nghiên cứu xây dựng các mô hình kiểu mỏ urani trong cát kết ở việt nam - Pdf 25

LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHẤT BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CÁC MÔ HÌNH
KIỂU MỎ URANI TRONG CÁT KẾT Ở VIỆT NAM

CNĐT : NGUYỄN ĐẮC SƠN
9793 HÀ NỘI – 2013

1.2.2. Các công trình đã thực hiện trong nghiên cứu urani ở Việt
Nam
18
Chươ
ng 2. Xây dựng mô hình quặng hóa urani trong cát kết ở vùng
Nông Sơn và Đại Từ
20
2.1. Phạm vi, đối tượng, nội dung nghiên cứu
20
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
20
2.1.2. Thời gian nghiên cứu
20
2.1.3. Nội dung nghiên cứu
20
2.2. Các phương pháp nghiên cứu đã áp dụng trong đề tài
20
2.2.1. Các phương pháp thi công thực địa
20
2.2.2. Gia công, phân tích các loại mẫu
22
2.2.3. Công tác thu thập, xử lý số liệu
22
2.2.4. Phương pháp chuyên gia 24
2.3. Các yếu tố địa chất khống chế s
ự thành tạo các mỏ urani
trong cát kết
24
2.3.1. Các yếu tố cấu trúc kiến tạo
24

2.4.3.2. Mô hình quặng urani khu Núi Hồng
78
Chương 3. Phân vùng triển vọng và dự báo tiềm năng các loại hình
urani trong cát kết ở các khu vực nghiên cứu
83
3.1. Các vấn đề chung
83
3. 2. Các yếu tố khống chế quặng hoá urani
83
3.2.1. Tiền đề địa tầng
83
3.2.2. Tiền đề cấu trúc
84
3.2.3. Xác lập các dấu hiệu tìm kiếm
84
3.2.3.1. Xác lậ
p các dấu hiệu tìm kiếm địa vật lý
84
3.2.3.2. Xác lập dấu hiệu tìm kiếm bằng phương pháp địa hoá
84
3.2.3.3. Dấu hiệu vết lộ thân quặng, công trình khai đào cũ
85
3.3. Kết quả phân vùng triển vọng
85
3.4. Đánh giá tiềm năng quặng urani trong cát kết
88
3.4.1. Tài nguyên urani trong các mỏ, điểm quặng đã được xác nhận
88
3.4.2. Đánh giá tài nguyên urani chưa xác nhận 93
3.5. Xác lập phương pháp điều tra, th

51
Bảng 2.7
Hệ số tương quan giữa các nguyên tố theo kết quả phân tích ICP trong lỗ
khoan
54
Bảng 2.8
So sánh các đặc điểm mỏ Khe Hoa – Khe Cao với mỏ Domisiat (ấn Độ) 57
Bảng 2.9
Hàm lượng các khoáng vật của mảnh vụn trong đá chứa quặng khu Đông
Nam Bến Giằng
60
Bảng 2.10
Thành phần hoá học mẫu nhóm theo các lớp đá chứa quặng urani khu
Đông Nam Bến Giằng
63
Bảng 2.11
Thống kê hàm lượng các khoáng vật của mảnh vụn khu Cà Liêng-Sườn
Giữa
67
Bảng 2.12 Thành phần hoá học quặng urani khu Cà Liêng- Sườn Giữa 70
Bảng 2.13
Tổng hợp đặc điểm địa hóa môi trường trầm tích khu Cà Liêng-Sườn
Giữa
72
Bảng 2.14
Đối sánh các đặc điểm địa chất các mỏ urani trong cát kết ở trũng Nông
Sơn
73
Bảng 2.15
Thống kê sự phân bố urani trong các thành tạo địa chất khu Núi Hồng -
4

DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG BÁO CÁO
Hình 1.1 Mặt cắt ngang minh hoạ các dạng thân quặng urani trong
cát kết
12
Hình 1.2
Mặt cắt ngang qua thân quặng urani kiểu mặt cuốn
14
Hình 1.3
Mặt cắt minh họa các thân quặng urani dạng tấm
14
Hình 1.4 Mặt cắt ngang qua mỏ urani trong cát kết kiểu kiến
tạo/thạch học
15
Hình 2.1
Các mặt cắt qua ranh giới oxy hóa khử ở mỏ urani
trong cát kết miền trung Shirley (Mỹ)
28
Hình 2.2 Sơ đồ địa chất khu Pà Lừa-Pà Rồng, tỉnh Quảng Nam
33
Hình 2.3 Bản đồ địa chất và phân bố thân quặng urani Lô A-khu Pà

