nghiên cứu tổng hợp một số hợp chất dẫn dụ chế tạo mồi nhử và bẫy diệt côn trùng hại rau báo cáo tổng kết - Pdf 25


SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHỊÊN CỨU KHCN CẤP SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TP HỒ CHÍ MINH 2006-2008
Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP MỘT SỐ HỢP CHẤT
DẪN DỤ, CHẾ TẠO MỒI NHỬ VÀ BẪY DIỆT
CÔN TRÙNG HẠI RAU
Chủ nhiệm đề tài:
TS. NGUYỄN CỬU THỊ HƯƠNG GIANG

chuyên
môn
Đơn vị
công tác
1
Lưu Tham Mưu TS Côn trùng
học
Viện KH và CN Việt
nam
2
Đặng Chí Hiền

ThS
Phân viện
Phó
Hóa Hữu cơ Phân viện HCTN
3
Trần Đức Khang CN Hóa Sinh Phân viện HCTN
4
Nguyễn Thành
Danh
ThS Hóa học hữu



ThS Tin Sinh học ĐH KHTN

9
Vũ Thông KS Nông học HTX rau an toàn TPT
Huyện Củ Chi.

BẢNG TÓM TẮT CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

TT Tên sản phẩm

Yêu cầu khoa học, kinh tế Tự đánh giá
1 Báo cáo tổng kết Có đủ 10 bản báo cáo tổng
kết kèm theo đĩa CD

Hoàn thành
2 Hoạt chất dẫn dụ sâu tơ: (Z)-
11-HDAc, HDAL và HDOL
Có đủ số lượng 10g và đạt
chất lượng về độ sạch >95%

Hoàn thành
3 Hoạt chất dẫn dụ ruồi đục trái
dưa, bầu bí: acetoxyphenyl-
butanon
Có đủ số lượng 10g và đạt
chất lượng về độ sạch >95%
Hoàn thành

9 Báo cáo tình hình sâu hại rau
trên đồng ruộng và trong nhà
lưới
Có số liệu theo dõi liên tục 2
vụ rau trong 2 năm 2007-
2008
Hoàn thành
10 Tài liệu hướng dẫn, qui trình
chế tạo và sử dụng bẫy
pheromon
Có tài liệu hướng dẫn qui
trình chế tạo và sử dụng bẫy
pheromon
Hoàn thành
11 Sử dụng kết hợp bẫy dính
màu vàng kết hợp pheromon
Nâng cao hiệu quả sử dụng
và tăng khả năng bẫy diệt côn
trùng gây hại. TN 50 bẫy.
Nội dung mới
12 Bài bào khoa học công bố
trên Tạp chí và hội nghị
chuyên ngành 1-2 bài.
Đã công bố trên tạp chí khoa
học và hội nghi chuyên ngành
04 bài
Vượt kế hoạch

2.2.2.2. Điều tra ruồi đục trái 14
2.2.2.5. Điều tra ruồi đục lá 15
2.2.3. Kết qủa và thảo luận 15
2.2.3.1. Kết quả điều tra sâu xanh da láng 16
2.2.3.2. Kết quả điều tra ruồ
i đục trái 16
2.2.2.5. Kết quả điều tra ruồi đục lá 17
2.3. Nghiên cứu tổng hợp (Z) -11-Hexadecenal, (Z) -11-Hexadecenol
và (Z) -11-Hexadecenyl acetat, pheromon của Sâu tơ (Plutella xylostella) 18
2.3.1. Mở đầu 18
2.3.2. Nguyên liệu và phương pháp 18
2.3.3. Kết quả và thảo luận 18
2.3.4. Phần thực nghiệm 21
2.4. Tổng hợp 4(p-acetoxiphenyl)-2-butanon, chất dẫn dụ ruồi hại dưa leo,
bầu bí (Bactrocera cucurbitae) 24
2.3.1. Mở
đầu 24
2.3.2. Nguyên liệu và phương pháp 24
2.3.3. Kết quả và thảo luận 24
2.3.4. Phần thực nghiệm 25
PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRONG NĂM 2008 27
3.1.Tổng hợp và tách chiết allylisothiocyanat 28
3.1.1. Mở đầu 28
3.1.2. Nguyên liệu và phương pháp 28
3.1.3. Kết quả và thảo luận 28
3.1.4. Phần thực nghiệm 29
3.1.5. Kết luận 31


