Chuyên đề thực tập tốt nghiệp – Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của công ty TNHH Công nghiệp và Thương Mại Hà Nội(HATRICO) - Pdf 25

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS.Phạm
Long
MỤC LỤC
SV: Vũ Hữu Việt Lớp: Tài chính doanh nghiệp
53B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS.Phạm
Long
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn.
HATRICO : Công nghiệp và Thương mại Hà Nội.
TSLĐ : Tài sản lưu động.
DT : Doanh thu.
DN : Doanh nghiệp.
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đai hóa.
NPV : Giá trị hiện tại ròng.
CBCNV : Cán bộ công nhân viên.
VNĐ : Việt Nam đồng.
USD : Đô la Mỹ.
NK : Nhập khẩu.
XK : Xuất khẩu.
VLĐ : Vốn lưa động.
LNST : Lợi nhuận sau thuế.
WTO : Tổ chức thương mại thế giới.
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
SV: Vũ Hữu Việt Lớp: Tài chính doanh nghiệp
53B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS.Phạm
Long
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
1
SV: Vũ Hữu Việt Lớp: Tài chính doanh nghiệp

và lựa chọn đề tài : “NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƯU
ĐỘNG CỦA CÔNG TY TNHH CÔNG NHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI HÀ
SV: Vũ Hữu Việt Lớp: Tài chính doanh nghiệp
53B
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS.Phạm
Long
NỘI (HATRICO)” với mong muốn đưa ra được những biện pháp để có thể
nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại doanh nghiệp.
2. Mục đích và ý nghĩa nghiên của đề tài.
Vận dụng những lý thuyết đã học vào thực tiễn nhằm củng cố. Bổ sung
vào hoàn thiện các lý thuyết đã học.
Hệ thống hóa các kiến thức về công tác tài chính trong một doanh
nghiệp.
Đi vào tìm hiểu tình hình sản xuất và tài chính của các doanh nghiệp trẻ
hiện nay. Từ đó đánh giá và phân tích hoạt động sản xuất công tác quản lý tài
chính của doanh nghiệp một cách khách quan trên thị trường.
Thông qua việc đánh giá và phân tích tìm ra lợi thế cạnh tranh cũng
như các điểm yếu, từ đó đề xuất một số biện pháp hoàn thiện khâu quản lý tài
sản, tài chính và thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là: công tác quản lý và sử dụng
vốn lưa động của công ty HATRICO.
Phạm vi của đề tài này là thực trạng và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn lưa động của công ty HATRICO trong giai đoạn 2011-2013.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện nội dung của bài viết em đã sử dụng các biện pháp nghiên
cứu sau:
Phương pháp so sánh.
Phương pháp tỷ số.

dụng tài sản lưa động của công ty HATRICO. Khái quát lại những kết quả đạt
được của đề tài từ đó đưa ra các kiến nghị đối với công ty cũng như với nhà
nước.
Đây là một đề tài tương đối phức tạp, nên em cũng không tránh khỏi
những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự giúp đỡ của thầy để có thể hoàn
thiện đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn!
SV: Vũ Hữu Việt Lớp: Tài chính doanh nghiệp
53B
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS.Phạm
Long
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI SẢN LƯU ĐỘNG VÀ
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƯU ĐỘNG
1.1Khái niệm và kết cấu tài sản lưu động của doanh nghiệp:
1.1.1 Tổng quan về doanh nghiệp:
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt
động kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu. Theo
Luật doanh nghiệp của Việt Nam (năm 2006) thì doanh nghiệp là một tổ chức
kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động
kinh doanh. Tức là thực hiện một, một số hay tất cả các công đoạn của quá
trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng các dịch vụ trên
thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp bao gồm các chủ thể
kinh doanh sau : kinh doanh cá thể, kinh doanh góp vốn, công ty. Các doanh
nghiệp ở Việt Nam bao gồm những loại hình sau: Doanh nghiệp Nhà nước,
công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty liên
doanh, doanh nghiệp tư nhân.
Các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều

