ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO NGHIỆM THU
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Điều tra khảo sát khảo cổ học phục vụ nhu cầu
quy hoạch, xây dựng và phát triển huyện Cần Giờ
Thành phố Hồ Chí Minh (giai đoạn 2006-2010)
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS. NGUYỄN THỊ HẬU
CƠ QUAN QUẢN LÝ CƠ QUAN CHỦ TRÌ
SỞ KHCN TPHCM VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN TPHCM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÁNG 12/ 2010
research in the future.
This research also review of evaluate historical and cultural sites,
and give some solutions for archaeological sites should be preserved or
excavated to building a form of local museums and understanding on
cultural history from prehistory to proto-Oc Eo in this region.
1
Trong 26 di tích trên toàn huyện Cần Giờ, có 2 di tích bị xóa sổ và 01 di tích không tìm thấy.
2
MỤC LỤC
Trang
Tóm tắt đề tài/dự án (gồm tiếng Việt và tiếng Anh) 1
Mục lục 2
Danh sách các chữ viết tắt 6
Thành viên nhóm nghiên cứu 7
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài 8
II. Mục tiêu của đề tài. 11
III. Nội dung nghiên cứu 11
IV. Giới hạn phạm vi nghiên cứu. 12
V. Phương pháp nghiên cứu 12
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
I.Tình hình nghiên cứu ngoài nước 14
II.Tình hình nghiên cứu trong nước 16
CHƯƠNG II. KHÁI QUÁT HỆ THỐNG DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC VÀ
TỒNG QUAN VỀ QUY HOẠCH HUYỆN CẦN GIỜ
I. Khái quát hệ thống di tích KCH huyện Cần Giờ
1.1.Vị trí địa lý và môi trường. 26
1.2.2. Di tích Giồng Bà Lưới 49
1.2.3. Di tích Giồng Bến Xa 50
4
1.2.4. Di tích Giồng Cá Trăng
1.2.5. Di tích Giồng Cá Vồ 51
1.2.6. Di tích Gò Cây Keo 52
1.2.7. Di tích Giồng Cây Trôm lớn
1.2.8. Giồng Chim
1.2.9. Di tích Giồng Chơn 53
1.2.10. Giồng Da 54
1.2.11.Di tích Giồng Đất Đỏ 1 và Giồng Đất Đỏ 2 (Giồng Đỏ). 54
1.2.12. Di tích Giồng Lá Buông Ông Hần 56
1.2.13. Di tích Giồng Lò Than 57
1.2.14. Di tích Mũi Gành Rái 57
1.2.15. Di tích Gò Ông Mai 58
1.2.16. Di tích Giồng Phệt
1.2.17. Di tích Giồng Xưởng 59
1.3. Các di tích ở xã Lý Nhơn. 59
1.3.1. Di tích Khu Bao Đồng
1.3.2. Di tích Núi Đất Lớn (Gốc Tre Lớn) 60
1.3.3. Di tích Núi đất Nhỏ 61
1.4. Di tích ở xã An Thới Đông
1.4.1. Di tích Gò Đất (Tắc Ông Thọ) 61
1.5. Hiện vật tại các di tích khảo sát. 62
II. Thám sát các di tích 65
2.1 Di tích Giồng Phệt
5
2.2 Một số định hướng, giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị 109
Bảng đánh giá hiện trạng, khả năng nghiên cứu và đề nghị… 113
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
PHỤ LỤC 124
Điều chỉnh quy hoạch không gian chung huyện Cần Giờ - Sơ đồ định hướng
phát triển không gian 125
Bản đồ TP.HCM và các vùng phụ cận 126
Bản đồ hành chính huyện Cần Giờ 127
Bảng đồ tự nhiên huyện Cần Giờ
128
Bản đồ các di tích khảo cổ học huyện Cần Giờ (bản đồ hành chính) 129
Bản đồ các di tích khảo cổ học huyện Cần Giờ (bản đồ vệ tinh) 130
Mô tả các mẫu gốm phân tích quang phổ 131
Kết quả các mẫu gốm phân tích quang phổ 132
Hình ảnh các di tích và di vật. 136
Bản vẽ các di tích và di vật. 205 7
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VIẾT TẮT THUẬT NGỮ TIẾNG VIẾT
AD Anno Domini: Sau Công nguyên
BP Before present: Cách ngày nay
ĐHKHXH&NV Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
KCH Khảo cổ học
KHXH Khoa học xã hội
NPHKCHMN Những phát hiện khảo cổ học ở miền Nam
7. CN. Trần Thị Vũ Phương – Trung tâm Văn hóa Huyện Cần Giờ,
TP.HCM
Tham gia khảo sát còn có sinh viên chuyên ngành KCH, khoa
Lịch Sử, ĐHKHXH & NV TP.HCM
10
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Các di tích khảo cổ học ở Cần Giờ phát hiện từ năm 1978 – 1979,
sau đó năm 1992 – 1994 khảo sát lại và di tích đầu tiên được khai quật.
