LỜI CAM ĐOAN
Sau một thời gian thực tập, tìm tòi và nghiên cứu, cùng với những kiến
thức tích lũy được trong quá trình học tập tại trường Đại học kinh tế quốc dân.
Tôi đã hoàn thành chuyên đề thực tập với đề tài: ” Nâng cao khả năng cạnh
tranh của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Hoa Nam”.
Tôi xin cam đoan đề tài trên là kết quả của quá trình tìm hiểu, nghiên cứu
thực tế, không có sự sao chép từ bất cứ một tài liệu nào. Nếu có sai phạm nào
xảy ra, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Sinh viên
Nguyễn Thị Hoa
MỤC LỤC
Điện tử - Điện Lạnh: 32
Tủ lạnh, tủ bảo ôn, tủ giữ nóng, tủ trưng bày 32
Bình nóng lạnh 32
Lò vi - sóng, lò nướng,… 32
Đồ gia dụng: 32
Nội thất, thiết bị nhà tắm - Đèn trang trí 32
1 41
Máy Công nghiệp 41
2 41
Điện tử - Điện Lạnh 41
3 41
Đồ gia dụng 41
4 41
Nội thất, thiết bị nhà tắm - Đèn trang trí 41
Tổng 41
Về quy mô tài sản: Nhìn chung, quy mô tài sản của Công ty CP
XNK Hoa Nam tăng mạnh theo từng năm. Cụ thể: 45
Năm 2009 so với năm 2008, Tổng tài sản của Công ty tăng 213.970
triệu đồng, tăng 213.970 triệu đồng tương ứng tăng 419%. Trong đó cả tài
sản cố định và tài sản lưu động đều tăng. Tài sản cố đinh tăng 17.290 triệu
trong nước. 47
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, số lượng nhân viên của Công ty
CP XNK Hoa Nam không ngừng tăng lên qua các năm 47
Đơn vị: Người 48
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Điện tử - Điện Lạnh: 32
Tủ lạnh, tủ bảo ôn, tủ giữ nóng, tủ trưng bày 32
Bình nóng lạnh 32
Lò vi - sóng, lò nướng,… 32
Đồ gia dụng: 32
Nội thất, thiết bị nhà tắm - Đèn trang trí 32
1 41
Máy Công nghiệp 41
2 41
Điện tử - Điện Lạnh 41
3 41
Đồ gia dụng 41
4 41
Nội thất, thiết bị nhà tắm - Đèn trang trí 41
Tổng 41
Về quy mô tài sản: Nhìn chung, quy mô tài sản của Công ty CP
XNK Hoa Nam tăng mạnh theo từng năm. Cụ thể: 45
Năm 2009 so với năm 2008, Tổng tài sản của Công ty tăng 213.970
triệu đồng, tăng 213.970 triệu đồng tương ứng tăng 419%. Trong đó cả tài
sản cố định và tài sản lưu động đều tăng. Tài sản cố đinh tăng 17.290 triệu
đồng, tương ứng tăng 281%. Nguyên nhân của việc tăng này là do công ty
mua thêm một số MMTB và do chi phí trả trước dài hạn tăng lên. Tài sản
lưu động cũng tăng khá mạnh, tài sản lưu động năm 2009 đạt 196.680
triệu đồng, tăng 574% so với năm 2008 45
Năm 2010 so với năm 2009, Tổng tài sản của công ty tăng thêm
Đơn vị: Người 48
Điện tử - Điện Lạnh: 32
Tủ lạnh, tủ bảo ôn, tủ giữ nóng, tủ trưng bày 32
Bình nóng lạnh 32
Lò vi - sóng, lò nướng,… 32
Đồ gia dụng: 32
Nội thất, thiết bị nhà tắm - Đèn trang trí 32
1 41
Máy Công nghiệp 41
2 41
Điện tử - Điện Lạnh 41
3 41
Đồ gia dụng 41
4 41
Nội thất, thiết bị nhà tắm - Đèn trang trí 41
Tổng 41
Về quy mô tài sản: Nhìn chung, quy mô tài sản của Công ty CP
XNK Hoa Nam tăng mạnh theo từng năm. Cụ thể: 45
Năm 2009 so với năm 2008, Tổng tài sản của Công ty tăng 213.970
triệu đồng, tăng 213.970 triệu đồng tương ứng tăng 419%. Trong đó cả tài
sản cố định và tài sản lưu động đều tăng. Tài sản cố đinh tăng 17.290 triệu
đồng, tương ứng tăng 281%. Nguyên nhân của việc tăng này là do công ty
mua thêm một số MMTB và do chi phí trả trước dài hạn tăng lên. Tài sản
lưu động cũng tăng khá mạnh, tài sản lưu động năm 2009 đạt 196.680