Sơ đồ phân vùng triển vọng quặng urani trong cát kết
vùng trũng Nông Sơn
86 5
DANH MỤC CÁC ẢNH TRONG BÁO CÁO
Ảnh 2.1 A. Một vết lộ của sạn cuội kết đa khoáng có kiến trúc hỗn tạp ở
khu Pà Lừa. B. Một đoạn lõi khoan AK 2601 (15-18m) cho thấy
thành phần hỗn tạp của cuội kết trong phần dưới của hệ tầng An
Điềm.
35
Ảnh 2.2 A. Cát sạn kết với cấu tạo nội lớp được xác định bởi các dải màu
đen do sự tích tụ các khoáng vật nặng, quan sát tại khu Pà Lừa.
B. Ảnh chụp dưới kính hiển vi của cát kết khu Pà Lừa. Các mảnh
vụn chủ yếu là felspat sắc cạnh đến á tròn cạnh, điển hình của cát
kết arkose (Mẫu LM 1401/4-LK.1401). Ảnh chụp dưới 2 nikon.
36
Ảnh 2.3 Ảnh 2.3: A. Một phần của đới trượt dòn-dẻo với sản phẩm
milonit hóa và các cấu tạo C’-S thể hiện sự dịch trượt quan sát
trong các đá granit bị mylonit hóa ở gần bất chỉnh hợp với các
trầm tích chứa urani lộ ra ở phía đông khu Pà Lừa. B. Đới
mylonit hóa được lấp đầy bởi các mạch thạch anh bị trong đó các
mạch này cũng bị ép dẹt và phân phiến do quá trình biến dạng
của dá. Sự có mặt của các đới trượt dòn-dẻo đến dẻo chứng tỏ
hoạt đông kiến tạo ép nén diễn ra mạnh mẽ trong khu vực nghiên
cứu.
37
Ảnh 2.4 A. Đới đứt gãy thuận làm dịch chuyển các đá với biên độ hàng
mét khu Pà Lừa. B. Đới dập vỡ với hàm lượng urani (cường độ

còn sót lại lỗ cát kết màu xám, khu Khe Hoa-Khe Cao
53
Ảnh 2.13 Minh họa hoạt động đứt gãy cắt qua trầm tích chứa than khu Núi
Hồng
77 6
TÓM TẮT BÁO CÁO
Đề tài: “ Nghiên cứu xây dựng các mô hình kiểu mỏ urani trong cát kết ở
Việt Nam”
Mục tiêu:
- Nghiên cứu xây dựng các mô hình kiểu mỏ urani trong cát kết Việt Nam làm
cơ sở phân vùng triển vọng và giải quyết đúng đắn vấn đề thăm dò và đánh giá tài
nguyên/trữ lượng urani phục vụ chương trình phát triển điện hạt nhân vì mục đích hòa
bình.
- Đề xuất tổ hợp phương pháp tìm kiếm, thăm dò và đánh giá tài nguyên/trữ
lượng tương ứng với các mô hình kiểu mỏ urani trong cát kết được xác lập ở Việt
Nam.
Nội dung nghiên cứu:
- Thu thập, tổng hợp tài liệu liên quan về các mô hình mỏ urani trong cát kết ở
Việt Nam và trên thế giới.
- Nghiên cứu xác lập các tiêu chí để xây dựng mô hình kiểu mỏ urani trong cát
kết ở Việt Nam.
- Dự báo và khoanh vùng triển vọng quặng urani theo các mô hình kiểu mỏ
urani trong cát kết đã xác lập.
- Nghiên cứu đề xuất tổ
hợp phương pháp tìm kiếm, thăm dò và đánh giá tài
nguyên trữ lượng urani trong cát kết tương ứng với các mô hình đã xác lập.
- Lập báo cáo kết quả thực hiện đề tài.

gốc và mô hình khoáng hóa urani khu Núi Hồng cũng gần tương tự như vùng trũng
Nông Sơn, tuy nhiên mức độ triển vọng về quặng urani ở khu vực này là rất kém.
Kết quả phân vùng triển vọng đã xác lập được các khu có triển vọng theo thứ tự
giảm dần là: khu vực Pà Lừa-Pà Rồng (A
1
) → Khe Hoa – Khe Cao (A
2
) → Đông Nam
Bến Giằng (B
1
)→ Cà Liêng-Sườn Giữa (B
2
) → Chùa Đua - Khe Lốt (B
3
)→ Tây
Thạnh Mỹ (Khe Vinh) (C
1
)→Núi Hồng (C
2
).
Sử dụng phương pháp toán logic, kết hợp phương pháp toán địa chất với
phương pháp địa chất truyền thống, áp dụng phương pháp dự báo sinh khoáng định
lượng cho phép dự báo tiềm năng tài nguyên urani trong cát kết ở Việt Nam. Kết quả
đã cho thấy tổng tài nguyên đã xác nhận đạt khoảng 15 958 tấn. Tài nguyên dự báo đạt
khoảng 193 100 tấn tương ứng với hàm lượng
≥ 0,01% U
3
O
8
trong đó có 24 401 tấn

Theo
hướng cắm
(m)
Theo
đường
phương
(m)
Theo
hướng cắm
(m)
Khoan 40 - 50 25 - 50
III
Khai đào 20 - 25