Nghiên cứu bước đầu cho biết, trong địa bàn huyện Cần Giờ đã tồn tại một
hệ thống di tích khảo cổ học phân bố trên hàng chục giồng đất đỏ, đất nâu
đen, ven các con sông, rạch như sông Hà Thanh, Bà Vú, Bãi Tiên (xã
Long Hòa), sông Vàm Sát, rạch Gốc Tre lớn (xã Lý Nhơn) và khu vực
giồng cát cổ Cần Thạnh ven vịnh Gành Rái. Như vậy những di tích được
đoàn lưu dân đến khai phá vùng Đồng Nai – Gia Định vào thế kỷ 17 – 19
nhưng cho đến nay chưa được điều tra khảo sát. Những năm gần đây nhân
dân cũng đã phát hiện thêm một số địa điểm có dấu hiệu giống những di
tích đã được khai quật.
Cần Giờ có diện tích 70.421,59 ha gồm 6 xã là Cần Thạnh, Bình
Khánh, Tam Thôn Hiệp, Thạnh An, An Thới Đông, Lý Nhơn và Long
Hòa. Hiện nay ngoài khu quy hoạch rừng ngập mặn cần bảo tồn chiếm
khoảng 33.000ha, theo chương trình quy hoạch mà Viện Quy hoạch Xây
dựng TP.HCM và Ủy ban nhân dân huyện Cần Giờ thống nhất trong cuộc
họp ngày 2/8/2006 thì từ nay đến năm 2020, diện tích hơn 34.000ha còn
lại dự kiến phát triển thành khu độ thị du lịch sinh thái, khu cảng du lịch
và cảng dịch vụ, khu lâm viên gắn với rừng ngập mặn.
Với diện tích lớn nhất trong các quận huyện của TP.HCM nhưng
Cần Giờ là địa bàn dân cư thưa thớt nhất, năm 2002 mới có khoảng 63.000
người, bằng 1% dân số toàn thành phố. Vì vậy, theo các chỉ tiêu phát triển
kinh tế xã hội, dân số của huyện đến năm 2010 là khoảng 150.000 người
và đến năm 2020 là từ 500 – 700.000 người. Quy mô dân số này sẽ kéo
theo nhu cầu phát triển đô thị gồm các khu dân cư, đường giao thông, khu
dịch vụ… Chưa kể hiện nay Tổng cục Du lịch đang đầu tư tại Cần Giờ
nhiều điểm du lịch mới như khu du lịch 30-04; khu du lịch nhà vườn
12
Phước Lộc,… tương lai sẽ thu hút khách du lịch tham quan đến với Cần
Giờ ngày càng nhiều hơn.