nền kinh tế.
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của tài sản lưu động (TSLĐ) và sự cần thiết
phải quản lý TSLĐ.
1.1.2.1 Khái niệm:
Bất cứ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh, đều cần phải trả lời ba câu hỏi: sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản
xuất như thế nào. Trong nền kinh tế thị trường, dưới áp lực của sự cạnh tranh
gay gắt, cùng với sự tham gia của nhiều loại hình doanh nghiệp, nhiều thành
phần kinh tế,… các doanh nghiệp đều nhằm tìm ra lời giải đáp trên với mục
đích thu được lợi ích tối đa. Để làm được điều này trước hết doanh nghiệp
phải có vốn. Nó là yếu tố không thể thiếu được của mọi quá trình sản xuất và
kinh doanh.
Vốn là một biểu hiện bằng tiền, là giá trị của tài sản mà doanh nghiệp
đang nắm giữ. Tài sản và vốn là hai mặt hiện vật và giá trị của một bộ phận
nguồn lực sản xuất mà doanh nghiệp huy động vào quá trình sản xuất và kinh
doanh. Do vậy quản lý vốn và tài sản trở thành một nội dung quan trọng của
quản trị tài chính. Mục tiêu quan trọng nhất của quản lý vốn và tài sản là đảm
SV: Vũ Hữu Việt Lớp: Tài chính doanh nghiệp
53B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS.Phạm
Long
bảo cho quá trình sản xuất và kinh doanh tiến hành bình thường với hiệu quả
kinh tế cao nhất. Tài sản trong doanh nghiệp bao gồm tài sản cố định và tài
sản lưu động (TSCĐ và TSLĐ), trong đó giá trị các tài sản lưu động của các
doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thường chiếm một tỷ trọng lớn trong
tổng giá trị tài sản của chúng.
Đối với tài sản lưu động chúng ta có thể hiểu đó là những tài sản sử
dụng cho quá trình sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp, có thời gian sử
dụng, luân chuyên, thu hồi trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Tài

kinh doanh của doanh nghiệp được bình thường, liên tục.
Việc quản lý TSLĐ giúp doanh nghiệp nắm bắt tình hình về việc sử
dụng TSLĐ tại doanh nghiệp, từ đó dự báo và đưa ra các kế hoạch về TSLĐ
cũng như việc xác định nguồn tài trợ hợp lý cho TSLĐ của doanh nghiệp
trong kỳ kinh doanh.
1.1.3 Kết cấu của tài sản lưa động:
1.1.3.1 Theo lĩnh vực tham gia luân chuyển
- TSLĐ sản xuất: gồm tài sản dự trữ cho quá trình sản xuất (bao gồm:
nguyên, nhiên vật liệu, công cụ, dụng cụ, đang dự trữ trong kho) và tài sản
trong sản xuất (giá trị sản phẩm dở dang).
- TSLĐ lưu thông: gồm tài sản dự trữ cho quá trình lưu thông (thành
phẩm và hàng hóa dự trữ trong kho hay đang gửi bán) và tài sản trong quá
trình lưu thông (gồm: tiền, các khoản phải thu).
- TSLĐ tài chính: là các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn với các mục
đích kiếm lời (gồm: đầu tư liên doanh, đầu tư chứng khoán, .).
1.1.3.2 Theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán:
- Ngân quỹ: bao gồm tiền mặt tại két, tiền gửi ngân hàng và tiền đang
chuyển.
- Các khoản phải thu: phải thu của khách hàng, phải thu nội bộ, phải
thu khác, thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, tạm ứng và chi phí trả trước.
- Dự trữ, tồn kho: gồm nguyên, nhiên vật liệu, công cụ, dụng cụ phục
vụ cho quá trình sản xuất và kinh doanh; sản phẩm dở dang và thành phẩm.
- TSLĐ khác: bao gồm các khoản tạm ứng chưa thanh toán, chi phí trả
trước, chi phí chờ kết chuyển, tài sản thiếu chờ xử lý và các khoản thế chấp,
ký cược và ký quỹ ngắn hạn.
Trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề này, e tập trung vào ngân
quỹ, các khoản phải thu và hàng tồn kho, dự trữ.
1.1.4 Vai trò của TSLĐ đối với hoạt động sản xuất kinh doanh:
TSLĐ là một trong những điều kiện vật chất không thể thiếu được của
quá trình sản xuất. Trong cùng một lúc, TSLĐ của doanh nghiệp được phân