Kiến nghị
- Sử dụng các mô hình kiểu mỏ urani trong cát kết trong vùng Nông Sơn đã xác
lập để ứng dụng vào công tác điều tra, thăm dò quặng urani trong các khu ở Pà Lừa-Pà
Rồng và các khu tiếp theo như Khe Hoa-Khe Cao, Đông Nam Bến Giằng
- Một số khu vực có triển vọng về quặng urani như: Khe Vinh, An Hòa cần
được đầu tư điều tra chi tiết nhằm gia tăng tài nguyên, trữ lượng urani trong cát kết
trong trũng Nông Sơn.
-
Ở khu Núi Hồng (Đại Từ), các nghiên cứu về quặng hóa urani còn rất sơ
lược. Tuy nhiên, nghiên cứu các tiền đề, các dấu hiệu địa chất, địa vật lý có thể nhận
định khu Núi Hồng có những đặc điểm khá tương đồng với bồn trũng Nông Sơn. Để
xác định rõ đặc điểm quặng hóa và triển vọng quặng urani cần tiến hành điều tra chi
tiết bằng các công trình khoan, khai đào c
ắt qua tầng trầm tích có khả năng chứa quặng
này.


hình kiểu mỏ urani trong cát kết vùng trũng Nông Sơn đã được đề cập ở mức độ khác
nhau trong một số công trình nghiên cứu của các nhà Địa chất trong và ngoài nước
(Nguyễn Văn Hoai và nnk, Trịnh Xuân Bền, Nguyễn Quang Hưng, Trần Nghi ).
Như đã trình bày, hầ
u hết các công trình nghiên cứu quặng urani trong cát kết ở
Việt Nam đều đưa ra những nét khái quát từ thành phần vật chất, điều kiện thành tạo,
kiểu nguồn gốc, nhưng thiếu sự khái quát hoá để hình thành các nguyên tắc chung nhất
nhằm xây dựng mô hình thành tạo quặng urani trong cát kết. Do nhiều nguyên nhân
khác nhau, nên các công trình nghiên cứu về loại hình mỏ urani trong cát kết cũng chỉ
dừng ở mức nghiên cứu khái quát tỷ lệ nhỏ, hầu hế
t thiếu các số liệu chi tiết, chưa có
công trình kiểm chứng. Hiện tại, chưa có công trình nào nghiên cứu xây dựng mô hình
kiểu mỏ urani ở Việt Nam làm cơ sở dự báo triển vọng và lựa chọn phương pháp điều
tra, thăm dò phù hợp với mô hình thành tạo chúng và kiểu mỏ urani trong cát kết cũng
không nằm ngoài thực trạng đó. Vì vậy, việc khoanh định các diện tích triển vọng làm
cơ sở lựa chọ
n diện tích đầu tư thăm dò phát triển mỏ còn nhiều hạn chế, thường gặp
rủi ro lớn. Việc lựa chọn hệ thống thăm dò và phương pháp đánh giá tài nguyên, trữ
lượng gặp nhiều khó khăn, trong nhiều trường hợp sẽ tăng chi phí thăm dò không cần
thiết. Do đó, việc nghiên cứu xây dựng các mô hình kiểu mỏ urani trong cát kết nhằm
xác định quy luật phân bố quặng, làm sáng tỏ hình thái - cấu trúc thân qu
ặng làm cơ sở
dự báo diện tích triển vọng (đặc biệt các thân quặng ẩn) và xác lập tổ hợp phương
pháp tìm kiếm, thăm dò hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm chi phí thăm dò và định hướng cho
công tác khai thác sau này là hết sức cần thiết.

9
2. Cơ sở pháp lý thực hiện đề tài
Nhằm xây dựng các mô hình kiểu mỏ urani trong cát kết ở Việt Nam làm cơ sở
phân vùng triển vọng và giải quyết đúng đắn vấn đề thăm dò và đánh giá tài

mở đầu và kết luận, báo cáo gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về các kiểu mỏ urani trong cát kết
Chương 2: Xác lập mô hình các kiểu mỏ urani trong cát kết ở Việt Nam
Chương 3: Phân vùng triển vọng và dự báo tiềm năng các loại hình urani trong
cát kết ở Việt Nam.
Tham gia thực hiện đề tài gồm: ThS. Nguyễn Đắc Sơn (chủ nhiệm đề tài),
PGS.TS Trần Thanh Hải, PGS.TS Nguyễn Văn Lâm, TS. Bùi Tất Hợp, Ths. Nguyễn
Đăng Thành, TS. Nguyễn Văn Nam, Ths. Trịnh Đình Huấn, TS. Nguyễn Ngọ
c Anh,
KS. Đinh Thái Sơn
Trong quá trình thực hiện đề tài và xây dựng báo cáo tổng kết, tập thể tác giả
luôn nhận được sự chỉ đạo trực tiếp của Lãnh đạo Liên đoàn, sự đóng góp ý kiến quý
báu của các nhà khoa học trong và ngoài Liên đoàn, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản,
Vụ Khoa học Công nghệ - Bộ Tài nguyên và Môi trường. Tập thể tác giả xin chân
thành cảm ơn những chỉ đạo, đóng góp, giúp đỡ quý báu nêu trên.