Các hình ảnh trong báo cáo Trang

Hình 1: Sâu tơ và kén sâu tơ 5
Hình 2: Sâu non và thành trùng Sâu khoang 6
Hình 3: Thành trùng và rệp non của hai loài rệp xám và rệp đào 7
Hình 4: Bọ nhảy hại rau 7
Hình 5: Ruồi đục lá và rau bị ruồi đục 8
Hình 6: Bẫy bướm Sâu tơ băng mồi nhử pheromon 9
Hình 7: Bẫy bướm Sâu khoang băng mồi nhử pheromon 10
Hình 8: Bẫy bắt rệp muội băng bẫy dính 10
Hình 9: Bẫy bắt Bọ nhảy và ruồi đục lá bằng bẫy dính màu vàng 11
Hình 10: Bẫy sâu bọ hạ
i rau ăn lá trong nhà lưới 12
Hình 11: Bướm và sâu xanh da láng 14
Hình 12: Ruồi đục trái hại rau ăn quả 14
Hình 13: Ruồi đục lá rau ăn trái 15
Hình 14: Bẫy sâu xanh da láng băng mồi nhử pheromon 16
Hình 15: Bẫy bắt ruồi đục trái bằng bẫy dính nhiều màu và pheromon 17
Hình 16: Hệ chưng cất cổ điển 30
Hình 17: Hệ thống chưng cất có sự hỗ trợ lò vi sóng 31 1
PHẦN 1: TỔNG QUAN

1.1. NGHIÊN CỨU VỀ PHEROMON TRÊN THẾ GIỚI
Nghiên cứu về pheromon của côn trùng đã được tiến hành từ những năm cuối của
thế kỷ 20 bởi rất nhiều nhà côn trùng học. Người ta phát hiện ra các biểu hiện khác
nhau của côn trùng trước các mùi tiết ra từ đồng loại. Người ta đã định nghĩa
Pheromon như là các hợp chất được tiết ra bên ngoài từ một cá thể và được tiếp nhận ở

một cá thể thứ hai cùng loài làm thay đổi tập tính hay sinh lý nhất định. Pheromon
được chia ra làm nhiều loại khác nhau: pheromon tính dục bao gồm các chất do con
cái (đôi khi con đực) tiết ra nhằm hấp dẫn bạn đời. Pheromon tập hợp do côn trùng đực
hay cái tiết ra để thu hút bạn bè đến tạo bầy. Pheromon đánh dấu ghi lại đường đi cho
đồng loại khỏi lạc và pheromon báo động phát ra khi gặp hiểm nguy
Pheromon là một trong những chất hoạt động sinh học m
ạnh nhất mà con người
phát hiện ra bởi vì với nồng độ 10
-12
g hay thấp hơn côn trùng đã nhận biết được.
Bản thân pheromon mang tính đặc hiệu rất cao, nó là đặc trưng của từng loài do
đó pheromone có tính dẫn dụ chọn lọc. Các nhà khoa học đã tách chiết và bằng các
phương pháp hóa lý hiện đại đã xác định được thành phần hoá học của hàng ngàn
pheromon của các loài khác nhau trong đó phần lớn là của côn trùng.
Các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu tổng hợp các chất tương tự như pheromon của
côn trùng và nghiên cứu các biện pháp khác nhau ứng dụng trong dự báo và kiểm soát
mật độ côn trùng gây hại.

