Chiếu dời đô là tác phẩm được Lý Công Uẩn soạn ra vào tháng 7 năm
1010 để công bố quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Đại La. Chiếu dời đô có giá trị
to lớn, thể hiện tầm nhìn vượt thời đại của Lý Công Uẩn. Dù đã trải qua hơn
1000 năm, tác phẩm này vẫn có những giá trị sâu sắc, đầy tính thực tiễn.
Lý Công Uẩn (974 – 1028) lên làm vua năm 1009, niên hiệu là Thuận
Thiên. Ông là người thông minh, nhân ái, chính trực, có công lớn trong việc lập
triều Lý, mở ra một thời kì thái bình thịnh trị lâu dài cho dân tộc. Tháng 7, mùa
thu, năm 1010 Lý Thái Tổ nhận thấy đất Hoa Lư chật hẹp, ẩm thấp không tiện
cho giao thông bèn viết bài Chiếu quyết định dời đô ra Đại La (sau đổi thành
Thăng Long, tức Hà Nội ngày nay).
Theo từ điển thuật ngữ văn học, chiếu là một thể loại văn thư nhà vua
dùng để ban bố mệnh lệnh cho thần dân. Như vậy, có thể hiểu chiếu là một loại
văn cung đình, tác giả của chiếu là nhà vua, độc giả chính là nhân dân. Nội
dung của các bài chiếu thường là những chủ trương, chính sách cụ thể của vua.
Chiếu xuất phát không phải là một tác phẩm văn học mà là một văn bản chính
trị, có tính chất giáo lệnh. Chính vì thế, bài chiếu thường có tính chất trang
trọng, chặt chẽ và hơi khô khan.
Chiếu chỉ được viết bằng chữ Hán. Chiếu có thể được viết bằng văn xuôi,
văn vần hay văn biền ngẫu. Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn viết bằng văn biền
ngẫu.
Chiếu là một thể văn có ở Trung Quốc từ thời cổ đại, được truyền sang
nước ta từ lâu đời. Chiếu cùng loại với mệnh, lệnh và chế nhưng mức độ uy lực
pháp luật của chiếu cao hơn, nội dung của chiếu thường là những vấn đề quan
trọng của quốc gia.
Xuất phát từ đặc điểm thể loại của chiếu, ta có thể hiểu vì sao Lý Công
Uẩn lại chọn thể loại này để công bố quyết định dời đô. Kinh đô là trung tâm
chính trị của đất nước, việc dời đô có thể làm đất nước phát triển hơn hay thụt
lùi đi tùy thuộc vào sự đúng đắn của quyết định di dời ấy. Chính vì thế, quyết
định dời đô là một quyết định quan trọng bậc nhất của đất nước, chỉ có chiếu là
thể loại phù hợp nhất.
Nội dung bài chiếu chia làm hai phần: phần một giải thích vì sao phải dời
Sau khi khái quát quy luật dời đô, Lý Công Uẩn đi vào giải thích nguyên
nhân tại sao lại phải dời đô lúc này. Theo quy luật ấy, kinh đô phải là nơi làm
cho vận nước phát triển lâu dài, nhưng hai họ Đinh Lê đã chọn kinh đô là đất
nước hao tổn dần. Lý Công Uẩn phê phán họ Đinh Lê là tự tiện làm theo ý mình
, không nhìn đến mệnh trời (trái với quy luật dời đô đã khái quát ở trên), không
biết nhìn vào bài học kinh nghiệm của hai nhà Thương Chu, coi thường lịch sử
nên ở yên ở Hoa Lư. Chính vì ở yên ở Hoa Lư làm cho đất nước có những hậu
quả nghiêm trọng: hai triều Đinh Lê không kéo dài, chỉ truyền được qua hai đời,
nhân dân hao tổn dần (vì những cuộc nội chiến, phân phong, cát cứ và chống
ngoại xâm), muôn vật mất đi những điều kiện thích hợp với nó. Chính vì hai họ
Đinh Lê đã đi ngược lại với quy luật dời đô, đi ngược lại lịch sử gây hậu quả
nghiêm trọng nên Lý Công Uẩn đã rất đau lòng, không thể không dời đô.
Như vậy, trong phần một Lý Công Uẩn đã thuyết phục dời đô khỏi Hoa
Lư rất thành công. Đầu tiên là nêu những sự thực lịch sử từ đó khái quát quy
luật, bài học dời đô; sau đó ông chứng minh hai họ Đinh Lê đi ngược lại với bài
học đó, gây hậu quả nghiêm trọng nên bắt buộc dời đô.
