dạng ảo hóa mở
VMI - Virtual machine
interface
- cite_note-0#cite_note-0
Quản lý các ảnh máy ảo
VMDK: VMware Virtual Disk Development Kit Bộ dụng cụ phát triển đĩa
ảo VMware
Traffic Server Máy chủ lưu lượng
VNC - Virtual Network Computing Điện toán mạng ảo
Workspace Service Dịch vụ vùng làm việc
SLA - Service Level Agreement Thỏa thuận cấp dịch vụ
Amazon S3 - Amazon Simple Storage Service Dịch vụ lưu trữ của
Amazon
Keystone - Openstack Identity service Dịch vụ xác minh người
dùng của OpenStack
Physical Machine Máy chủ vật lý
CSDL Cơ sở dữ liệu
CPU - Computer Processing Unit Bộ vi xử lý
Application Ứng dụng
HDD Ổ cứng
Software Phần mềm
Platform Nền tàng
Infrastructure Hạ tầng
Điện toán đám mây là một giải pháp toàn diện cung cấp công nghệ thông tin như
một dịch vụ. Các máy tính trong các đám mây được cấu hình để làm việc cùng nhau
và các ứng dụng khác nhau sử dụng sức mạnh điện toán tập hợp cứ như thể là chúng
đang ch
ạy trên một hệ thống duy nhất.
Đặc trưng của điện toán đám mây là khả năng cung cấp dịch vụ thông tin và các
tài nguyên tính toán từ trên mạng (từ đám mây điện toán). Nhờ đó điện toán đám
mây đem lại những khả năng tối ưu việc sử dụng tài nguyên tính toán. Các ứng
dụng được chạy trong các trung tâm dữ liệu, nơi mà các tài nguyên tính toán được
dùng chung, được cấp phát động theo yêu cầ
u một cách linh hoạt để đảm bảo được
sự tối ưu trong sử dụng tài nguyên.
Một số lợi ích cơ bản của điện toán đám mây:
- Điện toán đám mây có thể giúp cho các tổ chức, doanh nghiệp tiết kiệm
được nhiều chi phí đầu tư hạ tầng liên quan đến các dịch vụ công nghệ
thông tin, đầu tư để sở hữu phần mềm, phần cứng khi bạn cần chúng và chỉ
muốn trả tiền cho những gì đang cần sử dụng. Do giảm bớt được các nghĩa
vụ liên quan đến việc quản lý các nguồn tài nguyên khác nhau, các tổ ch
ức,
cơ quan và doanh nghiệp có thể yên tâm tập trung nhiều hơn vào giá trị sản
xuất và đổi mới nghiệp vụ. Ngoài ra, các mô hình điện toán đám mây cũng
tạo tính linh hoạt và nhanh nhạy cho các tổ chức, cơ quan và doanh nghiệp
có thể mở rộng hoặc thu hẹp mô hình của mình với toàn bộ cơ sở hạ tầng
công nghệ thông tin và dịch vụ theo nhu cầu thực nhằm đáp ứng với sự
thay đổ
i nhanh chóng của thị trường và đảm bảo phục vụ khách hàng một
cách tốt nhất.
VIELINA
Báo cáo đề tài cấp Bộ 2012
“Nghiên cứu tiếp cận ứng dụng công nghệ điện toán đám
giới và tạ
i Việt Nam
Theo khảo sát mới đây của công ty nghiên cứu thị trường Gartner, tốc độ phát
triển "đám mây" trên toàn thế giới đã đạt mức 17% hàng năm trong khi hơn 50%
doanh nghiệp, tổ chức tham gia đều triển khai điện toán đám mây dưới hình thức
này hay hình thức khác. Trong năm 2011, giá trị ngành công nghiệp điện toán đám
mây là khoảng 91,4 tỷ USD. Gartner dự báo ngành công nghiệp điện toán đám mây
sẽ tăng trưởng khoảng 20% trong n
ăm 2012, nâng giá trị của ngành công nghiệp
này lên khoảng 109 tỷ USD, với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, giá trị của ngành
công nghiệp điện toán đám mây sẽ đạt khoảng 206,6 tỷ USD vào năm 2016. Bên
cạnh đó, trong thị phần của ngành công nghiệp điện toán đám mây, dịch vụ về kinh
VIELINA
Báo cáo đề tài cấp Bộ 2012
“Nghiên cứu tiếp cận ứng dụng công nghệ điện toán đám
mây phục vụ điều hành quản lý doanh nghiệp”
3
doanh (được gọi tắt là BPaaS) và dịch vụ về phần mềm (SaaS) vẫn chiếm tỷ trọng
lớn, tuy nhiên dịch vụ về cơ sở hạ tầng (IaaS) cũng sẽ sớm phát triển mạnh. Gartner
đánh giá ưu tiên chính của các giám đốc công nghệ (CIO) đang dần chuyển đổi từ
các ứng dụng doanh nghiệp sang ảo hóa và điện toán đám mây nhằm giúp họ bớt lo
lắng trong việc quản lý cơ
sở hạ tầng công nghệ thông tin. Gartner cũng dự đoán,
đến năm 2012, 80% doanh nghiệp trong danh sách 1.000 công ty hàng đầu theo
đánh giá của tạp chí Fortune (Mỹ) sẽ sử dụng ít nhất một vài loại hình dịch vụ đám
mây và khoảng 20% doanh nghiệp sẽ không còn sở hữu các tài sản hoặc hạ tầng
công nghệ thông tin.