triệu đồng, tăng 574% so với năm 2008 45
Năm 2010 so với năm 2009, Tổng tài sản của công ty tăng thêm
346.220 triệu đồng, tăng tương ứng là 231%. Trong đó tài sản cố định tăng
38.650 triệu đồng tương ứng tăng 244%, tài sản lưu động tăng 307.570
triệu đồng tăng tương ứng 229% 45
Biểu đồ 3: Giá trị tài sản năm 2008-2010 46
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CP Cổ phần
XNK Xuất nhập khẩu
MMTB Máy móc thiết bị
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
NSNN Ngân sách Nhà nước
ĐH Đại học
CĐ Cao đẳng
TCCN Trung cấp chuyên nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam nói riêng cũng như trên toàn
thế giới nói chung, vấn đề cạnh tranh không phải là vấn đề mới lạ nhưng nó lại
là vấn đề mang tính thời sự. Cạnh tranh đang khiến thương trường ngày càng
trở nên nóng bỏng.
Chính sách đổi mới, mở cửa nền kinh tế, xoá bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập
trung chuyển sang cơ chế thị trường đã làm cho nền kinh tế Việt Nam chuyển
biến mạnh mẽ. Trong điều kiện nước ta hiện nay, khi nền kinh tế hàng hoá
ngày càng phát triển mạnh, sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt thì sự
đứng vững và khẳng định vị thế của một doanh nghiệp trên thị trường là một
điều cực kỳ khó khăn. Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tham gia vào hoạt
động sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường, đều phải chịu tác động của
các quy luật kinh tế khách quan như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy
luật cạnh tranh…Theo quy luật cạnh tranh, mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và
phát triển được trên thị trường thì phải không ngừng nỗ lực áp dụng khoa học
kỹ thuật để nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm…Điều đó, đòi hỏi
doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một chiến lược cạnh tranh có hiệu quả
để có thể đứng vững, và mở rộng thị phần cả trên thị trường nội địa và thị
trường thế giới. Có như vậy, doanh nghiệp mới thu hút được khách hàng đồng
thời chiến thắng được các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy, vấn đề
nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đã trở thành một vấn đề quan
cán bộ tại Công ty để bài viết thêm hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SỞ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH
TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HOA NAM
1.1. Những vấn đề cơ bản về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.1. Tầm quan trọng của nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh là một tất yếu khách quan. Mỗi
doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường cần phải chấp nhận cạnh tranh, tuân
theo quy luật cạnh tranh. Cạnh tranh là động lực buộc các doanh nghiệp phải
sản xuất và cung cấp những sản phẩm mà thị trường cần để đáp ứng nhu cầu
ngày càng đa dạng và phong phú của người tiêu dùng. Trong quá trình cạnh
tranh doanh nghiệp cần khẳng định được vị trí và uy tín của mình trên thương
trường.
Hơn nữa, trong một nền kinh tế mở như hiện nay các đối thủ cạnh tranh
không chỉ là các doanh nghiệp trong nước mà còn là các doanh nghiệp nước
ngoài có vốn đầu tư cũng như trình độ công nghệ cao hơn hẳn.
