Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường cho công ty cp xăng dầu tín nghĩa tại đồng nai đến năm 2020_luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh - Pdf 25

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do thực hiện đề tài
Việt Nam bước vào hội nhập kinh tế toàn cầu với các diễn biến phức tạp của thị trường,
các Doanh nghiệp Việt Nam có những cơ hội lớn từ quá trình hội nhập quốc tế, mặt khác
cũng đương đầu với không ít những khó khăn thách thức.
Là một công ty nhà nước vừa mới được cổ phần hóa từ năm 2009, công ty CP Xăng
dầu Tín Nghĩa cũng không đứng ngoài xu thế hội nhập và buộc phải chấp nhận sự cạnh tranh
gay gắt với các Doanh nghiệp khác trong khi kinh doanh xăng dầu là một ngành kinh doanh
có điều kiện và chịu sự kiểm soát của các Bộ ngành liên quan được qui định bởi Nghị định
84/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 và Nghị định 104/2011/NĐ-CP ngày 16/11/2011.
Trong những năm vừa qua, công ty đã đạt được những kết quả khả quan trong hoạt
động kinh doanh, thiết lập và mở rộng hệ thống phân phối ở một số địa phương trong tỉnh
với hai hệ thống phân phối chính là các trạm kinh doanh bán lẻ xăng dầu trực thuộc công ty
và các đại lý kinh doanh xăng dầu bên ngoài. Tuy nhiên, so với tiềm năng thực tế trên thị
trường thì mức độ tăng trưởng thị phần của công ty vẫn còn thấp và chưa thật sự đạt hiệu quả
như mong muốn. Mặt khác hiện nay công ty CP Xăng dầu Tín Nghĩa ngày càng phải cạnh
tranh với nhiều doanh nghiệp khác kinh doanh cùng ngành nghề với các chiêu thức mở rộng
thị trường vô cùng phong phú, đa dạng. Đứng trước tình hình đó, việc tăng cường mở rộng
thị trường tiêu thụ sản phẩm là một đòi hỏi cấp bách và được đặt ở vị trí quan trọng trong
chiến lược kinh doanh của công ty.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cho dù có gia nhập WTO hay không, các Doanh nghiệp
vẫn phải tham gia thị trường và theo luật chơi chung. Đối với các doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực phân phối hàng hóa cung cấp dịch vụ làm thế nào để giành được thị trường,
làm thế nào để chiến thắng các đối thủ, tìm diệt đối thủ hay cùng hợp tác, thực hiện các chiến
lược cạnh tranh theo kiểu “dẫn đầu thị trường”, “đa dạng hóa”, “hạ thấp chi phí” hay chiến
lược “đại dương xanh”.
Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp
nhằm mở rộng thị trường cho công ty CP Xăng Dầu Tín Nghĩa tại Đồng Nai đến năm
2020” để thực hiện luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ.
2. Mục tiêu đề tài:

pháp so sánh và phương pháp nghiên cứu tình huống…
4.2. Phương pháp sử dụng bảng câu hỏi:
Bảng câu hỏi được sử dụng để thu thập thông tin, số liệu về thực trạng tình hình kinh
doanh tại các công ty xăng dầu trong tỉnh qua việc lấy ý kiến từ người tiêu dùng, các doanh
nghiệp, công ty có nhu cầu sử dụng xăng dầu chất đốt trong hoạt động sản xuất kinh doanh,
cấp quản lý, các doanh nghiệp đầu mối cung cấp hàng cho các cty xăng dầu hiện nay.
Mẫu điều tra: Đối tượng được gửi mẫu điều tra là các trạm bán lẻ xăng dầu, các công
ty Xăng dầu tại tỉnh ĐN, khách hàng vãng lai và khách hàng Đại lý, khách hàng công
nghiệp. Số lượng này được xác định trên cơ sở tổng hợp danh sách thu thập từ Hiệp hội
Xăng Dầu Đồng Nai, Cục thuế, Cục Thống kê và Sở Công Thương.
Xử lý kết quả điều tra: bằng bảng câu hỏi được tác giả thực hiện bằng chương trình
EXCEL.
4.3. Phương pháp phỏng vấn:
Phương pháp phỏng vấn được sử dụng để thu thập thông tin về môi trường đầu tư, các
chính sách và biện pháp để đưa ra giải pháp mở rộng thị trường bán lẻ xăng dầu trong tỉnh
Đồng Nai.
3
- Đại diện các công ty Kinh doanh xăng dầu. Cách thức thu thập thông tin là đến tận
doanh nghiệp để phỏng vấn.
- Đại diện Hiệp hội xăng dầu Đồng Nai.
- Đại diện Sở Công Thương Đồng Nai.
5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu là cơ sở phục vụ cho việc triển khai các sản phẩm dịch vụ mới đáp
ứng nhu cầu khách hàng.
Đánh giá được toàn diện điểm mạnh, điểm yếu để từ đó đưa ra các giải pháp pháp triển
mạng lưới thị trường của công ty CP Xăng dầu Tín Nghĩa đến năm 2020.
Đánh giá nguy cơ và cơ hội của công ty CP Xăng dầu Tín Nghĩa trong những năm qua
từ đó đưa ra các kiến nghị giúp phát triển công ty.
6. Nội dung đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục bố cục đề tài bao