các khoản thuế phải nộp nhưng chưa nộp, các khoản phải trả cán bộ công
nhân viên nhưng chưa đến hạn phải trả, các khoản đặt cọc của khách hàng và
mua chịu hàng hoá.
1.1.5.2 Nguồn tài trợ dài hạn:
Bao gồm: nguồn vốn chủ sở hữu (vốn góp ban đầu, vốn huy động thêm
bằng hai cách phát hành thêm cổ phiếu, lợi nhuận giữ lại) và vay dài hạn.
Mỗi nguồn tài trợ trên đều có ưu điểm và nhược điểm riêng. Nếu sử
dụng toàn bộ là nguồn tài trợ dài hạn thì doanh nghiệp ít phải chịu rủi ro về
khả năng thanh toán và không phải chịu rủi ro về lãi suất huy động. Tuy nhiên
SV: Vũ Hữu Việt Lớp: Tài chính doanh nghiệp
53B
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS.Phạm
Long
huy động nguồn tài trợ dài hạn doanh nghiệp phải chịu phí tổn cao do chi phí
huy động của nguồn dài hạn thường cao hơn nguồn ngắn hạn và có thể dẫn tới
hiện tượng lãng phí vốn khi chưa tài trợ cho nhu cầu TSLĐ mới.
Ngược lại nếu sử dụng nguồn ngắn hạn để tài trợ cho TSLĐ thì chi phí
huy động sẽ thấp hơn, tránh được những lãng phí khi không có nhu cầu mới.
Nhưng sử dụng nguồn này doanh nghiệp lại phải đối mặt với những rủi ro về
thanh khoản, rủi ro về biến động lãi suất. Do vậy các doanh nghiệp thường sử
dụng kết hợp cả hai nguồn trên để tài trợ cho nhu cầu TSLĐ. Tuy nhiên cũng
cần thấy rằng thông thường các doanh nghiệp không chọn duy nhất một mô
hình nào mà tuỳ từng thời kỳ doanh nghiệp có sự lựa chọn phù hợp.
1.2Hiệu quả sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp:
1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng TSLĐ:
Hiệu quả sử dụng TSLĐ là một phạm trù kinh tế phản ánh tình hình sử
dụng TSLĐ của doanh nghiệp để đạt được hiệu quả cao nhất trong kinh doanh,
với tổng chi phí thấp nhất. Hiệu quả TSLĐ được biểu hiện tập trung ở các mặt
sau:

phân tích hoạt động kinh doanh. Khi sử dụng phương pháp này thì chúng ta
phải lựa chọn tiêu chuẩn để so sánh. Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu của một kỳ
được lựa chọn làm căn cứ để so sánh, được gọi là gốc so sánh. Tuỳ theo mục
đích của nghiên cứu mà lựa chọn gốc so sánh thích hợp. Các gốc so sánh có
thể là:
• Tài liệu của năm trước (hay kỳ trước) nhằm đánh giá xu hướng phát
triển của các chỉ tiêu.
• Các mục tiêu đã dự kiến (như kế hoạch, dự toán, định mức) nhằm
đánh giá tình hình thực hiện so với kế hoạch, dự toán, định mức.
• Các chỉ tiêu trung bình ngành, khu vực kinh doanh, nhu cầu đơn đặt
hàng, của doanh nghiệp nhằm khẳng định vị trí của mình và khả năng đáp
ứng nhu cầu,…
Các chỉ tiêu của kỳ được so sánh với kỳ gốc lựa chọn được gọi là chỉ
tiêu kỳ thực hiện và là kết quả mà doanh nghiệp đạt được.
Để phép so sánh có ý nghĩa thì điều kiện tiên quyết chính là các chỉ tiêu
được sử dụng phải đồng nhất. Trong thực tế thường điều kiện có thể so sánh
được giữa các chỉ tiêu kinh tế cần được quan tâm cả về mặt thời gian và
không gian. Về mặt thời gian thì các chỉ tiêu được tính trong cùng một
SV: Vũ Hữu Việt Lớp: Tài chính doanh nghiệp
53B
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS.Phạm
Long
khoảng thời gian hạch toán phải thống nhất trên ba mặt là: phải cùng phản
ánh nội dung kinh tế, phải cùng một phương pháp tính toán và phải cùng một
đơn vị đo lường, về mặt không gian thì các chỉ tiêu cần phải được quy đổi về
cùng quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự như nhau.
Thông thường, người ta sử dụng các kỹ thuật so sánh sau:
• So sánh bằng số tuyệt đối: là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ
phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế và kết quả so sánh biểu hiện

