ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
KHẢO SÁT CÁC SỐ LIỆU
VỀ TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG
VÀ NHU CẦU PHÁT TRIỂN ROBOT Ở VIỆT NAM
3
MỞ ĐẦU
Trong báo cáo này trình bày tổng hợp và phân tích các kết quả khảo sát
ở cả 3 miền Trung, Nam, Bắc tại nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh và đào tạo.
Phần báo cáo tổng hợp và phân tích gồm các nội dung sau:
1. Tình hình phát triển kinh tế Việt Nam và triển vọng ứng dụng robotics
2. Tổng hợp tình hình phát triển của một số ngành kinh tế quan trọng và
phân tích các loại hình công việc cần đến robot.
3. Thị trường robot ở Việt Nam
4. Nhận xét về sự phát triển robot công nghiệp của Việt Nam
Phần tiếp theo, như phần phụ lục, trình bày cụ thể các số liệu khảo sát
để minh họa phân tổng hợp và phân tích nói trên. Các số liệu khảo sát từng
vùng miền đã đóng thành 4 cuốn riêng (tham khảo các Báo cáo đính kèm):
1. Khảo sát tình hình liên quan đến robot ở một số cơ sở sản xuất kinh
doanh ở khu vực miền Bắc
2. Khảo sát tình hình liên quan đến robot ở khu vực các trường đại học
và cao đẳng kỹ thuật ở miền Bắc.
3. Kết quả khảo sát ở miền Trung
4. Kết quả khảo sát ở miền Nam
5
1.1. Củng cố hệ thống sản xuất cơ khí
Hiện trạng của ngành cơ khí trong nước có thể phản ánh qua thực tế
của ngành ở 2 thành phố lớn Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh.
Ngành cơ kim khí trên địa bàn Hà Nội có tốc độ tăng cao so với các
ngành sản xuất công nghiệp trên địa bàn, tốc độ tăng trưởng bình quân ngành
giai đoạn 2001 – 2005 đạt 25,6%; tăng năm sau cao hơn năm trước 22% đến
24% /năm. Đặc biệt trong giai đoạn này khối doanh nghiệp dân doanh tăng
bình quân cao nhất 38,2% và chiếm 16,18% tỷ trọng trong cơ cấu của ngành;
Khối doanh nghiệp nhà nước vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng ổn định ở mức
22,6% đến 25,1% và chiếm 31,74% trong ngành cơ khí; khối doanh nghiệp
đầu tư nước ngoài tăng chậm nhưng vẫn giữ ở mức tăng trưởng ổn định cao
24,5% và chiếm 52,08% tỷ trọng toàn ngành. Tỷ trọng về SXCN chiếm ngày
càng lớn so với công nghiệp trên địa bàn.
Ngành cơ khí Hà Nội trong thời gian gần đây đã chú trọng đầu tư đổi
mới thiết bị, ứng dụng các công nghệ tiên tiến, do đó một số doanh nghiệp đã
nâng cao năng lực sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, hoạt động
có hiệu quả hơn. Việc ứng dụng các thiết bị cắt gọt kim loại số hóa (CNC), tự
động hóa vào sản xuất và sự trợ giúp của computer (CAD/CAM) trong thiết
kế đã làm thay đổi căn bản trình độ, năng lực và công nghệ của sản phẩm đã
còn lại khoảng từ 30 – 40%
Công suất sử dụng từ 20% - 25% trong khi trên thế giới là
80%
Tiêu thụ nguyên liệu và năng lượng vượt định mức thiết
kế, gấp khoảng 2 lần của thế giới.
Năng xuất lao động đạt 20% so với mức trung bình của thế
giới.