đổi và lưu thông hàng hóa cùng với các quan hệ kinh tế giữa người và người trong quá trình
trao đổi và lưu thông hàng hóa cùng với các quan hệ kinh tế trong quá trình trao đổi hàng
hóa dịch vụ.
Như vậy thị trường không nhất thiết phải là một địa điểm cụ thể mà có thể thông qua
nhiều phương tiện để thiết lập lên thị trường.
Xét theo mức độ khái quát thì thị trường còn được quan niệm là sự kết hợp giữa cung
và cầu trong đó người mua người bán bình đẳng cạnh tranh, số lượng người bán nhiều hay ít
phụ thuộc vào qui mô của thị trường lớn hay nhỏ. Sự cạnh tranh trên thị trường có thể xảy ra
giữa người bán, người mua hay giữa người bán hoặc người mua với nhau. Việc xác định giá
cả trên thị trường là do cung và cầu quyết định.
Khái niệm thị trường hoàn toàn không tách rời khái niệm phân công lao động xã hội,
Các Mac đã nhận định “hễ ở đâu và khi nào có sự phân công lao động xã hội và có sản xuất
hàng hóa thì ở đó và khi ấy sẽ có thị trường. Thị trường chẳng qua là sự biểu hiện của phân
công lao động xã hội và do đó có thể phát triển vô cùng tận”.
5
Theo quan điểm Marketing, được hiểu là bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn
cùng có nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵng sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa
mãn nhu cầu và mong muốn đó.
1.1.2 Chức năng và vai trò của thị trường
1.1.2.1 Thị trường bao gồm các chức năng cơ bản sau:
- Chức năng môi giới: thị trường là trung gian liên kết giữa người mua và người bán,
giữa người sản xuất và người tiêu dùng, liên kết người mua với nhau hoặc người bán với
nhau.
Các chủ thể của thị trường lấy cơ sở là lợi ích của bàn thân, thông qua sự tồn tại của thị
trường để tìm đến liên kết với nhau tạo nên chỉnh thể kinh tế- xã hội hữu cơ.
- Chức năng thừa nhận và thực hiện: một sản phẩm được đưa ra thị trường, được thị
trường thừa nhận tức là sản phẩm đó có thị trường, sản phẩm đó bắt buộc phải bán được trên
thị trường thì mới được xã hội thừa nhận.
Thị trường chỉ thừa nhận những hàng hóa, dịch vụ được người mua chấp nhận. Sau khi
được thị trường thừa nhận thì thị trường sẽ tiến hành chức năng thực hiện. Thị trường là nơi

Thị trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế của đất nước,
vai trò của thị trường thể hiện ở chỗ nó đã gắn chặt sản xuất với tiêu dung, thúc đẩy và điều
tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh của xã hội. Thị trường buộc các chủ thể kinh tế phải
hoạt động một cách thống nhất và tuân theo các qui luật của thị trường. Thị trường ngày
càng phát triển, cùng với nó là nhu cầu ngày càng cao của cuộc sống con người, điều đó thúc
đẩy con người luôn phát triển và đi lên để đáp ứng những nhu cầu đó của họ. Có thể nói rằng
thị trường là cơ sở cho cuộc sống ngày càng được đáp ứng cao hơn về nhu cầu của con
người.
Thị trường có vai trò quan trọng đối với sản xuất hàng hóa, kinh doanh và quản lí kinh
tế.
Bất kỳ quá trình sản xuất hàng hóa nào cũng đều qua khâu lưu thông và phải qua thị
trường. Như vậy thị trường là khâu tất yếu của sản xuất hàng hóa. Thị trường chỉ mất đi khi
sản xuất hàng hóa không còn.
Thị trường là chiếc cầu nối của sản xuất và tiêu dùng, là mục tiêu của quá trình sản
xuất hàng hóa. Thị trường là khâu quan trọng nhất của quá trình tái sản xuất hàng hóa, để sản
xuất hàng hóa, xã hội phải chi phí sản xuất, cho phí lưu thông. Thị trường là nơi kiểm
nghiệm các chi phí đó và thực hiện yêu cầu qui luật tiết kiệm lao động xã hội.
Trong quản lý kinh tế, thị trường có vai trò vô cùng quan trọng, thị trường là đối tượng,
là căn cứ của kế hoạch hóa. Thị trường là công cụ bổ sung cho các công cụ điều tiết vĩ mô
của nền kinh tế đất nước. Thị trường là môi trường kinh doanh, là nơi Nhà nước tác động
vào quá trình kinh doanh cơ sở.
Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp góp phần vào việc thõa mãn các nhu cầu
của thị trường, kích thích sự ra đời của các nhu cầu mới và nâng cao chất lượng nhu
cầu…Tuy nhiên trong cơ chế thị trường, thị trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thị trường vừa là động lực, vừa là điều
kiện, vừa là thước đo kết quả và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp.
- Là động lực: Thị trường đặt ra các nhu cầu tiêu dùng, buộc các doanh nghiệp nếu
muốn tồn tại phải luôn nắm bắt được nhu cầu đó và định hướng mục tiêu hoạt động cũng
phải xuất phát từ những nhu cầu đó. Ngày nay, mức sống của người dân tăng lên do đó khả
năng thanh toán của họ cũng cao hơn. Bên cạnh đó các cơ sở sản xuất kinh doanh thay nhau