Không nằm ngoài xu thế, Việt Nam đang dần tiếp cận dịch vụ đám mây thông
mây phục vụ điều hành quản lý doanh nghiệp”
4
1.1.3. Các mô hình dịch vụ điện toán đám mây
Điện toán đám mây được xây dựng trên các tầng, mỗi tầng cung cấp một mức
chức năng riêng. Sự phân tầng này của các thành phần đám mây đã cung cấp một
phương tiện cho các tầng của điện toán đám mây để trở thành một loại hàng hóa.
Các tầng điện toán đám mây được nhúng trong các thành phần “là một dịch vụ”. Hình 1- 1: Các tầng điện toán đám mây được nhúng trong các thành phần "là một dịch vụ"
1. Cơ sở hạ tầng được cung cấp như dịch vụ (Infrastructure as a Service): là tầng
thấp nhất của điện toán đám mây, nơi tập hợp các tài sản vật lý như các phần
cứng máy chủ, hệ thống lưu trữ và các thiết bị mạng, được chia sẻ và cung cấp
dưới dạng dịch vụ IaaS cho các tổ chức hay doanh nghiệp khác nhau. Các dịch
vụ IaaS hỗ trợ các nền t
ảng ứng dụng khác nhau. Ảo hóa là công nghệ được sử
dụng rộng rãi để tạo ra cơ chế chia sẻ và phân phối các nguồn tài nguyên theo
yêu cầu. Các nhà cung cấp dịch vụ IaaS như IBM Blue House, VMWare,
Amazon EC2, Microsoft Azure Platform, như dịch vụ EC2 của Amazon,
khách hàng có thể đăng ký sử dụng một máy tính ảo trên dịch vụ của Amazon và
lựa chọn một hệ điều hành (ví dụ: Windows hoặc Linux) và tự cài đặt ứng dụng
của mình.
2.
Nền tảng được cung cấp như dịch vụ (PaaS – Platform as a Service): cung cấp
nền tảng vận hành các ứng dụng, các dịch vụ. Cung cấp nền tảng điện toán cho
phép khách hàng phát triển các phần mềm, phục vụ nhu cầu tính toán hoặc xây
dựng thành dịch vụ trên nền tảng đám mây đó. Dịch vụ PaaS có thể được cung
cấp dưới dạng các hạ tầng trao đổi thông tin ứng dụ
khách hàng với chỉ một phiên bản cài đặt. Khách hàng lựa chọn ứng dụ
ng phù
hợp với nhu cầu và sử dụng mà không quan tâm tới hay bỏ công sức quản lý tài
nguyên tính toán bên dưới. SaaS là một môi trường quen thuộc với hầu hết
người dùng, có thể phục vụ cho hàng trăm nghìn khách hàng cùng một lúc (dịch
vụ đám mây công cộng) hoặc môi trường mạng dùng riêng gồm các máy tính và
thiết bị mạng cài đặt các phần mềm chuyên dụng (dịch vụ đám mây riêng). Về
phía người sử dụng, SaaS đồng nghĩa với vi
ệc họ không cần đầu tư mua sắm, sở
hữu máy chủ và bản quyền phần mềm. Còn đối với nhà cung cấp, họ chỉ phải
duy trì một phần mềm ứng dụng có thể chia sẻ và dùng chung cho nhiều khách
hàng, nên chi phí tổng sở hữu rẻ hơn so với cách hosting truyền thống.