Sang phần hai, Lý Công Uẩn thuyết phục về việc lựa chọn Đại La làm
kinh đô là hợp với quy luật dời đô. Đầu tiên Lý Công Uẩn nhắc đến Đại La với
sự kiện thành Đại La của Cao Biền – một viên quan đô hộ người Hán đã cai trị
nước ta trong thời kì Bắc thuộc. Cao Biền là người giỏi phong thủy, địa lí nên
đã nhìn ra cái thế đắc địa của Đại La và chọn nơi này làm nơi đóng đô.
Vùng đất Đại La có những ưu thế hơn hẳn Hoa Lư, xứng đáng là kinh đô
của đất nước. Đây là vùng đất chọn được ở giữa trung tâm của trời đất, bờ cõi.
Khái niệm trung tâm ở đây không phải là trung tâm về địa lý mà là trung tâm về
phong thủy, tâm linh, về chính trị, xã hội. Đại La là nơi tụ hội của bốn phương,
tiện cho sự phát triển của đất nước. Đất ấy cũng là đầu mối cả các con đường bộ
Bắc - Nam, Đông - Tây, nhất là đường thủy vì nằm bên con sông lớn nhất trăm
sông trong miền chia nước: sông Cái - sông Hồng. Sông Cái lại như con hào tự
nhiên mênh mang che chở mạn Bắc thành lũy, khi có nạn giặc ngoài. Rõ là thế
đất đế đô của thời mở mang, hưng thịnh dài lâu, khác xa kinh đô Hoa Lư thế
yên bình, muôn vật phát huy được tột cùng của sự phong phú.
Sau khi phân tích hai khía cạnh: phong thủy – tâm linh và địa lý – thực
tế, Lý Công Uẩn đã khẳng định rằng thế đất Đại La là nơi phù hợp nhất để đóng
đô, là nơi đất đẹp, cảnh đẹp, hội tụ của các chốn đô hội khắp bốn phương, là
kinh đô loại ưu đẳng của muôn đời đế vương. Từ đó, Lý Công Uẩn quyết định
dời đô, ông hỏi ý kiến các quan thần: các khanh thấy thế nào? Đây là sự thể
hiện tinh thần dân chủ của Lý Công Uẩn.
Với việc nhận thức sự khác nhau giữa Hoa Lư và Đại La, đưa ra quyết
định dời đô, Lý Công Uẩn là người có tầm nhìn xa và rất sáng suốt. Hoa Lư là
vùng núi hẻo lánh, chỉ hợp với chiến tranh, thủ chiến chứ không hợp với thời
hòa bình, thịnh trị. Các nghiên cứu khảo cổ đã cho thấy ở ven sông Hàm Long,
gần cố đô Hoa Lư có một khu đô thị dài khoảng 1km, với trình độ phát triển
khá cao, đời sống thịnh trị. Như vậy, có thể thấy Hoa Lư là một kinh đô mà thị
nằm ngoài đô, không tạo điều kiện để phát triển trong thời bình được. Nếu cứ
mãi đóng đô ở Hoa Lư thì đất nước không phát triển đi lên được.
Ngược lại, Đại La là vùng dân cư đông đúc, đời sống phát triển ở mức
cao. Đây là vùng nằm giữa trung tâm đồng bằng sông Hồng, phù hợp giao
thông, phát triển kinh tế, tập trung được cả nước. Không những thế, về thực tế,
thời điểm này, Đại La là một khu vực phát triển ở nước ta. Sau khi được chọn
làm trung tâm hành chính từ thời Bắc thuộc, nơi này đã trở thành khu vực có
tốc độ phát triển khá nhanh. Mặc dù dưới thời Đinh – Lê không được chọn làm
kinh đô nhưng không có nghĩa là khu vực này không phát triển. Các kết quả
khảo cổ học với những sản phẩm tinh xảo, quý hiếm cho thấy vào thời kì này,
Đại La là một khu vực khá giàu có, phát triển.
Tuy nhiên, Đại La bốn bề trống trải, không thể phù hợp cho các cuộc
chiến. Thực tế lịch sử cho thấy trong những lúc đất nước có ngoại xâm, các
triều đại luôn phải bỏ Thăng Long, lấy nơi khác làm căn cứ địa để chiến đấu.