Các ngành chính gồm:
Chế tạo máy động lực, ô tô, xe máy, phương tiện giao
thông vận tải
7
Chế tạo máy chế biến phục vụ nông, lâm, hải sản và cây
công nghiệp
Chế tạo máy công cụ, thiết bị đồng bộ và thiết bị kẻ phục
vụ các ngành kinh tế
Chế tạo thiết bị và vật liệu kỹ thuật điện
Công nghiệp đóng tàu
Chế tạo máy thi công cầu đường xây dựng, kết cấu thép
Chế tạo sản phẩm cơ kim khí tiêu dùng
Công nghiệp cơ khí quốc phòng
Hiện tại:
Sản phẩm cơ khí nội địa của thành phố Hồ Chí Minh chỉ
đáp ứng 8 – 9% nhu cầu nội địa, sẽ tăng 40% năm 2010
(khoảng 4,5 – 5 tỷ USD)
Tỷ lệ xuất khẩu khong đáng kể khoảng 10 triệu USD/năm
Dự báo
Nhu cầu về trang thiết bị máy móc trong giai đoạn 2001 –
2010 của cả nước khoảng 21 tỷ USD
năng lực của toàn ngành của cả nước, tuy nhiên giá trị sản xuất còn rất thấp.
- Giá trị sản xuất tiêu biểu qua các năm như 1996: 75 triệu USD; 1998:
168 triệu USD; 2000: 190 triệu USD; 2003: 205 triệu USD.
Về trình độ công nghệ:
- Loại tiên tiến, công nghệ ở thế hệ thứ nhất: chiếm tỷ lệ 30%
- Loại trung bình: công nghệ thế hệ trước nhưng chưa lạc hậu: 61%
- Loại lạc hậu: 9%0
Về nhân lực:
- Sản xuất thiết bị điện tử dân dụng:
+ TV: 1,6 triệu chiếc/năm
+ Radio casstte: 800 nghìn chiếc/năm
- Thiết bị điện tử chuyên dụng
9
+ Thiết bị Viba 1500 đầu máy/năm
+ Viba số 34 Mb/s: 20.000đv/năm
+ Tổng dài 1000 Z10: 100.000 chiếc/năm
- Ngành sản xuất thiết bị tin học và linh phụ kiện điện tử: giá trị còn
thấp
Về dự kiến hướng sản xuất trong giai đoạn tiếp theo:
- Giá trị sản xuất: 2,351 tỷ USD
- Tốc độ tăng trưởng trung bình/năm: 30%
Về các dự án đã và đang đầu tư:
Nhà máy thiết bị tin học
Trung tâm sản xuất phần mềm tin học “Quang Trung Software Park”
Nhà máy sản xuất mạch in nhiều lớp
Nhà máy vật liệu linh điện từ
Nhà máy đĩa quang CD - DVD
Trước nay vẫn có quan niệm là ngành điện tử chỉ đóng vai trò cấp linh
kiện cho ngành chế tạo máy. Thực tế cho thấy tương lai của ngành điên tử sẽ
phát triển của ngành công nghệ thông tin tại đây cho thấy ngành này sẽ trở
thành công nghiệp mũi nhọn trong tương lai gần. Các dự án thành phố đang
đầu tư xây dựng: Saigon Software Park, Công viên phần mềm Quang Trung
(diện tích 40 ha, đến năm 2003 đã lấp đầu với 62 công ty và vốn đầu tư
khoảng 700 tỷ VNĐ), Unisoft, REE-ETown, Intel v.v. Hiện có trên 180 công
ty công nghệ thông tin trong và ngoài nước hoạt động tại thành phố với
khoảng 10.000 lao động, trong đó số nhân lực làm phần mềm khoảng 4.000
người. Một số dự án đáng chú ý là Trung tâm đào tạo của công ty Cadence
(chuyên về thiết kế vi mạch v.v.), Sun Microsystem v.v.
Số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CNTT ở Hà Nội cũng
tương đối lớn.Toàn Thành phố có trên 6000 doanh nghiệp, cơ quan, viện,
trường, đơn vị hoạt động trong ngành CNTT trên các lĩnh vực: xây dựng phát
triển phần mềm, cung cấp dịch vụ CNTT (mua, bán thiết bị, tư vấn đầu tư, hỗ
trợ, quản lý), đào tạo CNTT (đào tạo đại học, cao đẳng, đào tạo chứng chỉ
11
quốc tế, dạy nghề, đào tạo tin học cơ sở) và sản xuất lắp ráp phần cứng…
Trong đó có khoảng 400 doanh nghiệp kinh doanh liên quan trực tiếp đến
CNTT như phần mềm, đào tạo nhân lực CNTT, lắp ráp máy tính. Theo số liệu
của Trung tâm Thông tin Bưu điện (Tổng Công ty BCVT Việt Nam – VNPT),
hiện có khoảng hơn 200 đơn vị hoạt động trong lĩnh vực phần mềm tại Hà
Nội, trong đó có khoảng 50% số doanh nghiệp làm phần mềm mới được
thành lập trong những năm gần đây.