Dịch vụ SaaS nổi tiếng nhất phải kể đến Salesforce.com với các ứng dụng cho
doanh nghiệp mà nổi b
ật nhất là CRM. Các ứng dụng SaaS cho người dùng cuối
phổ biến là các ứng dụng Office Online của Microsoft hay Google Doc của
Google.
1.1.4. Các mô hình triển khai điện toán đám mây
1. Đám mây công cộng (Public Cloud):
Đám mây công cộng là mô hình mà hạ tầng điện toán đám mây được một tổ
chức sở hữu và cung cấp dưới dạng dịch vụ rộng rãi cho tất cả các khách hàng
thông qua hạ tầng mạng Internet hoặc các mạng công cộng diện r
ộng. Chúng tồn tại
VIELINA
Báo cáo đề tài cấp Bộ 2012
“Nghiên cứu tiếp cận ứng dụng công nghệ điện toán đám
mây phục vụ điều hành quản lý doanh nghiệp”
6
mây phục vụ điều hành quản lý doanh nghiệp”
7
trong tường lửa công ty và chúng được tổ chức, doanh nghiệp quản lý. Đám mây
riêng có thể được vận hành bởi một bên thứ ba và hạ tầng đám mây có thể được đặt
bên trong hoặc bên ngoài tổ chức sở hữu.
Đám mây riêng được các tổ chức, doanh nghiệp lớn xây dựng cho mình nhằm
khai thác ưu điểm về công nghệ và khả năng quản trị của điện toán đám mây. Với
đám mây riêng doanh nghiệ
p tối ưu được hạ tầng công nghệ thông tin của mình,
nâng cao hiệu quả sử dụng, quản lý trong cấp phát và thu hồi tài nguyên, qua đó
giảm thời gian đưa sản phẩm sản xuất, kinh doanh cũng như dịch vụ thương mại ra
thị trường.
Lợi ích chính của hình thức đám mây riêng ở chỗ tổ chức, doanh nghiệp hoàn
toàn kiểm soát được an ninh, tuân thủ và chất lượng dịch vụ.
Tổ ch
ức, doanh nghiệp có trách nhiệm thiết lập và bảo trì đám mây này. Sự khó
khăn và chi phí của việc thiết lập một đám mây bên trong đôi khi có thể có chiều
hướng ngăn cản việc sử dụng và chi phí hoạt động liên tục của đám mây có thể vượt
quá chi phí của việc sử dụng một đám mây chung.
Các đám mây riêng là lý tưởng khi các kiểu công việc đang được thực hiện
không thiết thực cho một
đám mây chung, do đúng với các mối quan tâm về an ninh
và về quản lý.
Một đám mây riêng là sự lựa chọn rõ ràng khi việc kinh doanh của tổ chức,
doanh nghiệp gắn với dữ liệu và các ứng dụng của tổ chức, doanh nghiệp. Vì vậy,
việc kiểm soát và bảo mật chiếm phần lớn công việc. Việc kinh doanh của tổ chức,
doanh nghiệp là một phần của một ngành công nghiệp phải phù hợp với an ninh
nhiều.
Hình 1- 4: Đám mây lai
4. Đám mây cộng đồng (Community Cloud)
Đám mây cộng đồng là một mô hình trong đó hạ tầng đám mây được chia sẻ bởi
một số tổ chức cho cộng đồng người dùng trong các tổ chức đó. Các tổ chức này do
đặc thù không tiếp cận tới các dịch vụ đám mây công cộng và chia sẻ chung một hạ
tầng để nâng cao hiệu quả đầu tư và sử dụng.
Một đám mây cộng
đồng có thể được thiết lập bởi một số tổ chức có yêu cầu
tương tự và tìm cách chia sẻ cơ sở hạ tầng để thực hiện một số lợi ích của điện toán
đám mây
VIELINA
Báo cáo đề tài cấp Bộ 2012
“Nghiên cứu tiếp cận ứng dụng công nghệ điện toán đám
mây phục vụ điều hành quản lý doanh nghiệp”
9
1.1.5. Vấn đề an ninh đối với điện toán đám mây
Trong điện toán đám mây, vấn đề an ninh là yêu cầu xuyên suốt từ kiến trúc, mô
hình, an ninh vật lý tới an ninh ứng dụng. Vì vậy yêu cầu về an ninh, an toàn thông
tin trong kiến trúc của điện toán đám mây không chỉ trong phạm vi của các nhà
cung cấp đám mây, mà còn cho những người sử dụng đám mây và các tác nhân
tương ứng khác. Các hệ thống dựa vào đám mây vẫn cần giả
i quyết các yêu cầu về
an ninh thư xác thực, ủy quyền, tính sẵn sàng, tính bí mật, quản lý nhận diện, tính
toàn vẹn, giám sát an ninh, phản ứng với sự cố và quản lý chính sách an ninh.