Như vậy, quy hoạch xây dựng và phát triển huyện Cần Giờ từ nay
đến 2020 hoạch định phát triển một cách khá cụ thể trên các lĩnh vực kinh
tế – xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế, các khu vực trong tương lai gần sẽ
được xây dựng những công trình lớn như cảng biển, khu dịch vụ du lịch,
khu dân cư… lại là khu vực đã có những phát hiện quan trọng về khảo cổ
các di tích, từ đó đề xuất kế hoạch khai quật và nghiên cứu khảo cổ học ở
Cần Giờ phù hợp với từng giai đoạn tiến hành các công trình lớn tại đây.
2. Phát hiện thêm tư liệu KCH ở Cần Giờ, góp phần tìm hiểu lịch sử
– văn hóa vùng đất Sài Gòn – TP.HCM trong bối cảnh lịch sử – văn hóa
Nam Bộ.
3. Góp phần thiết thực bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của
Cần Giờ nói riêng và TP.HCM nói chung. Thực hiện một cách cụ thể Luật
Di sản văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đóng góp cho
phát triển bền vững.
III. Nội dung nghiên cứu
1. Tiến hành điều tra, khảo sát nhằm nghiên cứu thực trạng các di
tích khảo cổ học trong huyện. Đào thám sát một số di tích ở các xã Long
Hòa, Cần Thạnh và Lý Nhơn. Nghiên cứu địa tầng văn hóa và thu thập
hiện vật để xác định tính chất, quy mô và giá trị di tích. Lập báo cáo điều
tra khảo sát, thám sát làm cơ sở cho việc xây dựng Danh mục các di tích
khảo cổ học huyện Cần Giờ (kèm theo bản đồ phân bố) nhằm khoanh
vùng bảo vệ hoặc đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
2. Xây dựng Bản đồ Khảo cổ học huyện Cần Giờ với những thông
số khoa học, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch nghiên cứu trước mắt cũng
như lâu dài. Đánh giá và đề xuất một số giải pháp đối với các di tích đặc
biệt cần được bảo tồn nguyên dạng hay khai quật để thành lập “Bảo tàng
tại chỗ”. Xác định tiềm năng to lớn và nhiều mặt của khảo cổ học Cần
Giờ.
14
IV. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các di tích khảo cổ học dưới
lòng đất, tập trung vào những di tích thời Tiền sử (3.000 – 2.000 năm cách
ngày nay) và giai đọan văn hóa Óc Eo (2.000 – 1.500 năm cách ngày nay),
thăm dò địa chất, đào thám sát, phân tích mẫu gốm, mẫu cacbon C
14
… tại
các địa bàn được khảo sát.
Thống kê phân loại di vật (phương pháp loại hình học). Phương
pháp đối chiếu, so sánh tổng thể di tích và di vật trong bối cảnh các nền
văn hóa đồng đai và lịch đại. Phương pháp chọn mẫu để giám định niên
đại bằng phương pháp Cacbon phóng xạ C
14
hoặc phương pháp nhiệt phát
quang, phân tích mẫu gốm…
Áp dụng phương pháp thu thập và xử lý thông tin từ các nguồn tài
liệu thư tịch, số liệu thống kê, các văn bản, báo cáo, quy hoạch đô thị của
chính quyền Thành phố… có liên quan đến đề tài.
Thực hiện điều tra, khảo sát và đào thám sát khảo cổ học
Thực hiện các cuộc điều tra khảo cổ học ở 04 khu vực nói trên theo
một biểu mẫu quy định nhằm ghi nhận những thông tin về di tích, di vật
và đánh giá bước đầu về quy mô phân bố, đặc điểm, niên đại và giá trị văn
hóa – lịch sử của từng di tích.
Thực hiện việc thu thập di vật trên bề mặt di tích, lựa chọn di tích
đào thám sát. Tiếp đó là xử phân loại di tích và di vật theo các tiêu chí
trong khảo cổ học: như niên đại, loại hình di tích, di vật, phân tích mẫu,
thống kê số liệu, chỉnh lý hiện vật, làm phiếu hiện vật, đo vẽ, chụp ảnh
hiện vật, dập hoa văn…
Thực hiện báo cáo các đợt khảo sát, thám sát và chỉnh lý hiện vật.