10
Chương 1. Tổng quan về các mỏ urani trong cát kết
1. Tổng quan chung về tình hình nghiên cứu và đánh giá mô hình quặng
urani
1.1. Tình hình nghiên cứu và đánh giá các mô hình quặng urani trong cát
kết trên thế giới
Các thông tin về tình hình nghiên cứu và đánh giá quặng urani trên thế giới chủ
yếu dựa vào sách đỏ của Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) và cơ quan
năng lượng hạt nhân (NEA) thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD).
1.1.1. Tình hình nghiên cứu urani
Urani là sản phẩm năng lượng quan trọng. Trong thế chiế
n thứ hai đã bắt đầu
nghiên cứu sử dụng urani trong lĩnh vực vũ khí hạt nhân, bắt đầu là Mỹ (1945), sau đó
là Liên Xô (1949). Tiếp theo, urani được sử dụng trong phát triển năng lượng nguyên

tác thăm dò ngoài nước.
Hiện nay, do sự suy thoái tạm thời của kinh tế thế giới, hoạt động tìm kiếm
thăm dò khoáng sản nói chung bị chậm lại nhưng sẽ tiếp tục gia tăng trong vài năm tới
và tìm kiếm thăm dò urani trên thế giới vẫn được coi là hoạt động khoáng sản sôi động

11
nhất, do giá trị và nhu cầu của urani không ngừng tăng cao. Công tác thăm dò urani dự
kiến sẽ tiếp tục tập trung vào các khu vực có triển vọng urani kiểu bất chỉnh hợp hoặc
trong cát kết có thể khai thác bằng phương pháp hòa lọc tại chỗ. Ngoài ra, do giá urani
nhiên liệu tăng cao, công tác thăm dò cũng sẽ tập trung vào tất cả các đối tượng có
triển vọng đã biết hoặc mở rộng ra các khu vực chưa được
điều tra trên thế giới (RED
BOOK, 2007).
Theo phân chia của IAEA (2009), tất cả các mỏ urani đã biết được chia ra 14
kiểu mỏ địa chất - công nghiệp, gồm:
- Kiểu mỏ liên quan đến bất chỉnh hợp (Unconformity-related deposits)
- Kiểu mỏ cát kết (Sandstone deposits)
- Kiểu mỏ phức hệ dăm (Hematite Breccia Complex deposits)
- Kiểu mỏ cuội kết thạch anh (Quartz-pebble conglomerate deposits)
- Kiểu mỏ dạng mạch (Vein type)
- Kiểu mỏ xâm nhập (Intrusive deposits)
- Kiểu mỏ phun trào (Caldera related volcanic deposits)
- Kiểu mỏ biến chất trao đổi (Metasomatic deposits)
- Kiểu mỏ trên bề mặt (Surficial deposits)
- Kiểu mỏ dăm dập vỡ dạng ống (Collapse breccia pipe deposits)
- Kiểu mỏ dạng phosphorit (Phosphorite deposits)
- Kiểu mỏ sét màu đen (Black shale deposits)
- Kiểu mỏ biến chất (Metamorphic deposits)
- Các kiểu mỏ khác (Other type of deposits)
Trong số các loại hình mỏ trên, mỏ urani trong cát kết khá phổ biến trên thế

ắt đá vây quanh. Chiều dày thân quặng thay đổi từ vài
chục cm đến 20 - 30m (hình 1.1).

Ghi chú: 1- Cát kết màu đỏ bị oxy hoá; 2- Cát kết màu xám không bị oxy hoá; 3- Quặng có
hàm lượng urani cao, 4- Quặng có hàm lượng urani trung bình, 5- Quặng có hàm lượng urani
thấp; 6- Hướng di chuyển của nước.
Hình 1.1. Mặt cắt ngang minh hoạ các dạng thân quặng urani trong cát kết
Quặng urani thường có xu thế tái phân bố do sự vận chuyển và tích đọng liên
tục của quặng trong đá dưới tác động oxy hóa hoặc khử của dung dịch trong đá. Sự tái
phân bố của urani trong vỉa liên quan với quãng đường và hướng di chuyển của dòng
nước cũng như môi trường vây quanh quặng. Đây là yếu tố chính dẫn đến sự hình
thành các thân quặng có kích thước và hình dạng khác nhau.
1.1.2.1.2. Nguồn gốc các mỏ urani trong cát kết
Các kết qu
ả nghiên cứu trên thế giới đến nay đưa ra một giả thuyết cơ bản về
nguồn gốc của các mỏ urani như sau:
- Urani được thành tạo trong quá trình tích tụ trầm tích
Theo một số nhà nghiên cứu (Khesa, Fisher và nnk) cho rằng quá trình phong
hoá, phá huỷ các đá tuổi cổ có chứa các thể pegmatit ở phần rìa bồn trũng là yếu tố cơ
bản tạo ra sự tồn tại của urani trong nước hồ, nước suố
i và nước biển. Thông thường,
urani cùng với đồng, bạc, sắt và các thành phần khác chuyển vào dung dịch ở dạng
sulphat. Khi tiếp xúc với bùn chứa tàn tích sinh vật, các kim loại này bị khử và hình
thành các dạng khoáng vật mới bền vững hơn. Chính vì vậy, urani, vanadi, đồng và
các nguyên tố khác được tích tụ đồng thời với các hợp phần của đá. Sự tồn tại của
urani trong các khe nứt của đá hoặc trong các mạch quặng đượ
c giải thích do sự di
chuyển biểu sinh diễn ra nhờ dụng dịch vỉa hoặc dung dịch thuỷ nhiệt về sau.