cao hiệu quả sản suất kinh doanh, tăng lợi nhuận và khẳng định vị trí vai trò của doanh
nghiệp trên thị trường. Vì vậy, việc mở rộng thị trường là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục
của mỗi doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường.
Một sản phẩm dịch vụ xuất hiện trên thị trường và đã có khách hàng tiêu dùng sản
phẩm đó thì trên lý thuyết, sản phẩm đó chiếm lĩnh một phần thị trường tiêu thụ nhất định,
thị phần đó chính là thị trường hiện tại của doanh nghiệp, tuy nhiên cũng với sản phẩm dịch
vụ đó, cũng có thị phần của đối thủ cạnh tranh.
Nhiệm vụ quan trọng của doanh nghiệp chính là duy trì ổn định thị trường hiện có của
mình, không để cho đối thủ cạnh tranh có cơ hội xâm nhập, không để cho những người tiêu
8
dùng hiện có của mình chuyển sang phần thị trường tiêu thụ của đối thủ cạnh tranh. Còn vấn
đề mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp là quá trình mở rộng hay
tăng khối lượng khách hàng và lượng hàng hóa bán ra của doanh nghiệp bằng cách xâm nhập
vào thị trường tiêu thụ của đối thủ cạnh tranh, lôi kéo những người tiêu dùng hiện tại của đối
thủ cạnh tranh sang thị trường tiêu thụ của mình. Việc ổn định và mở rộng thị trường là một
trong những yêu cầu hàng đầu của quản lý doanh nghiệp, là mục tiêu mà bất kỳ doanh
nghiệp nào trong cơ chế thị trường cũng phải cố gắng thực hiện. Nếu không thực hiện tốt vấn
đề này, doanh nghiệp sẽ dần mất đi thị phần của chính mình và có thể sẽ không thể đứng
được trên thị trường. Để thực hiện được chiến lược này, doanh nghiệp cần có những phương
án kinh doanh hữu hiệu.Việc mở rộng thị trường được thực hiện theo hai cách, đó là mở rộng
thị trường theo chiều rộng và mở rộng thị trường theo chiều sâu.
- Mở rộng thị trường theo chiều rộng:
Đây là quan niệm mở rộng thị trường tiêu thụ với qui mô lớn hơn bằng chính những
sản phẩm hiện tại của doanh nghiệp. Theo quan niệm này, doanh nghiệp mở rộng thị trường
tiêu thụ theo mô hình thị trường mới, sản phẩm cũ, cụ thể:
Doanh nghiệp sẽ xâm nhập vào thị trường mới của đối thủ cạnh tranh, thu hút khách
hàng của đối thủ khác trở thành khách hàng của mình.
Doanh nghiệp sẽ xâm nhập vào thị trường mới ở các khu vực địa lý khác nhau.
- Mở rộng thị trường theo chiều sâu:
Theo quan điểm này, doanh nghiệp sẽ khai thác tốt hơn thị trường mới và thị trường

- Là mặt hàng hầu như phải nhập khẩu hoàn toàn nên giá cả phụ thuộc rất lớn vào giá
xăng dầu trên thế giới, trong những năm gần đây, giá xăng dầu trên thị trường thế giới luôn
biến động tăng và tăng ở mức độ cao. Giá cả thường xuyên biến động nguyên nhân là do
nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến chính sách giá dầu của OPEC, các quyết định cũng như
chính sách của OPEC nhằm đem lại lợi ích cho các quốc gia thành viên, song điều đó ảnh
hưởng rất lớn và biến động kinh tế toàn cầu thông qua sự điều chỉnh về giá cũng như lượng
cung dầu.
1.2.1 Đặc điểm thị trường tiêu thụ xăng dầu:
Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước, hoạt động phân phối xăng dầu cũng đã trải qua các giai
đoạn tương ứng, từ phương thức cung cấp theo định lượng, áp dụng một mức giá thống nhất
do Nhà nước quy định đến mua bán theo nhu cầu, thông qua hợp đồng kinh tế.
Để tiệm cận với những thay đổi đó, đặc biệt là giai đoạn bắt đầu tiếp cận thị trường,
Nhà nước đã nhiều lần điều chỉnh cơ chế quản lý vĩ mô về kinh doanh xăng dầu với những
chính sách phù hợp với đặc thù của mỗi giai đoạn (Bùi Ngọc Bảo, 2009).
Khái quát thị trường xăng dầu trong 20 năm qua, kể từ khi Việt Nam đặt viên gạch đầu
tiên xây dựng nền móng của thị trường xăng dầu năm 1989, quá trình chuyển đổi có thể phân
chia thành 3 giai đoạn: trước năm 2000, từ năm 2000 đến cuối năm 2008 và từ cuối năm
2008 trở lại đây.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá và nhìn nhận trên mọi góc cạnh của thị trường, chúng ta
cần khẳng định những bước tiến của quá trình đổi mới cơ chế kinh doanh xăng dầu, đối diện
với những mặt hạn chế và đặt ra các vấn đề cần tiếp tục đổi mới để phát triển thị trường xăng
dầu trong giai đoạn tiếp theo, thích ứng với những biến động ngày càng phức tạp của nguồn
năng lượng dầu mỏ
Xăng dầu là mặt hàng kinh doanh có điều kiện, có vị trí khá quan trọng cho việc phát
triển nền kinh tế quốc dân và tiêu dùng xã hội. Là một ngành kinh doanh có điều kiện và
chịu sự kiểm soát của các Bộ ngành liên quan được qui định bởi Nghị định 84/2009/NĐ-CP
10
ngày 15/10/2009 và Nghị định 104/2011/NĐ-CP ngày 16/11/2011 để quản lý kinh doanh
xăng dầu. Bằng các nghị định, quyết định trên chính phủ chủ trương xây dựng các hệ thống