Như vậy, có thể thấy, Hoa Lư là kinh đô của thời chiến còn Đại La là kinh đô
của thời bình.
Việc Lý Công Uẩn nhận ra sự khác nhau giữa hai vùng đất này và quyết
Phú Xuân ta thấy Thăng Long vẫn xứng đáng là kinh đô hơn cả. Hoa Lư và tây
Đô chỉ phù hợp với thời chiến tranh, loạn lạc còn Phú Xuân chỉ là dải đất hẹp,
trải qua hơn hai trăm năm làm kinh đô cho nhà Nguyễn – triều đại phong kiến
hội tụ mọi điều kiện tốt nhất để phát triển - vùng đất này vẫn không thể phát
huy được vai trò kinh đô của mình.
Còn Thăng Long, từ sau khi được Lý Công Uẩn chọn làm kinh đô, vùng
đất này đã chứng tỏ nơi này là nơi phù hợp nhất để làm kinh đô cho nước ta.
Quá trình phát triển của Thăng Long sau này có thể tóm tắt như sau:
Từ năm 1010 đến năm 1397: là kinh đô của nhà Lý, nhà Trần
Từ năm 1397 đến năm 1407: là Đông Đô của nhà Hồ
Từ năm 1407 đến năm 1427: là thành Đông Quan của nhà Minh
Từ năm 1428 đến năm 1789: là Đông Kinh của nhà Lê Sơ, nhà Mạc, nahf
Trịnh
Từ năm 1789 đến năm 1801: là trấn Bắc Thành của Tây Sơn Nguyễn Huệ
Từ năm 1802 đến năm 1840: là trấn Bắc Thành của nhà Nguyễn
Từ năm 1820 đến khi Pháp chiếm Hà Nội: là tình thành Hà Nội
Từ khi Pháp chiếm Hà Nội đến năm 1945: là thủ phủ chính trị, hành
chính của Pháp ở Đông Dương
Từ năm 1945 đến nay: là thủ đô của nước Việt Nam dân chủ công hòa rồi
đến Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Như vậy, có thể thấy, từ khi Lý Công Uẩn quyết định dời đô về Thăng
Long, nơi đây đã liên tục là trung tâm chính trị đầu não của quốc gia, dân tộc.
Có hai giai đoạn từ năm 1397 – 1427 và 1789 – 1945, tuy không phải là trung
tâm đầu não nhưng vẫn là trung tâm hành chính, chính trị đại diện cho quyền
lực Nhà Nước ở nơi đây.
Từ sự phân tích trên, có thể thấy Lý Công Uẩn là một nhà chính trị thiên
tài, người có tầm nhìn xa và chiến lược, đã nhận ra sự ưu việt của mảnh đất Đại
La. Tuy ông không phải là người đầu tiên nhìn thấy tiềm năng của vùng đất này
và chọn nơi đây là trung tâm đầu não của đất nước nhưng phải đến Lý Công
Uẩn thì tiềm năng của Đại La mới được nhận thức đầy đủ, sâu sắc và phát huy
đầu con đường quan lộ từ việc làm quan cho nhà Đinh rồi đến nhà Lê. Thời
này, tư tưởng trung quân chưa chi phối mạnh mẽ đến quân thần, nhưng hai nhà
Đinh Lê chính là người nâng đỡ Lý Công Uẩn đầu tiên trên con đường đến ngai
vàng sau này. Sự khinh miệt đấy có thể gọi là hành động “qua cầu rút ván”,
đáng phê phán của một bậc đế vương ích kỉ.
Nhìn lại quá trình phát triển của vùng đất Đại La – Thăng Long – Hà
Nội trong lịch sử, ta thấy nơi này và Chiếu dời đô có mối quan hệ rất sâu sắc.
Sự phát triển trước đó của Đại La là cơ sở để Lý Công Uẩn đưa đến quyết định
dời đô nhưng chính Chiếu dời đô là bước ngoặt đưa đến sự phát triển, vai trò
quan trọng của Đại La – Thăng Long – Hà Nội sau này.
Những di chỉ khảo cổ tại Cổ Loa cho thấy con người đã xuất hiện ở khu
vực Hà Nội từ cách đây 2 vạn năm, giai đoạn của nền văn hóa Sơn Vi. Thế kỷ 3
trước Công Nguyên, trong cuộc chiến với quân Tần từ phương Bắc, Thục
Phán quyết định đóng đô ở Cổ Loa, nay là huyện Đông Anh, cách trung tâm Hà
Nội khoảng 15 km. Sự xuất hiện của thành Cổ Loa ghi dấu Hà Nội lần đầu tiên
trở thành một đô thị trung tâm về chính trị và xã hội.