Như vậy, cạnh tranh là một áp lực mà nếu doanh nghiệp nào hiểu biết
được đối thủ cạnh tranh, biết thoả mãn tốt hơn các nhu cầu và thị hiếu của
người tiêu dùng so với đối thủ cạnh tranh, biết giành thế chủ động với người
cung cấp các nguồn hàng và tận dụng được lợi thế cạnh tranh thì doanh nghiệp
đó sẽ tồn tại. Ngược lại, nếu doanh nghiệp không có tiềm lực cạnh tranh hoặc
không “nuôi dưỡng” được tiềm lực cạnh tranh tất yếu sẽ thất bại. Vì vậy, việc
nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp là một tất yếu khách quan
cho sự tồn tại và phát triển của chính doanh nghiệp.
1.1.2. Các yếu tố cấu thành khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của
doanh nghiệp và là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp. Khả năng cạnh
tranh không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực,
tổ chức quản trị doanh nghiệp,… mà khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
phải tự tìm kiếm và đào tạo cán bộ quản lý cho chính mình. Muốn có được đội
ngũ cán bộ quản lý tài giỏi và trung thành, thì doanh nghiệp phải có một cơ
chế quản lý hợp lý, ngoài yếu tố chính sách đãi ngộ, doanh nghiệp phải định
hình rõ triết lý dùng người, phải trao quyền chủ động cho cán bộ và phải thiết
lập được cơ cấu tổ chức đủ độ linh hoạt, thích nghi cao với sự thay đổi. Cùng
quy mô, trình độ, chất lượng nguồn lực tài chính, công nghệ, nhân lực như
nhau, cơ chế quản lý khác nhau sẽ tạo ra tổng năng lực cạnh tranh khác nhau
(tổng hợp lực, hay năng lực tích hợp). Hoàn thiện và đổi mới cơ chế quản lý
ngày càng được coi là một trong những phương pháp nâng cao khả năng cạnh
tranh hữu hiệu và bền vững ngay cả trong điều kiện kỹ thuật công nghệ và tài
chính không thay đổi.
1.1.2.2. Nguồn lực của doanh nghiệp
Một cơ hội có thể là hấp dẫn đối với doanh nghiệp này nhưng lại có thể
là hiểm họa đối với doanh nghiệp khác. Đó là do yếu tố thuộc nguồn lực bên
trong của doanh nghiệp. Như vậy, nguồn lực của doanh nghiệp quyết định đến
khả năng thành công hay không thành công của doanh nghiệp.
Nguồn lực của doanh nghiệp phản ánh các yếu tố mang tính chủ quan mà
doanh nghiệp có thể kiểm soát được ở một mức độ nào đó và doanh nghiệp có
thể sử dụng để tìm kiếm và khai thác cơ hội kinh doanh, để thu lợi nhuận.
• Nguồn lực tài chính:
Nguồn lực tài chính là một nguồn lực liên quan trực tiếp tới khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao là
doanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào, luôn đảm bảo huy động được vốn trong
những điều kiện cần thiết, có nguồn vốn huy động hợp lý, có kế hoạch sử dụng
vốn hiệu quả để phát triển lợi nhuận và phải hạch toán các chi phí rõ ràng để
xác định được hiệu quả chính xác.