Nghiên cứu thử nghiệm và ứng dụng bẫy pheromon bắt sâu khoang và sâu xanh da
láng cũng được chú ý thông qua nhiều đề án nghiên cứu tại nhiều nước trên thế giới.
Các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Florida đã nghiên cứu khá cơ bản về phân bố,
vòng đời, thuốc trừ sâu, thiênđịch và pheromon của các lòai sâu này [6].
Các nhà khoa học Đức đã tiến hành thử nghiệm pheromon của hai loài trên tại
Philippine có thông báo ngắn gọn trong công trình sau [7].
Theo dõi biến động các loài này tại vùng khác của M
ỹ, các nhà khoa học tại
Trường Đại học Mississippi nhận thấy ảnh hưởng của vùng lãnh thổ đến mật độ côn
trùng qua
các công trình [8]
Trong thời gian cuối ngoài việc nghiên cứu chế tạo và ứng dụng pheromon các nhà
khoa học trên thế giới còn rất chú trọng đến các con đường sinh tổng hợp pheromon ở
côn trùng. Đáng chú ý có công trình [9].

1.2. NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG PHEROMON TRONG NƯỚC
Nghiên cứu về các chất dẫn dụ côn trùng đã được quan tâm từ rất sớm. Từ cuối
những năm 70 của thế kỷ trước nhiều nhà hóa học Việt nam đã biết đến methyleugenol
như là một chất dẫn dụ có hiệu qủa cao trong phòng trừ ruồi vàng hại cam. Ưu thế đặc
biệt ở chổ methyleugenol rất dễ dàng tổng hợp từ eugenol một chất có thể tách sạch từ
tinh dầu Hương nhu có sẵn trong nước. Chúng tôi cũng đã tham gia nghiên cứu các
dẫn xuất khác nhau của eugenol và thử nghiệm khả năng dẫn dụ của chúng đối với
ruồi đục quả. Chúng tôi c
ũng đã cung cấp 5 kg methyleugenol cho một số nông trường
trồng cam.
Ngay từ thời gian sau đó chúng tôi đã quan tâm đến việc tổng hợp các chất dẫn
dụ các loài côn trùng khác như ruồi nhà, sâu hại ngô, sâu hại rau [11,12]. Tuy nhiên do
hoàn cảnh trang thiết bị còn nghèo nàn, kinh phí hạn hẹp cho nên các công trình
nghiên cứu chưa tiến hành đến nơi đến chốn nên kết qủa chưa nhiều.
Từ năm 1996 Phân viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên tại TP Hồ Chí Minh đã

đến Viện Bảo vệ thực vật là đơn vị đã có triển khai ứng dụng tại vài nơi tại Hải dương
cũng đã cho thấy sự cần thiết phải sử dụng bẫy pheromon trong dự báo và phòng trừ
sâu hại trên rau [20]. Đối với côn trùng hại cây ăn trái chúng tôi sẽ còn tiếp tục nghiên
cứu, chú trọng đến các côn trùng gây h
ại chính đã nêu lên khá chi tiết trong tài liệu
[21].
Đối với côn trùng hại rau cho đến nay theo tài liệu đã công bố [22] gồm một số
lọai chính sau: Sâu tơ, Sâu khoang, Sâu xám, Sâu đo, Bọ nhảy, Rệp cải, Rầy xanh.
Theo thông tin của một số trang trại cho biết, trong nhà lưới thì đối tượng Sâu hại có
giảm, tuy nhiên sự phá hại của các lòai khác như Bọ nhảy, Bọ trĩ, Rầy xanh là khá phổ
biến. Chính vì thế việc nghiên cứu các biện pháp dự báo và phòng tr
ừ côn trùng gây
hại là hết sức cần thiết.
1.3. MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
. Mục tiêu của đề tài:
- Nghiên cứu tổng hợp một số pheromon của côn trùng hại rau và rau ăn trái
- Chế tạo mồi nhử bẫy bắt côn trùng gây hại từ các nguyên vật liệu dễ kiếm trong nước
- Đề xuất qui trình dự báo và phòng trị côn trùng hại rau trong nhà lưới và trang
trại bằng bẫy bắt côn trùng
. Nội dung nghiên cứu:
1. Khảo sát tình hình sâu hại cây rau chủ yếu trên các lọai cây ăn lá với các lọai sâu
hại phổ biế
n như Sâu tơ, Bọ nhảy, Rầy xanh v.v bằng phương pháp điều tra trực tiếp
và bẫy bắt côn trùng bằng Pheromon.
2. Khảo sát tình hình sâu hại cây rau ăn trái chủ yếu là Ruồi đục qủa dưa, bầu bí bằng
điều tra trực tiếp và bẫy pheromon.
3. Khảo sát tình hình sâu hại rau trong các nhà lưới tại TP Hồ Chí Minh
4. Nghiên cứu tổng hợp pheromon của các lòai sâu hại chính trên rau như Sâu tơ, Sâu
khoang, Ruồi đục quả dưa leo, bầu bí.
5.Xác