Báo cáo sơ bộ, các bảng biểu phục vụ nghiên cứu, có các loại:
- Phiếu thông tin khảo sát di tích
- Phiếu thông tin về di vật.
- Và một số biểu mẫu thống kê.
17
tượng phổ biến của cư dân cổ nhiều nơi trên thế giới. Nguồn gốc xuất hiện
của táng tục này ở các khu vực văn hóa và trong các cộng đồng cư dân
không cùng một thời điểm lịch sử, nhưng sự phát triển của nó lại có quan
hệ mật thiết với nhiều vấn đề về tín ngưỡng tôn giáo, về thế giới quan và
về những đặc trưng văn hóa của từng khu vực nói riêng và toàn vùng nói
chung. Giải thích về nguồn gốc và sự phát triển của táng tục mộ chum ở
Đông Nam Á không thể không lưu ý đến điều kiện địa lý – sinh thái đặc
thù của các di tích mộ chum, cùng với vai trò của quá trình tiếp xúc và
giao lưu văn hóa ở khu vực này. Trước đây đã có quan niệm cho rằng, ở
Đông Nam Á trong thời đại kim khí có một “văn hóa mộ táng vò” do cư
dân có nguồn gốc từ Nam Trung Quốc di cư xuống phía Nam. Tuy nhiên,
hiện nay nhiều nhà nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á đã không đồng tình
với quan niệm trên mà ngược lại, cho rằng sự phân tán của táng thức mộ
chum gắn chặt với sự di chuyển của các nhóm cư dân thuộc ngữ hệ Nam
đảo, dựa vào sự so sánh về táng thức, táng tục và nhất là di vật tùy táng.
Tuy nhiên, dù có chung táng tục mộ chum nhưng trên thực tế, mỗi khu
vực khác nhau đều có những khác biệt về phương thức mai táng cụ thể, về
dạng chum và nắp đậy, về cách xử lý di cốt, cách bố trí đồ tùy táng… vì
vậy đã làm nên đặc trưng văn hóa riêng, biểu hiện cho sự phát triển nội tại
của từng văn hóa khảo cổ – tộc người. Điều cần lưu ý hơn là niên đại các
di tích mộ chum trong văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Đồng Nai ở Việt Nam
không muộn hơn các di tích cùng loại hình ở Đông Nam Á hải đảo, thậm
chí có những di tích còn có niên đại sớm hơn. Những mối quan hệ giao
lưu văn hóa – kỹ thuật giữa những khu vực trong vùng Đông Nam Á chủ
yếu qua con đường thương mại bằng đường biển, đường sông đã đóng vai
trò to lớn trong sự phát triển và thay đổi văn hóa trong toàn vùng, tất nhiên
trên cơ sở giữa các nền văn hóa khác nhau đã có sự tương ứng, đồng quy
(Trung tâm khảo cổ học, Viện KHXH vùng Nam Bộ nay là Viện Phát
triển Bền vững vùng Nam bộ, các năm1997, 2005) và nhiều bài nghiên
cứu trên tạp chí Khảo cổ học, tập san Những phát hiện mới về Khảo cổ
học… có thể nhận biết những đặc điểm của văn hóa Đồng Nai.