“ Buôn tài không bằng dài vốn”, nếu doanh nghiệp không có nguồn vốn dồi
dào thì sẽ hạn chế rất lớn tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp như: hạn chế
việc sử dụng công nghệ hiện đại, hạn chế việc đào tạo nâng cao trình độ của
cán bộ và nhân viên, hạn chế triển khai nghiên cứu, ứng dụng, nghiên cứu thị
giá cả,… sẽ gây sự cảm tình, tin cậy, sự hiểu biết đầy đủ về doanh nghiệp cho
khách hàng và dẫn đến quyết định mang tính ưu tiên khi mua hàng của khách
hàng. Điều này tạo cho doanh nghiệp khả năng bán hàng tốt hơn. Từ đó giúp
cho doanh nghiệp nâng cao được khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu hàng hóa: Mức độ nổi tiếng của
nhãn hiệu hàng hóa có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình mua sắm và quyết định
mua hàng của khách hàng. Trong “ 5 mức độ quen thuộc của nhãn hiệu hàng
hóa”( 1.Nhãn hiệu bị loại bỏ; 2. Nhãn hiệu không được chấp nhận; 3. Chấp
nhận nhãn hiệu; 4. Nhãn hiệu ưa thích; 5. Nhãn hiệu nổi tiếng), nhãn hiệu hàng
hóa của doanh nghiệp đạt đến thứ bậc càng cao thì khả năng bán hàng càng tốt.
Uy tín và mối quan hệ xã hội của lãnh đạo doanh nghiệp: Uy tín của
lãnh đạo doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp và thực chất nó liên quan đến cái “tình ” trong bán hàng và
uy tín, quan hệ trong kinh doanh, thể hiện mối quan hệ xã hội, tính văn hóa,
nhân văn trong quan hệ thương mại. Nhờ các mối quan hệ mà doanh nghiệp có
thể tạo ra các bạn hàng, những nhóm khách hàng trung thành với doanh nghiệp
hoặc một bộ phận, một cá nhân trong doanh nghiệp. Các kế hoạch, chiến lược
và định hướng phát triển kinh doanh cần phải tạo điều kiện thuận lợi nhất cho
khả năng phát triển tiềm lực này. Bởi đó là một vũ khí sắc bén của doanh
nghiệp trong cạnh tranh.
1.1.2.3. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm chính là khả năng sản phẩm đó bán
được nhiều và nhanh chóng trên thị trường có sản phẩm tương tự. Nó chịu ảnh
hưởng bởi các yếu tố như: chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm, thời gian
cung cấp, dịch vụ đi kèm, điều kiện mua bán, danh tiếng và uy tín Khi lập kế
hoạch sản xuất kinh doanh của mình, doan nghiệp cần nhận định đầy đủ về các
mức độ của sản phẩm:
Mức độ cơ bản nhất là lợi ích cốt lõi, đó chính là dịch vụ hay lợi ích cơ
bản mà khách hàng thực sự mong muốn mua. Doanh nghiệp phải biến lợi ích
cốt lõi thành sản phẩm chung.
đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Thị phần được hiểu là phần
thị trường tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệp chiếm lĩnh. Chỉ tiêu này càng
cao chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao và ngược lại. Để giành
giật mục tiêu thị phần trước đối thủ, doanh nghiệp thường phải có chính sách
giá phù hợp thông qua mức giảm giá cần thiết, nhất là khi bắt đầu thâm nhập
thị trường mới.
Ta xem xét các chỉ tiêu sau:
− Thị phần tương đối ( Relative market share ):
Thị phần tương đối là tỷ lệ so sánh giữa doanh số của doanh nghiệp với
doanh số của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trên thị trường.
Doanh số của doanh nghiệp
Thị phần tương đối =
. Doanh số của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất
Thị phần tương đối cho doanh nghiệp thấy rõ vị trí, sức mạnh của mình
trên thị trường :
+ Nếu thị phần tương đối lớn hơn 1 thì lợi thế cạnh tranh thuộc về doanh
nghiệp.
+ Nếu thị phần tương đối nhỏ hơn 1 thì lợi thế cạnh tranh thuộc về đối thủ.
+ Nếu thị phần tương đối bằng 1 thì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp và
của đối thủ như nhau.
− Thị phần của doanh nghiệp so với toàn bộ thị trường: là tỷ lệ so sánh
giữa doanh số của doanh nghiệp với doanh số của toàn bộ thị trường.