PHẦN 2

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÃ THỰC HIỆN
TRONG NĂM 2007


2
)=
Tổng diện tích điều tra (m
2
)

Hình 1: Sâu tơ và kén sâu tơ trên lá rau

Thành trùng sâu tơ theo dõi băng bẫy pheromon. Ngoài các dụng cụ thông thường
trong thí nghiệm này còn dùng mồi nhử và bẫy pheromon tự tổng hợp có so sánh với
mẫu của hãng Trecé Hoa kỳ.

62.1.2.2. Điều tra Sâu khoang (Spodoptera litura F.):
Sâu khoang là loài côn trung gây hại trên nhiều đối tượng kể cả rau ăn lá và rau ăn
quả. Phương pháp điều tra tiến hành định kỳ 7 ngày liên tục từ khi trồng đến khi thu
hoach . Điều tra theo phương pháp 5 điểm chéo góc, cuốn chiếu, không lặp lại giữa các
kỳ điều tra hoặc theo phương pháp lấy mẫu liên tục, mỗi khu trồng từ 30-50 điểm.[10]
Điề
u tra sâu non và ổ trứng: Do đặc tính của sâu non sống chung khi mới nở, từ tuổi 2
phát tán ra xung quanh. Vì vậy số liệu điều tra phải có số liệu về số ổ sâu non, số sâu
non ở từng tuổi, số ổ trứng có trên cây.

Tổng số Bọ nhảy thu được
Mật độ Bọ nhảy =
Tổng số cây /khay điều tra

Cach thứ hai là điều tra mỗi tuần m
ột lần, điều tra 5 điểm chéo góc, mỗi điểm điều tra
5 cây. Hình 4: Bọ nhảy hại rau

2.1.2.5. Điều tra ruồi đục lá (Liriomyza sp.): Điều tra trên 1 m chiều dài luống rau.
Ngắt từ 5-10 lá ở tưng cấp về đếm và tinh số lương sâu non, nhộng bình quân ở từng
cấp. Từ đó suy ra mật độ ruồi trên 1m
2
dựa trên các cấp độ ở các lá có trên diện tích ở
các điểm điều tra trong kỳ
Cấp mật độ được phân theo thang 5 cấp
Cấp 0: Trên toàn lá không bị hại
Cấp 1: Trên lá có từ 1-5 vết đục, các vết đục rải rác thương có từ 1-3 sâu
Cấp 3: Trên lá có khoảng 6-10 vết đục, trong đó có một số vết đục đan xen nhau,
thương có từ 4 –6 sâu
Cấp 5: Trên lá có từ 11-20 vết đục, trong đó có một số
vết đục đan xen nhau rõ rệt
thương ở gốc lá, thường có từ 7-10 sâu
Cấp 7: Trên lá các vết đục đan xen nhau thành mảng nhất là quanh khu vực gốc lá, môt
phần diện tích khu vưc gốc lá bị cháy thương có từ 11 sâu trở lên 8