Ba mô hình dịch vụ trong điện toán đám mây là SaaS, PaaS, IaaS cho những
người sử dụng với các dạng khác nhau về các hoạt động quản lý dịch vụ và đưa ra
triển khai trong một môi trường IaaS là không phải trách nhiệm của nhà cung cấp.
VIELINA
Báo cáo đề tài cấp Bộ 2012
“Nghiên cứu tiếp cận ứng dụng công nghệ điện toán đám
mây phục vụ điều hành quản lý doanh nghiệp”
10
Đối với khách hàng sử dụng dịch vụ điện toán đám mây cần quan tâm đến một
số vấn đề về an ninh như sau:
Khách hàng nên hạn chế tối đa khả năng đối với các trình duyệt web hoặc các
thiết bị của khách hàng bị tấn công bằng cách sử dụng những thực hành tốt nhất cho
an ninh, và nên tìm cách giảm thiểu tiếp xúc với trình duyệt đến các trang web độc
hại có thể.
Khách hàng nên yêu cầu mã hóa mạnh được sử dụng đối với các giao dịch web
và mạng lưới thông tin liên lạc khác, bất cứ khi nào thuê một ứng dụng cần đòi hỏi
tính bảo mật của ứng dụng tương tác với các ứng dụng khác hoặc truyền dữ liệu.
Ngoài ra khách hàng nên yêu cầu áp dụng tương tự cho các dữ liệu được lưu trữ.
Khách hàng nên xem xét thực hiện về an ninh vật lý và các kế hoạch tại các
trang của nhà cung cấp như một phần trong những cân nhắc nguy cơ tổng thể khi
lựa chọn một nhà cung cấp dịch vụ. Các tấn công vật lý yêu cầu các kế hoạch dự
phòng đối với các cuộc tấn công không gian mạng. Khách hàng nên viết kế hoạch
khôi phục từ các cuộc tấn công như vậy. Khách hàng nên xem xét liệu nhà cung cấp
dịch vụ cung cấp dự phòng cho các trang web của họ hoạt động, và lựa chọn nhà
cung cấp mà không nên gắn với vị trí địa lý cụ thể trong trường hợp có thiên tai và
các sự gián đoạn khác.
Khách hàng nên xem xét việc sử dụng các thẻ xác thực hoặc hình thức xác thực
tiên tiến thích hợp khác mà một số nhà cung cấp dịch vụ cung cấp, để giảm thiểu
nguy cơ tấn công tài khoản và các loại khai thác khác.
Khách hàng cần phải có khả năng hiển thị các khả năng sau đây của các nhà
2.1.1. Amazon Elastic Compute Cloud (EC2)
Amazon Elastic Compute Cloud (EC2) là một trong những nền tảng điện toán
đám mây đầu tiên và vẫn là một trong những nền tảng phổ biến nhất. Dịch vụ điện
toán đám mây EC2 của Amazon dưới dạng “hạ tầng được cung cấp như dịch vụ”,
tập trung vào dịch vụ cung cấp các máy tính ảo và cho phép người dùng tùy biến
trên các máy ảo đó. Khách hàng của EC2 có thể sử dụng bất cứ ngôn ngữ
lập trình
nào, sử dụng bất kì công cụ, nền tảng nào khách hàng muốn trên các máy ảo của
EC2. Nếu ứng dụng phát triển cho Windows khách hàng có thể sử dụng máy ảo
chạy Windows, ứng dụng cho Linux khách hàng có thể sử dụng máy ảo Linux.
Để sử dụng EC2, khách hàng chỉ cần một Amazon Machine Image (AMI - Cá
thể Máy của Amazon) hoặc tạo ra một AMI có chứa các ứng dụng, thư viện, và các
thiết lập cấu hình có liên quan.
Có nhiều AMI phổ biế
n có sẵn từ Amazon và cộng đồng EC2, cho cả Microsoft
Windows® hoặc Linux®, cùng với các bộ phần mềm nguồn mở khác nhau, chẳng
hạn như Apache Web server (máy chủ Web của Apache), MySQL và trình thông
dịch Python.