19
Văn hóa Đồng Nai là nền văn hóa khảo cổ thời tiền sử ở miền Đông
Nam bộ mà địa giới hành chánh ngày nay là các tỉnh Tây Ninh, Bình
Phước, Bình Dương. Đồng Nai, TP.Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu. Tuy
nhiên, về mặt địa lý-địa hình đây là vùng đất cao trải dài từ cao nguyên
Bảo Lộc - Di Linh thấp dần xuống đồng bằng châu thổ sông Cửu Long. Vì
vậy phạm vi phân bố của văn hóa Đồng Nai thời tiền sử bao gồm lưu vực
các con sông Đồng Nai, sông Bé, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ đông -
tây. Những di vật khảo cổ học được tìm thấy ở đây ngay từ cuối thế kỷ 19
trong khi xây dựng một số công trình lớn ở Sài Gòn. Thập niên 1960-1970
một số nhà địa chất học người Pháp đã công bố việc phát hiện các công cụ
thời đá cũ ở Xuân Lộc (Đồng Nai) và nhiều di tích ở vùng hạ lưu sông
Đồng Nai mà họ định danh là “văn hóa Cù Lao Rùa”. Từ sau 1975 việc
khai quật và nghiên cứu văn hóa Đồng Nai được đẩy mạnh và cho đến
nay, bức tranh thời tiền sử vùng lưu vực Đồng Nai đã dần hiện lên khá rõ
nét qua hệ thống hàng trăm di tích và hàng chục ngàn di vật độc đáo, thể
hiện một truyền thống văn hóa phát triển liên tục và lâu dài qua hàng ngàn
năm.
Trên một địa bàn rộng lớn như vậy, có thể nhận thấy các di tích
khảo cổ văn hóa Đồng Nai chia thành 3 khu vực:
- Khu vực đồi đất đỏ bazan và cao nguyên đất xám phù sa cũ: Các
di tích ở đây có diện phân bố rộng, tích tụ văn hóa dày, hiện vật vô cùng
phong phú chủ yếu là đồ gốm và công cụ đá. Tiêu biểu là cụm di tích
Xuân Lộc – Đồng Nai, di tích thành tròn ở Lộc Ninh – Bình Phước.
Giao (Đồng Nai) còn tìm thấy một kho “qua đồng”- một loại vũ khí cổ
phổ biến cả trong văn hóa Đông Sơn. Gần đây còn tìm thấy một số trống
đồng “kiểu Đông Sơn” được sử dụng làm nắp đậy những ngôi mộ chum
bằng gỗ ở di tích Bưng Sình - Phú Chánh (Bình Dương).
Đồ gốm và nghề làm gốm rất phát triển, các loại đồ dùng trong sinh
hoạt như nồi, bát đĩa chân cao, bình, bếp lò… có mặt trong tất cả các di
tích khảo cổ. Ngoài ra còn có nhiều dụng cụ bằng gốm như bàn xoa, dọi se
sợi, chì lưới… Ngoài các chất liệu chủ yếu trên trong văn hóa Đồng Nai
21
còn tìm thấy những di vật bằng gỗ, xương, sừng hay mai rùa… làm công
cụ và đồ trang sức.
Giai đoạn muộn của văn hóa Đồng Nai xuất hiện những di tích mộ
táng với táng thức chủ đạo là “mộ chum”: than tro hỏa táng hoặc di cốt
được chôn nguyên vẹn trong những chum, vò lớn bằng gốm hay bằng gỗ,
cùng nhiều đồ tuỳ táng có giá trị như trang sức đá ngọc, mã não, thủy tinh,
giáo sắt, đồ gốm minh khí… nổi bật là bộ sưu tập 26 “khuyên tai hai đầu
thú” tại di tích Giồng Cá Vồ - số lượng nhiều nhất được tìm thấy trong các
di tích mộ chum ở Việt nam và Đông Nam Á.