(trong
nhà
lưới)
1 1 2 3 2 2 3 1 2
Mật độ
sâu non
(trong
nhà
lưới)
0 0 1,2 0,5 0 0,5 1,8 0 1,4

Nhìn chung mật độ Sâu tơ trong nhà lưới thấp hơn so sánh với mật độ Sâu tơ bên
ngoài nhà lưới. Qui luật biến thiên mật độ cũng khá rõ: Sau khi số lương bướm Sâu tơ
vào bẫy đạt đỉnh thi khoảng 9-10 ngày sau mật độ sâu non đạt cao nhất. Điều này có
thể giúp ta phun thuốc đúng lúc sâu non mới nở như vậy hiệu quả dập dịch sẽ cao hơn. 9Hính 6: Bẫy bươm sâu tơ bằng mồi nhử pheromone

2.1.3.2. Kết quả điều tra Sâu khoang:
Theo dõi biến động mật độ sâu khoang được tiến hành liên tục từ khi mới trồng đến
khi thu hoạch rau trên đồng ruộng. Sâu non được điều tra theo phương pháp nêu phần
trên. Số lượng ngài trưởng thành được theo dõi dưa trên số liệu bẫy bắt bướm dùng
mồi nhử pheromon của hãng Trece’ Hoa kỳ.
Kết quả đ
iều tra được ghi lại trên bảng 2.


khác mạnh hơn cho nên sự gây hại không thật trầm trong. Theo phân loại
thang 4 cấp thì qua điều tra cho thấy trên các ruông rau ở trong và ngoài nhà lưới phổ
biến ở cấp 1. Hình 8: Bẫy bắt rệp muội bằng bẫy dính

2.1.3.4. Kết quả điều tra Bọ nhảy :
Bọ nhảy là đối tương gây hại chính trên rau họ hoa thập tự đặc biệt la giai đoạn cây
giống trong vươn ươm. Chúng gây hại ở cả pha sâu non và pha trưởng thành
Do xác đinh mật độ sâu non và nhộng ở trong đất rất khó khăn cho nên chỉ tiêu điều
tra là mật độ trưở
ng thành gây hại trên đồng ruộng. Qua điều tra trên đông ruộng tai
Ấp đình, Củ Chi cho thấy sau 6-7 ngày (tương ứng với giai đoạn cây giống 2 lá mầm )
bọ nhảy trưởng thành đã thấy xuất hiện và gây hại lá mầm. Một số cây héo khi nhổ lên 11
thấy rễ bị sâu non gặm. Theo kinh nghiệm cho thấy giai đoạn này Bọ nhảy phát triển
rất nhanh. Khi rau cải mới được 3-4 lá Bọ nhảy thường ăn thủng lá, ăn cụt phần búp
non làm cây không phát triển được. Trong thực tế sản xuất ở giai đoạn này người ta
phải phun thuốc phòng trừ Bọ nhảy trưởng thành.
Kết quả điều tra Bọ nhảy được ghi nhận trên bảng 3
Bảng 3: Mật độ Bọ nhảy trưởng thành (con/khay) trên cây cải xanh
Thời gian theo dõi từ tháng 12/2006 đến tháng 3/2007

Ngày sau
trồng
7 14 21 28 35 42 49 56 63
Trong nhà

(con/m2)
trong nhà lưới
0 1 3 3 5 2 3 3 6
Mật độ ruồi đục
lá (con/cây)
trong nhà lưới
0 2 4 5 4 3 6 5 4
Mật độ sâu non
(con/m2) ngoài
nhà lưới
0 3 4 6 8 7 9 9 8
Mật độ ruồi đục
lá (con/cây)
ngoài nhà lưới
0 3 4 5 4 10 9 11 8