2.1.2. IBM SmartCloud
IBM SmartCloud là nhãn hiệu của các sản phẩm và giải pháp điện toán đám mây
của IBM. Nó chiếm một phần ngày càng lớn các dịch vụ điện toán đám mây của
IBM. IBM SmartCloud bao gồm cơ sở hạ tầng được cung cấp như dị
ch vụ, phần
mềm được cung cấp như dịch vụ, nền tảng được cung cấp như dịch vụ thông qua
mô hình đám mây công cộng, đám mây riêng và đám mây lai. IBM đặt những dịch
vụ theo 03 loại SmartCloud Foundation, SmartCloud Services, SmartCloud
Solutions.
SmartCloud Foundation bao gồm cơ sở hạ tầng, phần cứng, cung cấp, quản lý,
tích hợp và bảo mật phục vụ như là nền tảng của một đám mây riêng hoặc đám mây
lai. Đượ
Azure cung cấp cổng thông tin quản lý và các công c
ụ dòng lệnh mạnh mẽ để
quản lý các ứng dụng của khách hàng từ bất kỳ nền tảng. Cung cấp, di
chuyển và quản lý các máy ảo của khách hàng (máy ảo Windows, máy ảo
Linux), cấu hình, theo dõi và mở rộng các dịch vụ đám mây của khách hàng
trên Windows Azure,
- Microsoft .NET Services: cung cấp phân phối các dịch vụ hạ tầng cho các
ứng dụng trên đám mây và các ứng dụng cục bộ.
- Microsoft SQL Services: cung cấp các dịch vụ dữ liệu trong đám mây dựa
trên SQL Server.
- Live Services: Thông qua Live Framework, cung cấp quyền truy cập vào dữ
liệu từ các ứng dụng Live của Microsoft và những thứ khác. Live Framework
cũng cho phép đồng bộ hóa dữ liệu này trên máy tính để bàn và các thiết bị,
tìm kiếm và tải các ứng dụng và nhiều hơn thế nữa. VIELINA
Báo cáo đề tài cấp Bộ 2012
“Nghiên cứu tiếp cận ứng dụng công nghệ điện toán đám
mây phục vụ điều hành quản lý doanh nghiệp”
13
2.1.4. Nền tảng điện toán đám mây của Google
Nền tảng điện toán đám mây của Google cho phép khách hàng xây dựng những
ứng dụng và các trang web, lưu trữ và phân tích dữ liệu trên cơ sở hạ tầng của
Google.
Tận dụng lợi thế của tốc độ và quy mô của cùng một hạ tầng mà các ứng dụng
quyền hạn của Google, một số sản phẩm trên nền tả
ng điện toán đám mây của
trên cơ sở hạ tầng lưu trữ của Google.
VIELINA
Báo cáo đề tài cấp Bộ 2012
“Nghiên cứu tiếp cận ứng dụng công nghệ điện toán đám
mây phục vụ điều hành quản lý doanh nghiệp”
14
- Google BigQuery: phân tích dữ liệu lớn trong các đám mây bằng cách sử
dụng SQL bằng cách sử dụng Google BigQuery.
2.1.5. iCloud
iCloud là dịch vụ hoạt động trên công nghệ điện toán đám mây, cung cấp cho
người dùng cách thức mới để lưu trữ và truy cập âm nhạc, hình ảnh, lịch, địa chỉ
liên lạc, tài liệu, và nhiều hơn nữa từ mọi thiết bị của Apple. Mọi quá trình này đều
được tiến hành một cách tự
động.
iCloud sẽ cung cấp miễn phí 5GB dung lượng lưu trữ, và được cung cấp mặc
định trong các thiết bị sử dụng iOS 5.
Người dùng có thể sử dụng 5GB miễn phí để lưu trữ email, tài liệu và sao lưu dữ
liệu cần thiết. Với những loại dữ liệu như nhạc, các ứng dụng sách đặt mua từ
Apple có thể lưu trữ trên iCloud mà không tính vào 5 GB miễn phí sẵn có.
Ngoài ra, người dùng cũng có thể
đặt mua thêm dung lượng lưu trữ nếu muốn.
2.1.6. Điện toán đám mây sử dụng các công nghệ mã nguồn mở
2.1.6.1. Công nghệ ảo hóa
Hệ thống các máy chủ luôn làm việc ở trạng thái rỗi nên hiệu quả sử dụng tài
nguyên như bộ vi xử lý và bộ nhớ thường rất thấp, gây lãng phí rất lớn. Để tăng
hiệu quả sử dụng tài nguyên tức là khai thác tối đa n
ăng lực máy chủ, tạo ra môi
trường làm việc cho nhiều người cùng chia sẻ máy chủ, ý tưởng này gọi là “ảo hóa”.
cứng chung.