Có hệ thống phân phối xăng dầu, bao gồm tối thiểu 5 (năm) cửa hàng, trạm bán lẻ
thuộc sở hữu hoặc đồng sở hữu theo hợp đồng liên doanh, liên kết, góp vốn và tối thiểu 20
(hai mươi) đại lý bán lẻ xăng dầu. Hệ thống phân phối này phải nằm trong hệ thống phân
phối của doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu hoặc doanh nghiệp sản
xuất, chế biến xăng dầu và chịu sự kiểm soát của doanh nghiệp đó.
11
Có phương tiện vận tải xăng dầu chuyên dụng thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở
hữu theo qui định hợp đồng liên doanh, liên kết, góp vốn hoặc thuê sử dụng dài hạn từ 5
(năm) năm trở lên.
Cán bộ nhân viên trực tiếp kinh doanh phải được học về nghiệp vụ bảo quản, đo lường,
chất lượng xăng dầu, kỹ thuật an toàn phòng cháy chữa cháy và bảo vệ môi trường, thời gian
học tối thiểu 3 (ba) tháng.
Đại lý bán lẻ là đơn vị bán xăng dầu cho người tiêu dùng trực tiếp. Chỉ được làm đại lý
bán lẻ xăng dầu cho một doanh nghiệp, được hưởng thù lao đại lý theo quy định. Biển hiệu
phải ghi dây đủ các nội dung theo qui định của pháp luật và tên, biểu tượng (logo) của doanh
nghiệp kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu hoặc doanh nghiệp sản xuất, chế biến
xăng dầu theo hướng dẫn của doanh nghiệp đó.
Chỉ được mua bán xăng dầu với các thương nhân trong hệ thống (trừ việc bán cho
người tiêu dùng) và chịu trách nhiệm về số lượng và chất lượng xăng dầu bán ra.
1.2.3 Về nguyên tắc quản lý giá cả xăng dầu:
Giá bán được thực hiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
Doanh nghiệp đầu mối có quyền quyết định giá bán buôn và đề xuất giá bán lẻ với Nhà
nước, việc điều chỉnh giá bán lẻ được thực hiện theo nguyên tắc, trình tự qui định của nghị
định qui định về kinh doanh xăng dầu của Chính phủ.
Thời gian điều chỉnh giá bán lẻ liên tiếp tối thiểu là 10 (mười) ngày dương lịch đối với
trường hợp tăng giá và tối đa là 10 (mười) ngày đối với trường hợp giảm giá. Doanh nghiệp
đầu mối phải gửi quyết định giá và phương án giá của mình đến các cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền.
Căn cứ tình hình kinh tế xã hội, giá xăng dầu thế giới trong từng thời kỳ và những
phương án giá do doanh nghiệp đầu mối trình lên Chính phủ, Chính phủ sẽ quyết định điều

công bố dự báo mới nhất về nhu cầu dầu mỏ toàn cầu năm 2012, giá dầu thô Brent trên thị
trường đã giảm 1,1% xuống mức 117,31 USD/thùng, trong khi giá dầu thô ngọt nhẹ giao
tháng 3/2012 giảm 1,2% xuống mức 98,67 USD/thùng trên thị trường New York, Mỹ.
Châu Á vẫn là khu vực dẫn đầu thế giới về tăng nhu cầu dầu mỏ năm 2012. Dự báo
mới nhất của IEA giảm nhu cầu dầu mỏ của Trung Quốc nhưng đã tăng nhu cầu dầu mỏ của
Nhật Bản trong năm 2012 do Nhật Bản phải sử dụng dầu lửa để thay thế nguồn năng lượng
hạt nhân bị thiếu hụt sau thảm họa động đất và sóng thần năm 2011. Tháng 12/2011, nhu cầu
dầu lửa của Nhật Bản đã tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2010 (TTXVN, 2012).
1.2.5.2 Môi trường kinh doanh xăng dầu của nước ta hiện nay
Tổng quan về thị trường xăng dầu của Việt Nam có thể được chia làm 3 giai đoạn (Bùi
Ngọc Bảo, 2009)

Giai đoạn 1: trước năm 2000.
Giai đoạn này kéo dài trên 10 năm, từ 1 đầu mối nhập khẩu duy nhất tăng 10 đầu mối
tính đến năm 1999.
Từ năm 1993 để thống nhất giá bán, Nhà nước ban hành quy định một mức giá, doanh
nghiệp tự quyết định giá bán lẻ và giá bán buôn trong phạm vi giá do Nhà nước đưa ra. Thuế
nhập khẩu dùng để giữ mặt bằng giá, phụ thu là một công cụ bổ sung cho thuế nhập khẩu khi
mức thuế nhập khẩu đã được điều chỉnh tăng hết khung, được đưa vào Quỹ Bình ổn giá do
Nhà nước quản lý. Từ năm 1994 phát sinh phí xăng dầu, là khoản thu cố định nộp vào ngân
sách Nhà nước.
Đặc điểm lớn nhất của giai đoạn này là: nhờ quy định của Nhà nước về giá chuẩn,
doanh nghiệp đầu mối được điều chỉnh giá bán xăng dầu nhập khẩu thuộc nguồn ngoại tệ tự
huy động từ các doanh nghiệp xuất khẩu, đảm bảo quyền lợi cho họ thông qua tỷ giá phù
13
hợp nên đã huy động được số ngoại tệ nhập khẩu gần 60% nhu cầu xăng dầu cho nền kinh tế
sau khi không còn nguồn xăng dầu theo Hiệp định.
Chính chủ trương không áp dụng cơ chế bù giá cho các đối tượng sử dụng xăng dầu
thông qua doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu là điều kiện quyết định để Việt Nam có thể tự
cân đối được ngoại tệ nhập khẩu xăng dầu ngay cả khi nguồn ngoại tệ tập trung của Nhà