chính định kỳ quan trọng của doanh nghiệp.
1.2.2.2 Phương pháp tỷ số.
Phương pháp tỷ số là phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng để
phân tích. Đó là các tỷ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này so sánh với chỉ
tiêu khác. Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp
dụng ngày càng được bổ sung, hoàn thiện do nguồn thông tin kế toán - tài
chính được cải tiến và được cung cấp đầy đủ hơn làm cơ sở để hình thành
những tỷ lệ tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá một tỷ số của một doanh
nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp; việc áp dụng công nghệ tin học ngày
càng rộng rãi với nhiều chức năng, công dụng mới cho phép tích luỹ dữ liệu
và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ số; đồng thời phương
pháp này giúp nhà phân tích khai thác một cách có hiệu quả những số liệu và
phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục theo
từng giai đoạn.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng TSLĐ, người ta sử dụng các tỷ số sau:
• Vòng quay TSLĐ:
Doanh thu
Vòng quay TSLĐ =
TSLĐ bình quân
Chỉ tiêu này cho biết TSLĐ luân chuyển được mấy vòng trong kỳ. Nếu
số vòng quay tăng thì TSLĐ luân chuyển với tốc độ cao, một điều rất có lợi
cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Vậy vòng quay TSLĐ càng tăng thì hiệu
quả sử dụng TSLĐ càng tăng và ngược lại.
• Kỳ luân chuyển TSLĐ: chính là số ngày bình quân cần thiết để TSLĐ
thực hiện một vòng quay trong kỳ.
Thời gian của kỳ phân tích
Kỳ luân chuyển TSLĐ =
Số vòng quay của TSLĐ trong kỳ
SV: Vũ Hữu Việt Lớp: Tài chính doanh nghiệp
53B

thanh toán nhanh Nợ ngắn hạn
SV: Vũ Hữu Việt Lớp: Tài chính doanh nghiệp
53B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS.Phạm
Long
Đây là tỷ số giữa các tài sản quay vòng nhanh và nợ ngắn hạn. Tài sản
quay vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền
bao gồm tiền, chứng khoán, GTCG ngắn hạn và các khoản phải thu. Tài sản
dự trữ (tồn kho) là các tài sản khó chuyển thành tiền hơn trong tổng TSLĐ và
dễ bị lỗ nhất nếu được bán ra. Do vậy tỷ số khả năng thanh toán nhanh cho
biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán
tài sản dự trữ (hay tồn kho).
• Vòng quay tiền:
Doanh thu
Vòng quay tiền =
Tiền + chứng khoán dễ chuyển nhượng
Tỷ số này được xác định bằng cách lấy doanh thu trong năm chia cho
tổng số tiền và các loại tài sản tương đương tiền bình quân (chứng khoán ngắn
hạn dễ chuyển nhượng). Tỷ số này cho biết, số vòng quay của tiền trong một
năm. Nếu tỷ số này càng lớn chứng tỏ trong một năm TSLĐ của doanh
nghiệp quay được càng nhiều vòng hơn và doanh nghiệp sử dụng TSLĐ có
hiệu quả hơn.
• Thời gian vòng quay tiền:
Số ngày trong kỳ
Thời gian =
Vòng quay tiền số vòng quay tiền
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày cần thiết để tiền chuyển được một vòng.
Chỉ tiêu này càng thấp, thì hiệu quả sử dụng TSLĐ càng cao và ngược lại.
• Vòng quay dự trữ, tồn kho:

1.2.3.1 Quản lý, dự trữ hàng tồn kho:
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp thông thường
phải dự trữ một lượng hàng hoá nhất định để cho doanh nghiệp có thể hoạt
động một cách liên tục. Hàng hoá tồn kho bao gồm ba loại chính: nguyên liệu
thô, sản phẩm dở dang và sản phẩm hoàn thành. Nguyên liệu thô là những
nguyên liệu và bộ phận, linh kiện rời do các doanh nghiệp mua và sử dụng
trong quá trình sản xuất.
Trong sản xuất nếu các doanh nghiệp mua nguyên liệu với số lượng
quá lớn hay quá nhỏ thì đều không đạt hiệu quả tối ưu, bởi nếu mua với số
lượng quá lớn thì doanh nghiệp sẽ phải chịu nhiều chi phí tồn trữ và rủi ro do
hàng hoá bị hư hao, mất mát. Mặt khác, nếu mua hàng hoá với số lượng quá
nhỏ có thể dẫn đến gián đoạn sản xuất và làm tăng những chi phí không cần
thiết và không đạt hiệu quả cao.
Do đó, doanh nghiệp sẽ có lợi khi mua vừa đủ nguyên liệu để tạo ra
một miếng đệm an toàn giữa cung ứng và sản xuất. Tồn kho trong quá trình
SV: Vũ Hữu Việt Lớp: Tài chính doanh nghiệp
53B
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS.Phạm
Long
sản xuất là các loại nguyên liệu nằm trong từng công đoạn của dây chuyền
sản xuất. Thông thường không thể có sự đồng bộ hoàn toàn giữa các công
đoạn sản xuất của doanh nghiệp, bởi các bộ phận sản xuất không thể có cùng
công suất hoạt động trong mọi thời điểm. Bởi vậy, mỗi công đoạn sản xuất
đều có một lượng tồn kho riêng. Nếu không có một lượng nguyên liệu hay
bán thành phẩm dự trữ nào đó thì một công đoạn sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào
các bộ phận đứng trước nó. Do đó, các loại nguyên vật liệu tồn kho có tác
dụng tạo ra sự thông suốt và tính hiệu quả trong quá trình sản xuất. Dây
chuyền sản xuất càng dài, các công đoạn sản xuất càng nhiều sẽ dẫn tới nhu
cầu tồn kho càng lớn.

1
) là:
Q
T
1
= C
1
2
Chi phí đặt hàng (chi phí hợp đồng) gồm chi phí quản lý giao dịch và
vận chuyển hàng hoá. Chi phí đặt hàng cho mỗi lần đặt hàng thường ổn định
không phụ thuộc vào số lượng hàng hoá đi mua. Nếu gọi D là toàn bộ lượng
hàng hoá cần sử dụng trong một đơn vị thời gian (năm, quý, tháng) thì số
lượng lần cung ứng hàng hoá sẽ là D/Q và gọi C
2
là chi phí mỗi lần đặt hàng
vậy tổng chi phí đặt hàng (T
2
) sẽ là:
D
T
2
= C
2
Q
Gọi TC là tổng chi phí tồn trữ hàng hoá, ta sẽ có: TC = T
1
+ T
2
Q D
TC = C