Thất bại của Thục Phán đầu thế kỷ 2 trước Công Nguyên đã kết thúc giai
đoạn độc lập của Âu Lạc, bắt đầu giai đoạn một ngàn năm bị các triều đại
phong kiến Trung Hoa thống trị. Thời kỳ nhà Hán, nước Âu Lạc được chia
thành ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam, Hà Nội khi đó thuộc quận
Giao Chỉ. Vắng bóng trong sử sách suốt năm thế kỷ đầu, đến khoảng năm 454–
456, Hà Nội mới được ghi lại là trung tâm của huyện Tống Bình. Năm 544, Lý
Bí nổi dậy chống lại nhà Lương, tự xưng hoàng đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân.
Người cháu của Lý Bí là Lý Phật Tử tới đóng đô ở Cổ Loa, nhưng nền độc lập
này chỉ kéo dài tới năm 602. Thời kỳ Nhà Đường, An Nam được chia thành 12
châu với 50 huyện, Tống Bình là trung tâm của An Nam đô hộ phủ. Năm 866,
viên tướng nhà Đường Cao Biền xây dựng một thành trì mới, Tống Bình được
đổi tên thành Đại La – thủ phủ của Tĩnh Hải quân. Thế kỷ 10, sau chiến thắng
của Ngô Quyền trước quân Nam Hán, Cổ Loa một lần nữa trở thành kinh đô
của nước Việt.
đoạn đê của sông này từ Bến Nứa đến Ô Đống Mác, phía bắc dựa theo hữu
ngạn sông Tô Lịch phía nam Hồ Tây từ Bưởi đến Hàng Buồm ngày nay, phía
tây theo tả ngạn sông Tô Lịch từ Bưởi đến Ô Cầu Giấy, phía nam theo sông
Kim Ngưu qua Giảng Võ, Ô Chợ Dừa, Ô Cầu Dền, đến Ô Đống Mác. Thành
Đại La đời Lý mở các cửa: Triều Đông (dốc Hòe Nhai), Tây Dương (Cầu
Giấy), Trường Quảng (Ô Chợ Dừa), Cửa Nam (Ô Cầu Dền), Vạn Xuân (Ô
Đống Mác). Thành Đại La được bao bọc mặt ngoài bởi ba con sông: sông Nhị,
sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu và được tận dụng như những con hào tự nhiên.
Như vậy, có thể thấy Đại La dưới thời Lý Công Uẩn dường như trùng
khít với Đại La thời Cao Biền. Lý Công Uẩn đã học tập Cao Biền rất nhiều
trong xây dựng kinh đô và tận dụng tối đa những công trình xây dựng có từ thời
ấy mà vẫn còn sử dụng được. Nhà Lý đã là triều đại đầu tiên gây dựng cơ sở, để
lại cho đất nước một di sản văn hóa thế giới – Hoàng Thành Thăng Long.
Lịch sử phát triển sau này của Đại La – Thăng Long – Hà Nội như đã nói
ở trên, vùng đất này trở thành trung tâm chính trị quan trọng bậc nhất của gần
như tất cả các giai đoạn lịch sử sau này. Quyết định dời đô của Chiếu dời đô đã
đưa đến lịch sử với vai trò quan trọng thiết yếu của Thăng Long – Hà Nội sau
này, đưa vai trò của vùng đất này lên một tầm cao mới.
Như vậy, nhìn suốt lịch sử phát triển của Đại La – Thăng Long – Hà Nội
ta thấy sự kiện ra đời của Chiếu dời đô là một bước ngoặt quan trọng của vùng
đất này. Đây là lần đầu tiên tiềm năng của vùng đất này được nhận thức và phát
triển một cách sâu sắc đưa đến sự phát triển với vai trò quan trọng của nó với
đất nước sau này.
Tóm lại, Chiếu dời đô là một tác phẩm văn học - chính trị có giá trị sâu
sắc thể hiện tài năng, tầm nhìn vượt trội của Lý Công Uẩn. Tuy còn một số hạn
chế nhưng không thể phủ nhận đây là một tác phẩm có giá trị to lớn. Sự ra đời
của Chiếu dời đô đã đưa đến bước ngoặt trong lịch sử phát triển của Hà Nội.