Xét v
ề kiến trúc hệ thống, các kiến trúc ảo hóa hệ thống máy chủ có thể ở các
dạng dạng chính là: Host-based, Hypervisor-based.
- Kiến trúc Host-based:
Kiến trúc này sử dụng một lớp hypervisor chạy trên nền tảng hệ điều hành, sử
dụng các dịch vụ được hệ điều hành cung cấp để phân chia tài nguyên tới các máy
ảo. Nếu ta xem hypervisor này là một lớp phần mềm riêng biệt, thì các hệ điều hành
khách của máy ảo sẽ nằm trên lớp thứ 3 so với phần cứng máy chủ.
Ta có thể thấy, một hệ thố
ng ảo hóa sử dụng kiến trúc Hosted-based được chia
làm 4 lớp hoạt động như sau:
+ Nền tảng phần cứng
+ Hệ điều hành Host
+ Hệ thống virtual machine monitor (hypervisor - giám sát máy ảo)
+ Các ứng dụng máy ảo, sử dụng tài nguyên do hypervisor quản lý.
Hình 2- 1: Kiến trúc host-based
- Kiến trúc hypervisor-based:
Trong kiến trúc này, lớp phần mềm hypervisor chạy trực tiếp trên nền tảng phần
cứng của máy chủ, không thông qua bất kì một hệ điều hành hay một nền tảng nào
khác. Qua đó, các hypervisor này có khả năng điều khiển, kiểm soát phần cứng của
VIELINA
Báo cáo đề tài cấp Bộ 2012
“Nghiên cứu tiếp cận ứng dụng công nghệ điện toán đám
mây phục vụ điều hành quản lý doanh nghiệp”
16
máy chủ. Đồng thời, nó cũng có khả năng quản lý các hệ điều hành chạy trên nó.
VIELINA
Báo cáo đề tài cấp Bộ 2012
“Nghiên cứu tiếp cận ứng dụng công nghệ điện toán đám
mây phục vụ điều hành quản lý doanh nghiệp”
17
¾ Ảo hóa kết nối mạng
Cho phép ảo hóa các đường kết nối mạng, tạo ra một nguồn chung của các kết
nối mạng có thể được gán một cách linh hoạt cho các máy tính, máy chủ và các
thiết bị trong mạng mà không cần phải thay đổi các kết nối vật lý.
¾ Ảo hóa ứng dụng
Với mục đích tạo môi trường làm việc quen thuộc cho người sử dụng đầu cuối.
Ảo hóa ứ
ng dụng là khi chúng ta tách rời sự lệ thuộc vật lý giữa ứng dụng, hệ điều
hành và nền tảng tài nguyên được dùng để tải ứng dụng đó.
Ví dụ: Người sử dụng cài đặt các máy ảo lên máy tính (máy chủ) vật lý của
mình. Máy ảo có cách sử dụng, giao diện sử dụng và quản lý giống hệt như một
máy tính (máy chủ) vật lý thông thường. Máy ảo dường như cũng có một cách
độc
lập bộ vi xử lý, bộ nhớ, kết nối mạng vv. Nhưng tất nhiên đó là những tài nguyên
được gán (được ảo hóa) từ các tài nguyên vật lý của máy vật lý gốc.
Người sử dụng đầu cuối có thể dùng các ứng dụng trên máy trạm/laptop cá nhân
giống như khi các ứng dụng được cài đặt ngay tại máy của họ. Nói cách khác, ảo
hóa đã làm cho người sử dụng “nhìn thấy” rằng các ứng dụng đ
ang được cài đặt và
hoạt động trên máy cá nhân của họ, trong khi thực chất chúng được cài đặt trên các
máy chủ tại trung tâm dữ liệu hay phòng máy chủ.
tầng ảo được gọi là đám mây. Cấu trúc mới này được chỉ ra trong Hình 2-5. Các
máy không hoạ
t động có thể được tắt nguồn điện cho đến khi cần bổ sung thêm khả
năng tính toán như vậy sẽ tạo ra hiệu năng tốt hơn, với các máy ảo được cân bằng,
có thể cân bằng động trên các nút tùy thuộc vào tải riêng của chúng.