Công nghiệp điện tử là ngành đòi hỏi công nghệ cao và vốn đầu tư ban
đầu lớn. Công nghiệp này trong nước chủ yếu vẫn chỉ là việc nhập khẩu linh
kiện về lắp ráp hoặc nhập khẩu nguyên chiếc sản phẩm để bán ra trên thị
trường (trên 70% thị phần) mà chưa hình thành được một ngành sản xuất quy
mô lớn, chưa có nhiều cơ sở đủ trình độ, vốn, công nghệ thực hiện sản xuất
linh kiện, bảng mạch v.v.
Các công ty và cơ sở sản xuất kinh doanh máy tính chủ yếu kinh doanh
hỏi đầu tư nhiều làm tăng giá thành sản phẩm, do đó khó có khả năng cạnh
tranh ngay tại Việt Nam cũng như trong khu vực. Cơ điện tử sẽ cho phép
chúng ta không phải đi theo những bước phát triển mà các nước công nghiệp
đã đi qua, mà có thể tạo ra những đột phá trong tư duy công nghệ tổng hợp,
tạo ra những sản phẩm mới có tính cạnh tranh trên thế giới. Điều đó sẽ giúp
cho hàng hóa Việt Nam đứng vững trên thị trường quốc tế trong bối cảnh toàn
cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ.
Trong những năm qua, trên con đường hội nhập và sự gia tăng đầu tư
nước ngòai vào Việt Nam, các trang thiết bị của công nghệ Cơ điện tử đang
thâm nhập vào Việt Nam như Robot, máy công cụ CNC, trung tâm gia công
CNC, máy cắt laser điều khiển số, máy in, máy ảnh v.v. và cũng đã có một số
loại sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam như các nhà ở khu công nghiệp Hải
Phòng, các nhà máy ở khu công nghiệp Thăng Long, Khu Công nghệ cao Tp
Hồ Chí Minh v.v.
13
Một số ứng dụng công nghệ cơ điện tử trong các dự án của các doanh
nghiệp có thể kể như:
- Ứng dụng công nghệ CAD/CAM trong thiết kế chế tạo cơ khí (bao gồm các
phần mềm thiết kế tự động máy công cụ, phần mềm mô phỏng tính toán động
học máy; các loại thiết bị điều khiển phân tán diện rộng, thiết bị đo lường ứng
dụng kỹ thuật số; hệ SCADA tiêu chuẩn phục vụ cho nghiên cứu ứng ụng
điều khiển hệ thống cơ điện tử; thuộc dự án “Nghiên cứu ứng dụng và phát
triển công nghệ TĐH trong lĩnh vực sản xuất máy công cụ và thiết bị công
nghiệp” của Công ty Cơ khí Hà Nội – HAMECO (Bộ Công nghiệp), thực
hiện năm 2000 – 2004.
- Ứng dụng máy công cụ điều khiển số CNC vào trong sản xuất thực tế ở các
doanh nghiệp cơ khí. Thay đổi phong cách làm việc truyền thống, sử dụng các
máy sản xuất công cụ hiện đại, nâng cao độ chính xác trong gia công, nâng
cao năng suất. Việc ứng dụng máy CNC vào trong sản xuất hiệu quả trong
Viện IMI đã từng bước tiến hành nghiên cứu hoàn thiện công nghệ,
thiết kế ứng dụng cơ điện tử vào các hệ thống, quy trình xử lý chất thải công
nghiệp. Điển hình như các hệ thống xử lý bụi công nghiệp trong các nhà máy,
hệ thống xử lý nước thải, hệ thống chế biến rác thải thành loại vật liệu tái chế
biến hay phân vi sinh. Các thiết bị này được điều khiển tự động nhờ tích hợp
các bộ điều khiển PLC đồng bộ khép kín, tránh cho công nhân tiếp xúc trực
tiếp, dễ vận hành, nâng cao hiệu suất các thiết bị và toàn bộ hệ thống. Một số
hệ thống xử lý chất thải công nghiệp tích hợp cơ điện tử đã được Viện IMI
đưa vào ứng dụng thực tế thành công.