Trải qua gần 2000 năm phát triển, phương thức kinh tế chính của cư
dân cổ Đồng Nai là nông nghiệp ruộng khô (nương rẫy, dùng cuốc) kết
hợp với khai thác tự nhiên như đánh bắt cá, hái lượm… đồng thời phát
triển các nghề thủ công. Tuy nhiên, tại vùng cửa sông Đồng Nai đã xuất
hiện những dấu tích của một nhóm cư dân đặc biệt sinh sống bằng nghề
trao đổi buôn bán, đó là chủ nhân các di tích mộ chum ở Cần Giờ -
TP.HCM. Trong khoảng 2500-2000 năm cách ngày nay Cần Giờ đã từng
là một “cảng thị sơ khai” phát triển thương mại qua đường sông, đường
biển với nhiều nơi như với khu vực văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung, các
đảo ở Philippine, Indonesia, đặc biệt quan hệ kinh tế-kỹ thuật với Ấn Độ
bố qua hơn 20 bài thông báo ở Hội nghị Khảo cổ học các năm 1994, 1995,
trong Luận án PTS Khảo cổ học của Nguyễn Thị Hậu“Di tích mộ chum
miền Đông Nam bộ – những phát hiện mới tại Cần Giờ TP.HCM” (1997)
và công trình chuyên khảo “Khảo cổ học tiền sử và sơ sử TP.HCM”
(Đặng Văn Thắng và nnk, 1998).
Các địa điểm khảo cổ học ở Cần Giờ TP.HCM đã được phát hiện và
công bố từ những năm 1978. Từ năm 1986 một số đợt khảo sát tiến hành
tại đây sau đó, năm 1992 - 2000 có 4 cuộc khai quật. Cho đến nay trên địa
bàn huyện Cần Giờ mới có khoảng 16 di tích đã được khảo sát và 05 di
tích được khai quật, đào thám sát, đó là:
23
- Di tích Khu Bao Đồng (Lý Nhơn): di tích cư trú và làm gốm, cách
nay khoảng 3000 năm.
- Di tích Giồng Cá Vồ (Long Hòa): di tích cư trú và mộ táng, cách
nay khoảng 2500 năm.
- Di tích Giồng Phệt (Long Hòa): di tích cư trú và mộ táng, cách nay
khoảng 2100 năm.
- Di tích Giồng Cá Trăng (Long Hòa): di tích cư trú và làm gốm,
cách nay khoảng 2000 năm. Đồng thời là khu mộ táng vào thế kỷ 17 – 18.
- Di tích Giồng Am (Cần Thạnh): di tích sản xuất gốm, gạch thuộc
văn hóa Óc Eo, cách nay khoảng 1500 năm.
Những công trình nghiên cứu đã bước đầu cho thấy giá trị văn hóa
lịch sử của khu vực Cần Giờ trong hệ thống các di tích ở khu vực châu thổ
sông Đồng Nai và các di tích cận biển trong thời đại Kim khí Việt Nam,
đó là:
- Tại Cần Giờ đã phát hiện một loại hình di tích khảo cổ độc đáo là
“di tích mộ chum” (mộ táng chôn người trong các chum/lu gốm lớn trong
tư thế “ngồi bó gối”) niên đại vào hậu kỳ thời đại kim khí, 2.500 – 2.000
Chính vì vậy, có thể cho rằng Cần Giờ hai ngàn năm trước đây là
một “cảng thị sơ khai”, nơi tiếp thu và chuyển hoá nhiều yếu tố văn hoá –
kỹ thuật từ bên ngoài, đồng thời cũng là nơi tích tụ và phát tán những yếu
tố văn hoá bản địa.
Ở Việt Nam các di tích phần lớn do nhân dân phát hiện ngẫu nhiên,
sau đó các nhà khảo cổ học tiến hành khảo sát và khai quật. Từ năm 2001,
Luật Di sản Văn hóa ra đời, Luật này đã quy định rõ về việc bảo vệ các di
tích lịch sử – văn hóa trong trường hợp cải tạo, xây dựng các công trình
trên khu vực di tích hay trong địa bàn có khả năng tìm thấy di tích hoặc di
vật, cổ vật. Từ đó, đã có một số công trình xây dựng tuân thủ Luật Di sản
Văn hóa mà điển hình là việc điều tra khai quật các di tích khảo cổ học
trong khu vực xây dựng các nhà máy thủy điện ở Tây Nguyên, Sơn La
như di tích Lung Leng (huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum), khu vực xây dựng