13

+ Phụ kiểu 1 - kiểu mặt cuốn (Roll - front deposits): Các mỏ dạng mặt cuốn
hoặc dạng lưỡi bao gồm các thân quặng urani cắt qua lớp trầm tích cát kết và thường
tạo các thân kéo dài từ đáy đến nóc lớp cát kết. Chúng đượ
c thành tạo do sự tiếp xúc
của 2 dòng dung dịch oxy hóa và dòng khử di chuyển trong lớp đá cát kết. Ranh giới
của thân quặng thường không rõ ràng, do sự tác động của sự hòa trộn dung dịch trong
đới oxy hóa - khử (hình 1.2). Trữ lượng mỏ có thể từ một vài trăm tấn đến vài nghìn
tấn urani với hàm lượng U trung bình từ 0,05% đến 0,25%. Ví dụ các mỏ: Moynkun,
Inkay và Mynkuduk (Kazăkstan), Crow Butte và Smith Ranch (Mỹ) và Bukinay,
Suraly và Uchkuduk (Uzbekistan).

14

Hình 1.2. Mặt cắt ngang qua thân quặng urani kiểu mặt cuốn
+ Phụ kiểu 2 - kiểu dạng tấm (Tabular deposits):
Các mỏ thuộc phụ kiểu này thường tạo thành các thể dạng tấm, thấu kính nằm
chỉnh hợp với các lớp đá vây quanh nhưng thường có hình dạng bất thường và nằm
trong đới khử của tầng trầm tích (hình 1.3). Hình 1.3. Mặt cắt minh họa các thân quặng urani dạng tấm
Trữ lượng mỏ có thể chứa từ vài trăm tấn đến 150.000 tấn urani với hàm lượng
U trung bình từ 0,05% đến 0,5%, đôi khi tới 1%. Ví dụ điển hình là các mỏ:
Westmoreland (Australia), Nuketting (Trung Quốc), Harm – Straz (Cộng hòa Séc),
Akouta, Arlit, Imouraren (Niger) và Colorado Plateau (Mỹ), Domisiat (ấn Độ).
+ Phụ kiểu 3 - kiểu kênh dẫn đáy (Basal channel deposits):
Được hình thành trong những hệ thống đáy sông, suối cổ, tạo thành những kênh
dẫn tự
nhiên rộng hàng trăm mét được lấp đầy bởi những trầm tích aluvi dày, có độ
thấm nước cao. Tại đây, urani chủ yếu đi cùng với các mảnh vụn thực vật phá hủy từ

Tiêu chuẩn mỏ
- Quy mô: từ nhỏ đến 50.000 tấn U
3
O
8
.
- Hàm lượng trung bình 0,05 - 0,4% U
3
O
8
.
- Mỏ chủ yếu đơn khoáng - urani. 3 Tiêu chuẩn địa
chất hay môi
trường chứa
quặng
Cát kết có nguồn gốc sông, suối và thành phần ít khoáng hoặc arkoz,
ít hơn là cát kết thạch anh, hoặc cuội kết thạch anh, hoặc cát kết bột
kết tướng ven hồ.
- Cấp hạt cát kết phổ biến từ trung bình đến thô, hiếm thấy cấp hạt
quá bé trong sét kết hoặc quá lớn trong sạn kết.
- Cấ

- Địa hình chứa quặng dạng bồn trũng nửa hở như thung lũng giữa
núi.
5
Tiêu chuẩn
khoáng hóa
- Khoáng hóa tồn tại dưới 4 dạng: vỉa (tabular), mặt cuồn (roll-front),
dạng kênh dẫn đáy (basal channel), dạng kiến tạo/thạch học
(tectonic/lithologic).
- Khoáng hóa có thể phân bố trên nhiều tầng khác nhau.
- Ranh giới giữa khoáng hóa với đá vây quanh chuyển tiếp từ từ
thường không rõ ràng liên tục.
- Khoáng vật quặng chứa pitchblende, coffinit.
- Các nguyên tố có ích đi kèm: V, Mo, Se, Cu. 6 Tuổi thành tạo
Chỉ từ Paleozoi đến Mesozoi, tức sau khi thảm thực vật trên cạn phát
triển. Có 3 giai đoạn:
- 0 - 70 triệu năm: Kaizozoi
- 70 - 225 triệu năm: Mesozoi
- 225 - 600 triệu năm: Paleozoi

Do lịch sử hoạt động kiến tạo địa chất lâu dài đã kéo theo quá trình sinh khoáng
nội sinh phong phú và đa dạng và tạo ra cho lãnh thổ Việt Nam những nguồn tài
nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng, và đa nguồn. Tương tự như các khoáng sản
khác, urani cũng đã được phát hiện tại nhiều khu vực khác nhau trên lãnh thổ Việt