Doanh số của doanh nghiệp
Thị phần của doanh nghiệp =
so với toàn bộ thị trường Doanh số của toàn bộ thị trường
Chỉ tiêu này cho doanh nghiệp cái nhìn tổng quát về vị trí của mình trên
thị trường. Từ đó doanh nghiệp sẽ có bước đi, hướng đi thích hợp nhằm thỏa
mãn tốt và ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, qua đó tăng thị phần và
nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
− Thị phần của doanh nghiệp so với phân khúc mà nó phục vụ: là tỷ lệ so
− Tỷ suất lợi nhuận theo chí phí kinh doanh (P
2
):
Tổng lợi nhuận
P
2
= × 100 (%)
Tổng chi phí kinh doanh
Chỉ tiêu này cho biết cứ chi phí 100 đồng vào kinh doanh thì doanh
nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
− Tỷ suất lợi nhuận theo vốn kinh doanh ( P
3
):
Tổng lợi nhuận
P
3
= × 100 (%)
Tổng vốn kinh doanh
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận theo vốn kinh doanh cho biết khi doanh
nghiệp đầu tư 100 đồng vốn vào kinh doanh thì thu lại bao nhiêu đồng lợi
nhuận.
• Quy mô về vốn: Vốn kinh doanh giữ vai trò đặc biệt quan trọng
trong việc sử dụng tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp trong hoạt động
kinh doanh. Vốn kinh doanh là một trong các điều kiện để doanh nghiệp thực
hiện phân phối và sử dụng các tiềm năng hiện có và tương lai về sức lao động,
nguồn hàng hóa và các nguồn lực khác của kinh doanh để mở rộng và phát
triển thị trường. Một doanh nghiệp có tổng vốn kinh doanh lớn sẽ có khả năng
cạnh tranh cao hơn, do có điều kiện mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ,
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả
sử dụng vốn kinh doanh. Vì vậy, doanh nghiệp phải có biện pháp sử dụng vốn
chấp nhận sản phẩm của doanhh nghiệp. Một doanh nghiệp có nhãn hiệu nổi
tiếng trên thị trường sẽ thu hút được nhiều khách hàng và đem lại lợi thế cạnh
tranh lớn cho doanh nghiệp.
Thương hiệu là khái niệm trong người tiêu dùng về sản phẩm với dấu
hiệu của nhà sản xuất gắn lên mặt bao bì hàng hóa nhằm khẳng định chất
lượng và xuất xứ sản phẩm. Thương hiệu thể hiện hình ảnh, vị thế của doanh
nghiệp trên thương trường và trong lòng người tiêu dùng. Do đó, khi doanh
nghiệp có hình ảnh tốt thì sẽ gây được ấn tượng trong tâm trí khách hàng, có
uy tín với khách hàng, bạn hàng, giúp cho doanh nghiệp giành được lợi thế
trong cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy, doanh nghiệp phải không ngừng nâng
cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và xây dựng chữ tín trong kinh doanh.
• Khả năng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng:
Nhu cầu của khách hàng có thể đòi hỏi ở các mức độ khác nhau. Một sản
phẩm được xác định theo cách nhìn của nhà doanh nghiệp chưa hẳn là sản
phẩm mà khách hàng mong muốn. Vì vậy, doanh nghiệp phải nắm bắt được
tâm lý và mong muốn của khách hàng để thỏa mãn được đầy đủ và tốt nhất
nhu cầu của khách hàng.
Trên thị trường cạnh tranh khốc liệt, doanh nghiệp phải không ngừng
nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Và khả năng thỏa mãn nhu cầu của
khách hàng góp phần không nhỏ đối với sự thành công của doanh nghiệp. Một
doanh nghiệp có khả năng thỏa mãn nhu cầu khách hàng một cách tốt nhất thì
doanh nghiệp đó đã thực hiện được công việc là tiêu thụ được sản phẩm, đồng
thời giữ được khách hàng hiện tại và lôi kéo được khách hàng tiềm năng đến
với doanh nghiệp.