Cho đến thời điểm này, sự đổi mới cơ chế quản lý, chủ yếu là quản lý giá theo Quyết
định 187 vẫn được coi là mạnh mẽ nhất với các tư tưởng cơ bản bao gồm:
14
- Nhà nước xác định giá định hướng; doanh nghiệp đầu mối được điều chỉnh tăng giá
bán trong phạm vi + 10% (đối với xăng) và + 5% (đối với các mặt hàng dầu).
- Hình thành 2 vùng giá bán; giá bán tại vùng xa cảng nhập khẩu, doanh nghiệp được
phép cộng tới vào giá bán một phần chi phí vận tải nhưng tối đa không vượt quá 2% so với
giá bán ở vùng gần cảng nhập khẩu.
- Chỉ thay đổi giá định hướng khi các yếu tố cấu thành giá thay đổi lớn, Nhà nước
không còn công cụ điều tiết, bảo đảm các lợi ích của người tiêu dùng - Nhà nước và doanh
nghiệp.
Tuy nhiên, vì những lý do khách quan, sự đột phá cơ chế điều hành giá trong QĐ 187
chưa được triển khai trên thực tế; cho đến hiện nay, Nhà nước tiếp tục điều hành và can thiệp
trực tiếp vào giá bán xăng dầu, kể cả chiều tăng và giảm.
Trong giai đoạn này, mặc dù chưa vận hành điều khoản về giá xong sự ra đời của QĐ
187 năm 2003 và NĐ 55 năm 2007 đã tạo ra một hệ thống phân phối rộng khắp với gần
10.000 cửa hàng xăng dầu trên cả nước, góp phần ổn định, lành mạnh hóa thị trường trước
đây khá lộn xộn khi thiết lập quan hệ giữa người nhập khẩu và các đại lý, tổng đại lý khi gắn
trách nhiệm, quyền lợi của doanh nghiệp đầu mối với các đại lý, tổng đại lý cũng như giúp
cơ quan quản lý chức năng, người tiêu dùng cùng tham gia vào quá trình giám sát hoạt động
của các đại lý, tổng đại lý trong việc chấp hành quy định kinh doanh xăng dầu.
Đánh giá chung cho giai đoạn này, có thể thấy quyết tâm rất cao để đổi mới cơ chế
quản lý kinh doanh xăng dầu thể hiện qua 2 văn bản pháp quy là QĐ 187 và NĐ 55 song cho
đến hiện nay, văn bản đã không đi vào thực tế kinh doanh (trừ hệ thống phân phối được thiết
lập nhưng việc kiểm soát tính tuân thủ hầu như chưa thực hiện được). Yếu tố ổn định giá vẫn
được đặt lên hàng đầu và chính nó đã làm cho các cơ quan quản lý Nhà nước lúng lúng khi
phải điều hành đạt các mục tiêu dường như mâu thuẫn nhau ở cùng một thời điểm.
Việc áp dụng một biện pháp duy nhất (biện pháp bù giá), làm cho giá nội địa thoát ly
giá thế giới trong một chu kỳ quá dài với bối cảnh giá xăng dầu thế giới đã nhiều lần hình
thành mặt bằng giá mới cao hơn; ngoài yếu tố cung cầu thì yếu tố địa chính trị cũng ảnh

không bình đẳng trong cạnh tranh; các văn bản mới tiếp tục ra đời song cũng không đi vào
thực tế (barem thuế nhập khẩu, quỹ bình ổn giá); cơ chế đăng ký giá kéo dài mang nặng tính
xin cho (phê duyệt), các cơ quan truyền thông khai thác và đưa ra thông tin về tăng giảm giá
rất sớm, không những không có tính định hướng dư luận mà tạo ra áp lực nặng nề cho cả
doanh nghiệp và cơ quan quản lý, nguồn lực từ doanh nghiệp đầu mối chuyển qua đại lý rất
khó kiểm soát sự minh bạch và đúng đắn của các nhu cầu ở trước thời điểm tăng giá.
1.2.5.3 Triển vọng phát triển Việt Nam
Theo thống kê từ Bộ Công Thương, sản lượng tiêu thụ xăng dầu trong nước năm 2009
đạt khoảng 15 triệu tấn, tăng 4% so với năm 2008, mức tiêu thụ xăng dầu năm 2010 là 16.3
triệu tấn, trong đó có khoảng 11.6 triệu tấn xăng dầu là từ nhập khẩu. Mức tăng trưởng trung
bình của sản lượng xăng dầu tiêu thụ ở Việt Nam từ 2000 tới nay vào khoảng 6 – 8% và
được dự báo sẽ tăng trưởng khoảng 8% cho tới năm 2020. Đối với lĩnh vực dầu, Bộ Công
Thương đưa ra chính sách năng lượng quốc gia đến năm 2010, tầm nhìn đến 2050 đã tính
toán theo như cầu dầu 2010 vào khoảng 16.7 – 17.2 triệu tấn/năm, năm 2020 vào khoảng 29
– 31.2 triệu tấn/năm, đến năm 2050 con số này sẽ lên tới 90 – 98 triệu tấn/năm.
Trước năm 2009, toàn bộ xăng dầu tiêu thụ của Việt Nam đều phải nhập khẩu. Tuy
nhiên, hiện nay nhà máy lọc dầu Dung Quất đã đáp ứng được khoảng 30% - 35% nhu cầu
tiêu thụ xăng dầu nội địa với công suất thiết kế của nhà máy đạt 6.5 triệu tấn/năm, kế hoạch
sẽ nâng lên 10 triệu tấn/năm.
Như vậy, tiềm năng phát triển ngành xăng dầu rất lớn, đây là cơ hội cho các doanh
16
nghiệp kinh doanh xăng dầu, trong đó có Công ty Xăng dầu Tín Nghĩa gia tăng thị phần, mở
rộng địa bàn hoạt động đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước.
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh xăng dầu
Các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh xăng dầu được phân tích cụ thể ở
chương 2 sẽ dựa trên căn cứ cơ sở lý luận chung về các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường
kinh doanh được trình bày như sau:
1.3.1 Các yếu tố môi trường bên ngoài
⃰ Các yếu tố môi trường vĩ mô gồm các yếu tố về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội,
dân số và công nghệ ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, khả