Với 4 phòng thí nghiệm chuyên ngành là: Động lực học và điều khiển
máy, Điều khiển tự động lập trình, Chip và modul điều khiển và Quang điện
tử, Phòng thí nghiệm cơ điện tử này sẽ là trung tâm triển khai thực nghiệm và
sản xuất thử nghiệm chính trong việc tạo ra và hoàn thiện công nghệ nguồn và
sản phẩm công nghệ cao.
15
Phòng thí nghiệm Cơ điện tử tại trường Đại học Bách khoa Hà Nội
thành lập dưới sự hợp tác của Công ty Festo và Đại học Bách Khoa. Đưa đến
cho sinh viên Đại học Bách Khoa các thiết bị thí nghiệm cơ điện tử hiện đại
như hệ thống mô phỏng dây chuyền sản xuất linh hoạt, thiết bị tự động thủy
lực, cảm biến, robot giúp cho sinh viên cơ điện tử tại trường đại học có cơ hội
được tiếp xúc với các công nghệ đang được ứng dụng trong sản xuất thực tiễn
tại doanh nghiệp. Góp phần nâng cao chất lượng đào tạo kỹ sư ngành cơ điện
tử đang rất thiếu hiện nay.
Vài dự án lớn thành lập các khu nghiên cứu – triển khai Cơ điện tử như
tại khu Công nghệ cao Hòa Lạc, khu công nghiệp Việt Nam – Singapore và
các nhà máy sản xuất lắp ráp robot (khu Nomura – Hải Phòng), bao gói –
kiểm tra chip vi mạch (Mtec – Khu CX Tân Thuận), khu thiết kế - sản xuất
thiết bị và các phần mềm nhúng cho công nghệ thông tin tại khu công nghệ
cao thành phố Hồ Chí Minh đã đặt ra cho chúng ta vấn đề cần có một sự
* Dự án: “Đầu tư ứng dụng công nghệ TĐH trong thiết kế chế tạo động
cơ điện” của Công ty TNHH 1 thành viên Chế tạo máy điện Việt – Hung thực
hiện năm 2005, nội dung thực hiện: trang bị phần mềm thiết kế động cơ điện,
phần mềm điều khiển và một số máy CNC, kết quả thu được: tạo ra sản phẩm
đạt tiêu chuẩn, tăng năng suất lao động từ 22 – 25%, đồng thời giảm giá thành
sản phẩm từ 8 – 10%.
*Dự án: “Ứng dụng công nghệ TĐH trong thiết kế chế tạo khuôn nhựa”
của Công ty TNHH 1 thành viên Nhựa Hà Nội, với nội dung thực hiện: trang
bị các phần mềm thiết kế khuôn mẫu chuyên dụng và các hệ thống thiết bị
phụ trợ phục vụ chế tạo khuôn mẫu cho ngành nhựa.
Hiện nay, việc sản xuất các sản phẩm liên quan đến Cơ điện tử phục vụ
tiêu dùng tiến hành ở các doanh nghiệp trong nước mới dừng lại ở mức độ lắp
ráp SKD, CKD hoặc IKD. Các doanh nghiệp này chưa tổ chức phòng nghiên
cứu, phát triển sản phẩm hoặc là có phòng nghiên cứu nhưng hoạt động chưa
hiệu quả.
17
Nhiều doanh nghiệp nước ngoài nằm trong khu công nghiệp có các sản
phẩm, linh kiện liên quan đến Cơ điện tử. Trong bảng sau trích dẫn một số
sản phẩm:
TT
Doanh nghiệp
Nước
Sản phẩm chính
1
Vina KDC Wiring
Industries Ltd
Nhật Bản
Sản phẩm truyền dẫn sử dụng
cho các thiết bị điện tử và dây
7
Fujikin Vietnam Co Ltd
Japan
Thiết bị điều khiển dòng chảy
siêu chính xác và các bộ phận
8
Yabashi Vietnam CAD
Technology
Corporation
Nhật Bản
Thiết kế, xử lý thiết kế và các
sản phẩm phần mềm
9
Matsushita Home
Appliances Vietnam
Co.,Ltd
Nhật Bản
Chế tạo, lắp ráp, nghiên cứu,
phát triển thiết kế của các sản
phẩm: thiết bị điện gia dụng,
các sản phẩm gia dụng có liên
18
quan và các chi tiết của thiết bị
điện.