17
Nam. Sự phong phú của urani còn được thể hiện bởi các kiểu thành tạo và tuổi sinh
thành của chúng, trong đó urani có mặt cả trong các đá trầm tích biến chất tuổi tiền
Cambri tới các đá trầm tích Mesozoi, và đá phun trào, hoặc xâm nhập Kainozoi.
Công tác điều tra, nghiên cứu về urani chỉ thực sự được tiến hành sau năm
1975, nhất là sau năm 1980 công tác này được đẩy mạnh với việc phát hiện một số
điểm khoáng hóa urani trong cát k
ết vùng trũng Nông Sơn. Tuy nhiên, mức độ điều tra
đối với urani còn chưa tương xứng với tiềm năng so với các loại hình khoáng sản khác
như than đá, chì - kẽm, sắt, vàng Mức độ đầu tư cho điều tra urani còn ít về vốn, số
công trình nghiên cứu, cũng như các công trình nghiên cứu sâu (khối lượng khoan máy
từ năm 1983 đến nay khoảng 20.000m).
Công tác thăm dò khoáng sản urani mới chỉ có tiến hành với diện tích khoả
ng
0,5km
2
ở Bình Đường (Cao Bằng) đối với kiểu urani trầm tích bề mặt, song số lượng
công trình khoan cũng hạn chế. Năm 2010, khu Pà Lừa (Quảng Nam) bắt đầu triển
khai công tác thăm dò urani kiểu mỏ urani trong cát kết phục vụ “Kế hoạch tổng thể
thực hiện chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình đến năm
2020” của Chính phủ.
Các vùng, diện tích khác có chứa khoáng hoá urani mớ
i chỉ dừng lại ở mức
đánh giá tỷ lệ từ 1.10.000 - 1:2.000 và tỷ lệ nhỏ hơn, hoặc được đánh giá, dự báo tài
nguyên đi kèm khoáng sản khác trong các đề án đánh giá, thăm dò quặng đất hiếm,

- Kiểu mỏ cát kết
- Kiểu phun trào
- Kiểu mỏ xâm nhập
- Kiểu dạng mạch
- Kiểu mỏ biến chất
- Kiểu mỏ than linit
- Kiểu mỏ trên bề mặt
- Kiểu mỏ bất chỉnh hợp?
- Kiểu phosphorit
- Kiểu mỏ biến chất trao đổi
Kiểu mỏ urani trong cát kết phân bố chủ yếu trong các trầm tích lục nguyên tuổi
Trias muộn ở vùng Nông Sơn (Quảng Nam).
Đây là kiểu mỏ được xem là có triển
vọng nhất ở Việt Nam hiện nay với nhiều mỏ, điểm quặng đã được đánh giá tài
nguyên cấp 333 như: Khe Hoa - Khe Cao, Pà Rồng, Pà Lừa, An Điềm, Đông Nam Bến
Giằng…, trong đó khu Pà Lừa - Pà Rồng đã bắt đầu triển khai công tác thăm dò từ
năm 2010. Ở đây, quặng urani phân bố chủ yếu trong cát kết hạt trung, màu xám, xám
đen, tuổi Trias muộ
n. Hình thái thân quặng biến đổi phức tạp, bước đầu xác định có
dạng tấm (vỉa), thấu kính với kích thước rất khác nhau. Hàm lượng quặng urani
thuộc loại trung bình đến thấp so với các mỏ loại hình tương tự trên thế giới.
Ngoài vùng Nông Sơn (Quảng Nam), ở vùng Đại Từ (Thái Nguyên) cũng đã
phát hiện sự có mặt dị thường urani trong trầm tích cát kết thuộc hệ tầng Văn Lãng
(T
3
n-rvl) nhưng mức độ nghiên cứu còn rất sơ lược, chưa rõ mô hình kiểu mỏ urani.
Các loại hình mỏ urani khác cũng được điều tra sơ bộ. Tuy nhiên, cho đến nay
chưa có các số liệu đáng tin cậy về loại hình nguồn gốc cũng như quy mô và triển
vọng của chúng, đây là các vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu.
1.2.2. Các công trình đã thực hiện trong nghiên cứu urani ở Việt Nam

ăm dò urani trong cát kết đã được thi công ở khu vực Pà Lừa - Pà Rồng
(thuộc rìa tây bồn trũng Nông Sơn). Một thực tế là do chưa xác lập được các mô hình
kiểu mỏ urani trong cát kết ở trũng Nông Sơn nói riêng ở Việt Nam nói chung, nên các
nhà địa chất Liên đoàn Địa chất xạ - hiếm tạm xếp mỏ urani trong cát kết ở khu Pà
Lừa - Pà Rồng vào dạng thấu kính, vỉa (tấm) để thiết kế mạng lướ
i bố trí công trình
thăm dò (mạng lưới tạm áp dụng với giả thiết quặng hóa đẳng hướng, với ô vuông
(50×50)m.
Từ những dẫn liệu trên cho thấy các công trình nghiên cứu của các nhà địa chất
Việt Nam và nước ngoài trước đây đã bước đầu chỉ ra một số thông số về điều kiện địa
chất - kiến tạo, đặc điểm thành phần vật chất, môi trườ
ng trầm tích, điều kiện hóa lý
thành tạo quặng urani trong cát kết trũng Nông Sơn.
Như đã trình bày, hầu hết các công trình nghiên cứu quặng urani trong cát kết ở
Việt Nam đều đưa ra những nét khái quát từ thành phần vật chất, điều kiện thành tạo,
kiểu nguồn gốc, nhưng thiếu sự khái quát hoá để hình thành các nguyên tắc chung nhất
nhằm xây dựng mô hình thành tạo quặng urani trong cát kết.
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, nên các công trình nghiên cứu về loại hình
mỏ urani trong cát kết cũng chỉ dừng ở mức nghiên cứu khái quát tỷ lệ nhỏ, hầu hết
thiếu các số liệu chi tiết, chưa có công trình kiểm chứng. Hiện tại, chưa có công trình
nào nghiên cứu xây dựng mô hình kiểu mỏ urani ở Việt Nam làm cơ sở dự báo triển
vọng và lựa chọn phương pháp điều tra, thăm dò phù hợp với mô hình thành tạo chúng
và kiểu mỏ urani trong cát kết cũng không nằm ngoài th
ực trạng đó. Vì vậy, việc
khoanh định các diện tích triển vọng làm cơ sở lựa chọn diện tích đầu tư thăm dò phát
triển mỏ còn nhiều hạn chế, thường gặp rủi ro lớn. Việc lựa chọn hệ thống thăm dò và
phương pháp đánh giá tài nguyên, trữ lượng gặp nhiều khó khăn, trong nhiều trường
hợp sẽ tăng chi phí thăm dò không cần thiết.
Bên cạnh
đó các công trình nghiên cứu trước đây mới dừng lại ở mức sơ lược,