Long
1.2.3.2 Quản lý ngân quỹ và các tài sản có tính thanh khoản cao:
a) Sự cần thiết của việc giữ tiền mặt
Tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ và tiền trên tài khoản thanh toán của
doanh nghiệp ở ngân hàng. Nó được dùng để trả lương, mua nguyên vật liệu,
mua tài sản cố định, trả tiền thuế, trả nợ,.v v.
Tỷ lệ sinh lời trực tiếp trên tiền mặt rất thấp, thậm chí tỷ lệ sinh lời trên
tiền giấy trong két của doanh nghiệp và tiền trong tài khoản chi có tỷ lệ sinh
lời bằng không. Trong khi đó sức mua của tiền tệ luôn có khuynh hướng giảm
do chịu ảnh hưởng của lạm phát. Bởi vậy có thể nói tỷ lệ sinh lời thực trực
tiếp của tiền giấy và tiền gửi ngân hàng đối với tài khoản bảo chi sẽ có tỷ lệ
âm.
Quản lý tiền mặt sẽ có liên quan chặt chẽ đến việc quản lý các loại tài
sản gắn với tiền mặt như các loại chứng khoán thanh khoản cao. Các loại
chứng khoán gần như tiền mặt giữ một vai trò như một bước đệm cho tiền
mặt, vì nếu số dư tiền mặt nhiều doanh nghiệp có thể đầu tư vào chứng khoán
thanh khoản cao, nhưng khi cần thiết cũng có thể chuyển đổi chúng một cách
dễ dàng, ít tốn kém chi phí. Như vậy, trong quản trị tài chính người ta sử dụng
chứng khoán có khả năng thanh khoản cao để duy trì tiền mặt ở mức độ mong
muốn.
Ta có thể thấy điều này thông qua sơ đồ luân chuyển sau:
Sơ đồ 1 : sơ đồ luân chuyển tiền mặt.
SV: Vũ Hữu Việt Lớp: Tài chính doanh nghiệp
53B
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS.Phạm
Long
Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc gửi tiền mặt là cần
thiết nhưng việc giữ đủ tiền mặt sẽ phục vụ cho hoạt động kinh doanh có
những lợi thế sau:

nghiệp phải bán các chứng khoán có khả năng thanh khoản cao để lại có được
lượng tiền như ban đầu.
Có hai loại chi phí cần được xem xét trong trường hợp này: thứ nhất -
khoản thiệt hại tiền lãi do số tiền được giữ dưới dạng tiền mặt hoặc chính là
chi phí cơ hội cho việc lưu giữ tiền mặt tại quỹ của doanh nghiệp và thứ hai
chính là chi phí trong mỗi lần giao dịch chứng khoán.
Nếu gọi M là cán cân tiền mặt, thì cán cân tiền mặt trung bình (mức dự
trữ tiền mặt trung bình) là M/2. Vậy số tiền lãi bị bỏ qua vì duy trì cán cân
tiền mặt trung bình (C
1
) là:
M
C
1
= i
2
Với i là lãi suất sinh lời của các công cụ được giao dịch trên thị trường
tiền tệ.
C
b
chi phí cho một lần bán chứng khoán thanh khoản cao và M
n
là tổng
mức tiền mặt giải ngân hàng năm. Vậy chi phí cho mỗi lần giao dịch chứng
khoán (C
2
) là:
M
n
C

Bằng việc nghiên cứu và phân tích thực tiễn, các nhà kinh tế học đã đưa ra
mức dự trữ tiền mặt dự kiến dao động trong một khoảng, tức là lượng tiền dự
trữ sẽ biến thiên từ cận thấp nhất đến giới hạn cao nhất. Nếu lượng tiền mặt ở
dưới mức thấp (giới hạn dưới) thì doanh nghiệp phải bán chứng khoán để có
lượng tiền mặt ở mức dự kiến,và ngược lại tại giới hạn trên doanh nghiệp sử
dụng số tiền vượt quá mức giới hạn mua chứng khoán để đưa lượng tiền mặt
về với mức dự kiến.
• Hoạch định ngân sách:
Để xác định nhu cầu chi tiêu và nguồn thu ngân quỹ. Kế hoạch này
thường được xây dựng dựa trên cơ sở từng tháng, từng tuần hay mỗi ngày.
Yếu tố quan trọng được một ngân sách tiền mặt có ý nghĩa dựa trên tính xác
thực của những dự báo về doanh số bán
Trước hết, chúng ta phải xác định về doanh thu bán hàng trong kỳ. Một
khi đã dự báo được doanh thu bán hàng, doanh nghiệp có thể dự thảo được
ngân sách tiền mặt bằng cách ước tính thời điểm cụ thể sẽ thu hồi tiền bán
hàng. các khoản chi tiêu có liên quan đến sản xuất, mua nguyên vật liệu và
doanh số bán hàng tương lai. Việc dự báo này phải được dựa trên nhiều yếu tố
như chính sách kinh tế - xã hội, môi trường cạnh tranh và nhu cầu của thị
trường về sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp và dựa theo cả những thống kê
SV: Vũ Hữu Việt Lớp: Tài chính doanh nghiệp
53B
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status