• Khả năng thích ứng với thị trường:
Môi trường kinh doanh có thể đem đến cho doanh nghiệp những cơ hội
hấp dẫn nhưng cũng có thể đem lại những nguy cơ, đặc biệt là những tác động
tiêu cực không thể lường trước được của thị trường luôn đe dọa, gây bất lợi và
tổn thất cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Môi trường kinh doanh luôn luôn vận động và biến đổi. Mọi đối thủ đều
ta đang tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế
với các nước trong khu vực và trên thế giới, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
tất yếu phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Nếu không, các doanh
nghiệp sẽ bị thất bại trong cạnh tranh và sẽ bị loại bỏ khỏi thị trường. Bởi cạnh
tranh luôn luôn là quy luật khắc nghiệt nhất trong cơ chế thị trường.
Đối với mỗi doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu,
đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh
trong xuất nhập khẩu có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Việc đẩy mạnh hoạt động
xuất nhập khẩu giúp cho mỗi doanh nghiệp giải quyết được vấn đề về công ăn
việc làm cho người lao động, tăng nguồn ngoại tệ cho đất nước, tạo điều kiện
cho doanh nghiệp đổi mới trang thiết bị, mở rộng quy mô kinh doanh, và giải
quyết các vấn đề về lợi nhuận. Ngoài ra, việc đẩy mạnh hoạt động xuất nhập
khẩu còn giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, tìm hiểu vả nắm bắt được
phong tục, tập quán kinh doanh của các bạn hàng ở nước ngoài, là động lực để
doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường ra thế giới.
Hơn nữa, cạnh tranh giúp cho việc phân bổ nguồn lực xã hội có hiệu quả,
đem lại ích lợi lớn hơn cho xã hội. Cạnh tranh có thể được xem như là quá
trình tích luỹ về lượng để từ đó thực hiện các bước nhảy thay đổi về chất. Mỗi
bước nhảy thay đổi về chất là mỗi nấc thang của xã hội, nó làm cho xã hội phát
triển đi lên, tốt đẹp hơn. Vậy sự tồn tại của cạnh tranh trong xuất nhập khẩu
cũng như trong nền kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan.
1.2.2. Đặc điểm của cạnh tranh trong xuất nhập khẩu.
Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh trong xuất nhập khẩu diễn ra hết sức
phức tạp và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau. Trong khi đó, môi
trường kinh doanh lại luôn luôn biến động và có nhiều bất cập. Các doanh
nghiệp nói chung và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói riêng buộc phải
chấp nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh là yếu tố vốn có, vừa mang đến những
tác động tích cực, vừa mang đến những tác động tiêu cực. Chính vì vậy, kinh
doanh xuất nhập khẩu đòi hỏi nhà thương mại phải luôn tìm tòi, đổi mới, sáng
tạo và cần có một chính sách cạnh tranh đúng đắn để đạt được cái đích là lợi
Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Hoa Nam được thành lập năm 2004.
Cùng với sự phát triển của đất nước, Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Hoa
Nam đã khẳng định được thương hiệu của chính mình bằng chất lượng và dịch
vụ tốt nhất. Công ty luôn đứng đầu về chất lượng và uy tín trong lĩnh vực cung
cấp và chuyển giao công nghệ dây chuyền, máy móc, thiết bị sản xuất trong
nhiều năm qua.
Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Hoa Nam được thành lập theo giấy phép
kinh doanh số: 0103013075 do Phòng đăng ký kinh doanh số 02 – Sở kế hoạch
và đầu tư Thành phố Hà Nội cấp.
Tên gọi đầy đủ bằng tiếng Việt Nam:
CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HOA NAM
Tên giao dịch quốc tế:
HOA NAM EXPORT - IMOPRT JOINT STOCK COMPANY
Tên viết tắt:
HOANAM IE.,JSC
Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần
Trụ sở chính: Ngõ 868, Đường Phạm Hùng - Cầu Giấy - Hà Nội.
Mã số thuế: 0101991621
Số điện thoại: 0422136898
Fax: 0437823420
E -mail:
Website:
http:// www.hoanam.vn