ấu trúc địa chất; thành phần vật chất và độ hạt đá
chứa quặng, vây quanh quặng; môi trường trầm tích, môi trường bảo tồn quặng… ).
- Dự báo và khoanh vùng triển vọng quặng urani theo các mô hình kiểu mỏ
urani trong cát kết đã xác lập (dựa trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa yếu tố địa
chất với quặng urani, đặc điểm trường địa hóa - khoáng vật, trường địa vật lý, quan hệ

giữa urani với các nguyên tố đi kèm: V, Mo, Cu, Se,…).
- Nghiên cứu đề xuất tổ hợp phương pháp tìm kiếm, thăm dò và đánh giá tài
nguyên trữ lương urani trong cát kết tương ứng với các mô hình đã xác lập (dựa trên
cơ sở phân tích tiền đề và dấu hiệu tìm kiếm, kiểu nguồn gốc và đặc điểm phân bố, đặc
điểm địa chất thân quặng và đặc điểm biến hóa quặng hóa).
2.2. Các phươ
ng pháp nghiên cứu đã áp dụng trong đề tài
Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài, tập thể tác giả đã áp dụng tổ hợp
các phương pháp sau:
2.2.1. Các phương pháp thi công thực địa
Trên cơ sở tổng hợp các tài liệu hiện có từ trước đến nay, đối sánh với nhiệm vụ
đặt ra, đề tài dự kiến một số nội dung cần triển khai ở thực địa. Công tác thi công thự
c
địa được thực hiện trên một số vùng có triển vọng về urani nhằm bổ sung tài liệu thực tế
để giải quyết những vấn đề còn tồn tại, lấy các loại mẫu cần thiết phục vụ cho các nội
dung nghiên cứu của đề tài. Sau đây là các dạng công tác thi công thực địa chủ yếu:
2.2.1.1. Khảo sát địa chất – cấu trúc
Mục đích của công tác khảo sát địa chấ
t nhằm nghiên cứu, kiểm tra, bổ sung
một số nơi xét thấy cần thiết, liên quan đến các khu mỏ urani, dị thường địa vật lý, dị
thường địa hóa, các biểu hiện khoáng hóa và các cấu trúc địa chất quan trọng đã xác
định ở giai đoạn trước. Đề tài đã tiến hành một số lộ trình địa chất ở các khu có triển
vọng urani thuộc vùng trũng Nông Sơn như: khu Pà Lừa - Pà Rồng, An Đ
iềm, khu Núi

Để phục vụ cho công tác xác định mô hình các kiểu mỏ urani trong cát kết, tập
thể tác giả đã tiến hành lấy các loại mẫu:
+ Mẫu hóa: đã tiến hành lấy một số mẫu trong các lỗ khoan thuộc đề án “thăm
dò urani khu Pà Lừa – Pà Rồng’’ đang thi công của Liên đoàn Địa chất xạ - hiếm, một
số mẫu được lấy trong các lỗ khoan đã thi công thuộ
c các đề án đã thi công ở giai đoạn
trước như khu Khe Hoa - Khe Cao, An Điềm, Đông Nam Bến Giằng đang được lưu
giữ trong kho mẫu của Liên đoàn Địa chất xạ - hiếm và tại các vết lộ tại khu Núi
Hồng, tỉnh Thái Nguyên. Các mẫu để phân tích ICP đồng thời.
+ Mẫu thạch học: được lấy trong các tập đá khác nhau trong các vết lộ và trong
các lỗ khoan nhằm xác định tên đá, khoáng vật tạ
o đá, cấu tạo, kiến trúc của đá và
quặng dưới kính hiển vi.
+ Mẫu khoáng tướng: nhằm xác định thành phần khoáng vật, cấu tạo và kiến
trúc quặng, thứ tự sinh thành và tổ hợp cộng sinh khoáng vật. Mẫu được lấy trong các
tập đá khác nhau trong các vết lộ và trong các lỗ khoan.