kế hoạch đầu tư vì trong môi trường lạm phát khó có thể dự đoán chính xác giá trị thực của
một dự án, từ đó các doanh nghiệp không dám mạnh dạn đầu tư sản xuất kinh doanh, người
tiêu dùng cũng hạn chế chi tiêu, từ đó nền kinh tế sẽ bị trì trệ.
Các yếu tố về văn hóa xã hội, tự nhiên, dân số:
- Các biến đổi về văn hóa xã hội có thể gây ra khó khăn hay tạo ra thuận lợi cho doanh
nghiệp, các yếu tố này diễn ra chậm chạp và khó nhận biết chẳng hạn như chất lượng cuộc
sống của người dân, chuẩn mực đạo đức, phong cách sống, tính đa dạng của lực lượng lao
động, trình độ văn hóa, nghề nghiệp của người lao động, truyền thống văn hóa xã hội.
- Tài liệu của Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn Thị Mai Trang (2007, tr. 51) nêu rõ “các yếu
tố tự nhiên ảnh hưởng rất nhiều đến quản trị chiến lược, các hoạt động sản xuất, khai thác tài
nguyên của con người đã làm thay đổi nhiều hoàn cảnh tự nhiên, nó làm cho điều kiện tự
nhiên ngày càng tốt hơn nhưng làm môi trường ngày càng xấu đi rất nhiều, đặc biệt ngành
kinh doanh xăng dầu thì lại phải chú trọng đến vấn đề môi trường tự nhiên. Do đó đòi hỏi
doanh nghiệp không thể làm ảnh hưởng, ô nhiễm môi trường, không làm mất cân bằng sinh
thái, không lãng phí tài nguyên thiên nhiên”.
- Các yếu tố về dân số mà các nhà quản trị quan tâm khi nghiên cứu vấn đề xã hội như:
quy mô dân số và tỉ lệ tăng dân số hàng năm, cơ cấu dân số theo giới tính, độ tuổi, quy mô
gia đình, thu nhập bình quân người hay hộ gia đình, vấn đề trình độ dân trí. Điều này làm
ảnh hưởng đến lực lượng lao động, tăng thị trường và nhiều kênh tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ,
tác động đến chiến lược của doanh nghiệp.
Yếu tố công nghệ: Ít có ngành công nghiệp và doanh nghiệp nào lại không phụ thuộc
vào cơ sở công nghệ ngày càng hiện đại. Sẽ còn nhiều công nghệ tiên tiến tiếp tục ra đời, tạo
ra các cơ hội cũng như nguy cơ đối với tất cả các ngành công nghiệp và doanh nghiệp nhất
định. Các nhà nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ hàng đầu nói chung đang lao
vào công việc tìm tòi các giải pháp kỹ thuật mới nhằm giải quyết các vấn đề tồn tại và xác
định các công nghệ hiện đại có thể khai thác trên thị trường (Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm
Văn Nam , 2008).
⃰ Các yếu tố môi trường vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành và là các yếu tố
ngoại cảnh đối với doanh nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành sản
xuất kinh doanh đó. Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam (2008) cho rằng có 5 yếu tố cơ

Nguồn: Wheelen, T. L., và Hunger, J. D (2008, tr.11)

Hình 1.1: Mô hình áp lực cạnh tranh của các yếu tố vi mô.
Đối thủ cạnh tranh: là những doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng cùng loại với
công ty, đối thủ cạnh tranh sẽ sẻ thị phần với công ty, đồng thời sẽ vượt qua chúng ta nếu
doanh nghiệp đó có lợi thế cạnh tranh cao hơn, tính chất cạnh tranh trong ngành tăng hay
giảm phụ thuộc vào thị trường, tốc độ tăng trưởng và mức độ đầu tư của đối thủ cạnh tranh.
Khách hàng là một phần của công ty, sự trung thành của khách hàng là một lợi thế lớn
của công ty, sự trung thành của khách hàng được tạo dựng bởi sự thõa mãn nhu cầu của
khách hàng và mong muốn sự phục vụ ngày càng tốt hơn. Áp lực từ khách hàng chủ yếu có
hai dạng là đòi hỏi giảm giá hoặc mặc cả để có chất lượng phục vụ tốt hơn. Chính điều này
làm cho các đối thủ cạnh tranh chống lại nhau, tất cả những điều đó làm tổn hao mức lợi
nhuận của ngành (Nguyễn Hữu Lam, Đinh Thái Hoàng, Phạm Xuân Lan, 2007). Áp lực từ
phía khách hàng xuất phát từ các điều kiện sau: Khi số lượng khách hàng là nhỏ, khi khách
hàng có một sản lượng lớn và tập trung, khi khách hàng chiếm một tỷ trọng lớn trong sản
lượng của nhà cung cấp, các sản phẩm không có tính khác biệt và là các sản phẩm cơ bản,
CÁC ĐỐI THỦ
TIỀM ẨN
CÁC ĐỐI THỦ
CẠNH TRANH
TRONG NGÀNH Sự cạnh tranh giữa
các dnghiệp hiện
hữu Rivalry among
existing firms