10
Tokyo Micro Vietnam
Co., Ltd
Nhật Bản
Động cơ cỡ nhỏ cho các camera
phục vụ tiêu dùng: máy in, máy photocopy, máy ảnh kỹ thuật số. Nhà máy
sản xuất máy in phun mầu Canon – tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long là
một trong 18 nhà máy sản xuất của Tập đoàn Canon ở Châu Á và là một trong
3 nhà máy ở Việt Nam. Nhà máy có diện tích 225,000m
2
bắt đầu hoạt động
năm 2002 đã dóng góp 25% tổng sản lượng máy in phun trên toàn cầu và hiện
tại là nhà xuất khảu lớn nhất ở Hà Nội với sản lượng xuất khẩu là 53% trên
tổng sản lượng xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại
Hà Nội. Năm 2003, sản lượng đặt 200.000 máy in/triệu máy/tháng. Doanh thu
năm 2005 của Nhà máy đạt 410 triệu USD. Ngoài việc phục vụ thị trường
Châu Á, Châu Âu và Mỹ. Hầu hết các chi tiết, linh kiện điện, điện tử đều
được nhập khẩu từ chính hãng.
19
Tóm lại, các sản phẩm được chế tạo bởi các liên doanh hoặc các doanh
nghiệp 100% vốn nước ngòai đa phần là các linh kiện phục vụ cho việc lắp
ráp các sản phẩm hoàn chỉnh. Các sản phẩm công nghệ cao đó đều phục vụ
cho xuất khẩu, một phần nhỏ được sử dụng cho các doanh nghiệp trong nước.
Sở dĩ có như vậy là do tại Việt Nam chưa có một nhà máy nào có khả năng
tích hợp tất cả các chi tiết công nghệ cao đó để đưa ra một sản phẩm hoàn
thiện. Điều đó chứng tỏ trình độ công nghệ, đặc biệt là công nghệ Cơ điện tử
của của ta còn rất thấp.
21
2.1. Ngành cơ khí chế tạo thiết bị các loại hình công việc cần đến robot
Các loại hình công việc
Các cơ sở sản xuất
Robot hàn (Wolding Robots)
Robot ®óc khu«n (Die Casting
Robots)
Robot sơn (Painting Robots)
Robot mài (Grinding Robots)
Một số công ty sản xuất hàng tiêu dùng
trong nước Robot đóng gói (Packing Robots)
* Công ty Kinh Đô:
- Vốn đăng ký: 2 triệu USD
- Doanh thu hàng năm: 40 triệu USD
- Lợi tức hàng năm: 16 triệu USD
* Tổng Công ty Bia và đồ uống.
- Kế hoạch đến 2010: 3,5 triệu lít bia,
1650 triệu lít nước giải khát
- Đầu tư: 34.690 tỷ VNĐ (≈ 2 tỷ USD)
2.3. Robot dùng cho giáo dục đào tạo
Số lượng các trường Đại học và Cao đẳng là 376 và gần 300
trường Trung cấp Dạy nghề.
Tỷ lệ kinh phí đầu tư cho giáo dục tương đối cao: 2%, nhưng
chưa có định hướng chiến lược đầu tư về thiết bị, chưa chú trọng
trong nước tự sản xuất thiết bị dạy học, đặc biệt là robot.
Khảo sát ở một số trường Robot KuKa KR-6 ở phòng thí nghiệm
* Trường đại học Bách khoa Hà Nội
- 1950 cán bộ với 1192 giảng viên, 399
GS và PGS, 703 TSKH và TS.
- 200 phòng thí nghiệm trọng điểm; 20
xưởng thực hành.
24
III. THỊ TRƯỜNG ROBOT Ở VIỆT NAM Trong mục này bao gồm các nội dung sau:
3.1. Phân bổ thị trường robot ở Việt Nam
3.2. Robot của OTC Daihen tại Việt Nam
3.3. Robot của Panasonic tại Việt Nam
3.4. Robot của Nhật Bản tại Việt Nam
3.5. Robot của ABB và của các công ty khác tại Việt Nam
3.6. Robotech - Nhà sản xuất chế tạo robot tại Việt Nam