22
+ Mẫu giã đãi: được sử dụng để xác định thành phần khoáng vật quặng. Mẫu
được lấy trong các công trình hào, vết lộ, khoan, tại những nơi có cường độ phóng xạ
cao.
+ Mẫu độ hạt: nhằm xác định tên đá trầm tích, chỉ ra điều kiện phá hủy cơ học
của môi trường, điều kiện trầm đọng và nơi xuất phát của vật liệu. Mẫu đượ
c lấy trong
các công trình hào, vết lộ, khoan trên các mặt cắt chi tiết.
2.2.2. Gia công, phân tích các loại mẫu
2.2.2.1. Gia công mẫu
Tất cả các mẫu hóa được gia công trước khi gửi phân tích, mẫu được gia công
theo sơ đồ thống nhất. Các mẫu: độ hạt, lát mỏng, khoáng tướng, giã đãi được gia công
tại nơi phân tích.

2.2.3.1. Thu thập tổng hợ
p tài liệu
- Tài liệu nước ngoài: đã thu thập các tài liệu nước ngoài liên quan đến quặng
urani kiểu mỏ cát kết (tiếng Anh, tiếng Nga) từ các nguồn khác nhau. Các kiểu mô
hình mỏ urani trong cát kết điển hình trên thế giới được biên dịch ra tiếng Việt để sử
dụng trong những nghiên cứu tiếp theo của đề tài. Các tài liệu biên dịch với các nội
dung: tổng quan về urani; đặc điểm chung của mỏ urani trong cát kết, trong đ
ó chú ý
đến đặc đểm phân bố, hình thái kích thước thân quặng và điều kiện thành tạo.

23
- Tài liệu trong nước:
+ Đã tiến hành thu thập tất cả các dạng tài liệu thuộc các báo cáo tìm kiếm,
đánh giá quặng urani của các khu: Pà Lừa - Pà Rồng, Khe Hoa - Khe Cao, Đông Nam
Bến Giằng, Cà Liêng-Sườn Giữa, tỉnh Quảng Nam và vùng Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
hiện đang lưu trữ tại Liên đoàn. Các tài liệu đã thu thập như: địa chất, khoáng sản,
thạch học - cấu trúc, tướng đá, địa vật lý, địa hoá, các kết qu
ả phân tích mẫu …, liên
quan đến lập báo cáo tổng kết và các chuyên đề cần thành lập.
+ Kết quả đo xạ hàng không tỷ lệ l:50.000 -1:25.000 vùng Nông Sơn, tỉnh Quảng
Nam.
2.2.3.2. Xử lý số liệu
a. Xử lý số liệu địa chất - cấu trúc
- Sử dụng bản đồ địa chất 1:50.000 vùng Nông Sơn, vùng Đại Từ để làm cơ sở
nghiên cứu, chỉnh lý các bản đồ cấu trúc.
- Sử dụ
ng bản đồ địa chất tỷ lệ 1: 2.000 của các khu Pà Lừa – Pà Rồng, Khe
Hoa – Khe Cao, Đông Nam Bến Giằng, Cà Liêng – Sườn Giữa, Khu Núi Hồng để làm
cơ sở nghiên cứu, chỉnh lý thành lập các bản đồ địa chất, cấu trúc các khu mỏ.
b. Xử lý số liệu địa hóa

- Đưa các dị thường xạ mặt đất vào bản đồ tổng hợp của các trường nói trên.
Tổng hợp, xử lý tài liệu các loại được thực hiện bằng việc áp dụng các phương
pháp truyền thống, kết hợp với các phương pháp hiện đại để xây dựng báo cáo tổng kết
các chuyên đề như:

24
- Xác định được đặc điểm cấu trúc địa chất các khu mỏ và mối liên quan với
quặng hóa urani
- Nghiên cứu đặc điểm thạch học – tướng đá và đưa ra mối liên quan của chúng
với quặng hóa urani.
- Xác lập được nguồn cung cấp vật chất tạo quặng urani trong các vùng nghiên
cứu.
- Nghiên cứu thành phần vật chất quặng urani trong các vùng nghiên cứu.
- Đưa ra được các tiêu chí xây dựng mô hình thành tạo mỏ urani trong cát kế
t ở
Nông Sơn và Đại Từ.
Áp dụng các tiêu chuẩn khống chế quặng hoá để so sánh lựa chọn diện tích có
triển vọng về quặng hoá urani theo các mô hình kiểu mỏ urani trong cát kết ở Việt
Nam đã xây dựng.
- Áp dụng phương pháp truyền thống và phương pháp dự báo sinh khoáng định
lượng (phương pháp tương tự, phương pháp thống kê, phương pháp tính thẳng theo thông
số quặng hoá, ), kết hợp phương pháp chuyên gia để đánh giá tài nguyên, trữ
lượng urani
trong các vùng quặng urani đã xác nhận hoặc dự báo trên lãnh thổ Việt Nam.
- Áp dụng lý thuyết thông tin logic kết hợp các bài toán địa chất để xác lập tổ hợp
phương pháp điều tra, thăm dò tương ứng với các mô hình kiểu mỏ urani trong cát kết đã
xây dựng ở Việt Nam.
2.2.4. Phương pháp chuyên gia
Lấy ý kiến các chuyên gia chuyên sâu về các lĩnh vực sinh khoáng urani, kiến tạo,
địa hóa đối với kiểu mỏ urani trong cát kết ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status