xuất” có nêu rõ bởi Nguyễn Hữu Lam, Đinh Thái Hoàng, Phạm Xuân Lan (2007, tr.70-72).
Đối thủ tiềm ẩn: là những đối thủ cạnh tranh có thể tham gia thị trường trong tương lai
và hình thành những đối thủ cạnh tranh mới, từ đó thị phần sẽ càng bị chia nhỏ hơn, lợi
nhuận của doanh nghiệp giảm xuống, sự xuất hiện của đối thủ cạnh tranh mới sẽ ảnh hưởng
đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy phải luôn đề phòng và nghiên cứu phân
tích các đối thủ tiềm ẩn để đánh giá những nguy cơ mà họ tạo ra cho doanh nghiệp.
Sản phẩm thay thế: là những sản phẩm khác về tên gọi, thành phần nhưng cùng mục
đích sử dụng như sản phẩm hiện có của doanh nghiệp. Sự xuất hiện của những sản phẩm
thay thế này có thể dẫn đến nguy cơ làm giảm giá bán và sụt giảm lợi nhuận của doanh
nghiệp. Các sản phẩm thay thế hạn chế mức lợi nhuận tiềm năng của một ngành bằng cách
đặt một ngưỡng tối đa cho mức giá mà các công ty trong ngành có thể kinh doanh có lãi. Do
các loại hàng có tính thay thế cho nhau nên sẽ dẫn đến sự cạnh tranh trên thị trường. Khi giá
sản phẩm chính tăng thì sẽ khuyến khích xu hướng sử dụng sản phẩm thay thế và ngược lại.
Xác định sản phẩm thay thế chính là việc tìm kiếm các sản phẩm có cùng công năng như sản
phẩm của ngành nêu rõ bởi Nguyễn Hữu Lam, Đinh Thái Hoàng, Phạm Xuân Lan (2007).
Do đó doanh nghiệp phải dự báo và phân tích khuynh hướng phát triển các sản phẩm thay
thế, nhận diện hết nguy cơ mà sản phẩm thay thế tạo ra cho doanh nghiệp.
1.3.2 Sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường bên trong của tổ chức
Tất cả các tổ chức đều có điểm mạnh và yếu trong các lĩnh vực kinh doanh. Những
điểm mạnh và yếu bên trong cùng với những cơ hội và nguy cơ bên ngoài là những điểm cơ
bản cần quan tâm khi thiết lập các mục tiêu và chiến lược. Các mục tiêu và chiến lược được
xây dựng nhằm lợi dụng những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu bên trong- những
yếu tố mà nhà quản trị có thể kiểm soát được.
Trong một doanh nghiệp bao gồm các yếu tố và hệ thống bên trong của nó, phải cố
gắng phân tích một cách kỹ lưỡng các yếu tố nội bộ đó nhằm xác định rõ các ưu điểm và
nhược điểm của mình. Trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp giảm bớt nhược điểm và phát huy
ưu điểm để đạt được lợi thế tối đa (Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam, 2008).
Việc phân tích môi trường nội bộ của doanh nghiệp, các mặt mạnh của doanh nghiệp
có thể là các kỹ năng, nguồn lực và những lợi thế mà doanh nghiệp có được hơn hẳn các đối
20

tiêu thức cơ bản của hệ thống tài chính: luân chuyển, đòn bẩy, hoạt động, năng lực lợi nhuận
và tăng trưởng (Nguyễn Hữu Lam, Đinh Thái Hoàng, Phạm Xuân Lan, 2007).
- Các chỉ số luân chuyển đưa ra những đo lường về năng lực của công ty trong việc
đáp ứng với những nghĩa vụ tài chính ngắn hạn của nó
- Các chỉ số đòn bẩy đưa ra biểu thị về rủi ro tài chính của công ty cho thấy phạm vi
được tài trợ bằng các khoản nợ của công ty.
- Chỉ số hoạt động phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn lực của công ty.
21
- Chỉ số năng lực lợi nhuận đưa ra những thông tin biểu thị hiệu quả chung về quản lý,
cho thấy lợi nhuận do doanh thu tiêu thụ và do đầu tư.
- Các chỉ số tăng trưởng cho thấy khả năng duy trì vị trí kinh tế của công ty trong mức
tăng trưởng của nền kinh tế và của ngành.
Nghiên cứu và phát triển:
Để nghiên cứu môi trường bên trong của một doanh nghiệp thì yếu tố chính thứ 5 cần
phải xem xét là hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D). Để đánh giá mặt mạnh, mặt yếu
của hoạt động này người ta thường dựa vào chi phí dành cho chúng. Có 4 phương pháp
thường được sử dụng để xác định chi phí nghiên cứu và phát triển:
- Đầu tư cho càng nhiều dự án càng tốt.
- Sử dụng phương pháp tính theo phần trăm doanh số bán hàng.
- So sánh với chi phí nghiên cứu và phát triển của đối thủ cạnh tranh.
- Xác định xem sản phẩm mới thành công như thế nào và sau đó tính ngược trở lại để
xác định nhu cầu đầu tư cho nghiên cứu và phát triển.
Trong các doanh nghiệp hoạt động nghiên cứu và phát triển có thể thực hiện dưới các
hình thức:
Nghiên cứu và phát triển bên trong – Doanh nghiệp tự thực hiện hoạt động nghiên cứu
và phát triển.
Nghiên cứu và phát triển theo hợp đồng – Doanh nghiệp thuê các nhà nghiên cứu hoặc
các tổ chức độc lập đề nghiên cứu phát triển những sản phẩm riêng biệt.
Marketing
Marketing có thể được mô tả như một quá trình xác định, dự báo, thiết lập và thỏa mãn

(Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam , 2008)
+ Bước 1: Lập danh mục các yếu tố có vai trò quyết định đối với sự thành công như đã
nhận diện trong quá trình đánh giá môi trường vĩ mô. Danh mục bao gồm những cơ hội, đe
dọa ảnh hưởng tới lĩnh vực kinh doanh xăng dầu.
+ Bước 2: Phân loại tầm quan trọng từ 0.0 (không quan trọng) đến 1.0 (rất quan trọng)
cho mỗi yếu tố. Sự phân loại cho thấy tầm quan trọng tương ứng của yếu tố đó đối với sự
thành công trong ngành kinh doanh của doanh nghiêp. Mức phân loại thích hợp có thể được
xác định bằng cách so sánh những doanh nghiệp thành công với những doanh nghiệp không
thành công trong ngành hoặc thảo luận và đạt được sự nhất trí của nhóm xây dựng chiến
lược. Tổng số các mức phân loại phải bằng 1.0.
+ Bước 3: Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố quyết định sự thành công để cho thấy
cách thức mà các chiến lược hiện tại của doanh nghiệp phản ứng với yếu tố này. Trong đó 4
là phản ứng tốt, 3 là phản ứng trên trung bình, 2 là trung bình và 1 là yếu. Các mức này dựa
trên hiệu quả chiến lược của doanh nghiệp.
+ Bước 4: Nhân tầm quan trọng của mỗi biến số với phân loại của nó (bằng bước 2
nhân với bước 3) để xác định số điểm về tầm quan trọng.
+ Bước 5: Cộng tổng số điểm về tầm quan trọng cho mỗi biến số để xác định tổng số
điểm quan trọng cho tổ chức.
Bất kể số lượng cơ hội và đe dọa trong ma trận, tổng số điểm quan trọng cao nhất mà
một doanh nghiệp có thể có là 4,0, thấp nhất là 1,0 và trung bình là 2,5.
Tổng số điểm quan trọng là 4,0 cho thấy chiến lược của doanh nghiệp tận dụng tốt cơ
hội bên ngoài và tối thiểu hóa ảnh hưởng tiêu cực của môi trường bên ngoài đến doanh
nghiệp.
23
Bảng 1.1: Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài.
Các yếu tố quan trọng bên ngoài
Mức độ quan trọng
Phân loại
Số điểm quan trọng
Liệt kê các cơ hội nguy cơ chủ yếu

1.4.3 Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (IFE- Interal Factor Evaluation
Matrix)
Đây là ma trận đánh giá các yếu tố nội bộ nhằm tóm tắt và đánh giá những mặt mạnh
và mặt yếu quan trọng của các bộ phận kinh doanh chức năng, ma trận IFE được phát triển
theo 5 bước (Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam, 2008):
+ Bước 1: Lập danh mục các yếu tố thành công then chốt như đã xác định trong quá
trình đánh giá nội bộ.
+ Bước 2: Phân loại tầm quan trọng từ 0,0 (không quan trọng) đến 1,0 (rất quan trọng)
cho mỗi yếu tố. Sự phân loại này cho thấy tầm quan trọng tương đối của mỗi yếu tố đó đối
với sự thành công của doanh nghiệp trong ngành. Tổng số mức độ quan trọng này phải bằng
1,0.
24
+ Bước 3: Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố, trong đó: 1 đại diện cho điểm yếu lớn
nhất, 2 là điểm yếu nhỏ nhất, 3 là điểm mạnh nhỏ nhất, 4 là số điểm mạnh lớn nhất. Như vậy,
sự phân loại dựa trên cơ sở doanh nghiệp.
+ Bước 4: Nhân mức độ quan trọng của mỗi yếu tố với phân loại của nó (bằng bước 2
nhân với bước 3) đề xác định số điểm về tầm quan trọng.
+ Bước 5: Cộng tổng số điểm về tầm quan trọng cho mỗi yếu tố để xác định tổng số
điểm về tầm quan trọng (Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam, 2008)

Bất kể ma trận IFE có bao nhiêu yếu tố, tổng số điểm quan trọng cao nhất mà một
doanh nghiệp có thể có là 4,0 và thấp nhất là 1,0 và trung bình là 2,5 cho thấy Công ty hoạt
động yếu.
Bảng 1.2: Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong.
Các yếu tố quan trọng bên trong
Mức độ quan trọng
Phân loại
Số điểm quan trọng
Liệt kê các điểm mạnh, điểm yếu
trong nội bộ của doanh nghiệp kinh

, T
2
,…).
- Liệt kê các điểm mạnh chủ yếu của doanh nghiệp (S
1
, S
2
,…).
- Liệt kê những điểm yếu chủ yếu của doanh nghiệp (W
1
, W
2
,…).
- Kết hợp những điểm mạnh bên trong với các cơ hội bên ngoài, hình thành các chiến
lược SO.
- Kết hợp những điểm yếu bên trong với các cơ hội bên ngoài, hình thành các chiến
lược WO.
25
- Kết hợp những điểm mạnh bên trong với các mối đe dọa bên ngoài, hình thành các
chiến lược ST.
- Kết hợp những điểm yếu bên trong với các mối đe dọa bên ngoài, hình thành các
chiến lược WT.
Bảng 1.3: Ma trận SWOT.

Những cơ hội chủ yếu
(O)
1.
2.

Những nguy cơ chủ

trong và các yếu tố bên ngoài, trên cơ sở đó xây dựng các ma trận liên quan, ma trận hình
ảnh cạnh tranh, ma trận SWOT…để hỗ trợ trong việc xây dựng và lựa chọn các giải pháp mở
rộng thị trường cho công ty xăng dầu Tín Nghĩa.
Căn cứ vào cơ sở lý luận ở trên, tác giả phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh của
công ty ở chương 2.

Trích đoạn Nhóm các giải pháp nhằm phát huy những điểm mạnh để khai thác các cơ hội (kết hợp SO): Nhóm giải pháp phát huy những điểm mạnh để ứng phó với những nguy cơ (kết hợp ST): Các giải pháp nhằm khắc phục các điểm yếu để khai thác các cơ hội (kết hợp WO): Các giải pháp nhằm ứng phó với những nguy cơ trong điều kiện công ty có những điểm yếu (kết hợp WT): Phát triển nguồn nhân lực
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status