2.1.4. KẾT LUẬN

Tình hình sâu hại rau ăn lá tại Ấp đình, xã Tân Phú Trung huyện Củ chi qua điều tra
cho thấy khá phổ biến. Người dân thương phải phun thuốc phòng trừ. Qua điều tra cho
thấy nhìn chung mật độ sâu hại trên cánh đông đều cao hơn trong nhà lưới. Đối với các
loài sâu như sâu tơ, sâu khoang thì sự phá hại trong nhà lưới giảm rõ rệt. Tuy nhiên đối
với các loài côn trùng nhỏ như rệp muội, bọ nhảy và ruồ
i đục lá thì sự phá hại khá
nghiêm trọng cần đề xuất các biện pháp phòng trừ.
Hình 10: Bẫy sâu bọ hại rau ăn lá trong nhà lưới


Phương pháp điều tra: Điều tra theo phương pháp 5 điểm chéo góc không lặp lại qua
các lần điều tra, mỗi điể
m 1 m dài. Đến khi cây lớn dần vẫn tiến hành điều tra theo
một phía bề mặt của dàn dưa.
Quá trình điều tra cần nhẹ nhàng vì sâu khi thấy động dễ dàng co người lại và lăn
xuống đất. Chú ý quan sát đếm số sâu từ búp cây đến các lá và trên mặt đất quanh gốc
cây. Đặc biệt chú ý trên cac bộ phận ngọn và lá cây có triệu chứng bị hại.
Trên thực tế tình hình phá hại của sâu xanh da láng tại địa bàn không nghiêm trọng
cho nên ch
ỉ cần chia sâu non ra hai nhóm: nhóm sâu nhỏ từ tuổi 1 đến tuổi 3, nhóm
sâu lớn bao gồm tất cả các tuổi còn lại.

Các chỉ tiêu theo dõi:
Tổng số sâu trên các điểm điều tra
+ Mật độ sâu (con/m2) =
Tổng số diện tích đã diều tra

Tổng số sâu đếm được
+ Mật độ sâu non, nhộng (con/cây hay con/m
2
)=
. Tổng diện tích điều tra (m
2
)
Số sâu ở từng tuổi, từng pha phát dục
+ Tỷ lệ các tuổi sâu nhộng (%)= X 100
Số sâu non thu được trên diện tích đ. tra

cấp. Từ đó suy ra mật độ ruồi trên 1m2 dựa trên các cấp độ ở các lá có trên diện tích ở
các điểm điều tra trong kỳ
Cấp mật độ được phân theo thang 5 cấp
Cấp 0: Trên toàn lá không bị hạ
i
Cấp 1: Trên lá có từ 1-5 vết đục, các vết đục rải rác thương có từ 1-3 sâu
Cấp 3: Trên lá có khoảng 6-10 vết đục, trong đó có một số vết đục đan xen nhau,
thương có từ 4 –6 sâu
Cấp 5: Trên lá có từ 11-20 vết đục, trong đó có một số vết đục đan xen nhau rõ rệt
thương ở gốc lá, thường có từ 7-10 sâu
Cấp 7: Trên lá các vết đục đan xen nhau thành mảng nhất là quanh khu vực gốc lá, môt
phần diệ
n tích khu vưc gốc lá bị cháy thường có từ 11 sâu trở lên

Hình 13: Ruồi đục lá rau ăn trái Liriomyza sp.

2.2.3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

2.2.3.1. Kết quả điều tra Sâu xanh da láng:
Điều tra mật độ Sâu xanh da láng được tiến hành đồng thời trong và ngoài nhà
lưới. Bên ngoài nhà lưới mật độ sâu xanh da láng cao hơn và số lương bướm vào bẩy
cũng cao hơn là trong nhà lưới

Bảng 5: Bảng theo dõi biến động mật độ sâu xanh da láng trên đồng ruộng từ tháng 1
đến tháng 3 năm 2007.

Ngày sau

i Ấp đình cho thấy mật độ khá thấp, không cần phải sử dụng các biện
pháp phòng trừ đặc biệt.
Hình 14: Bẫy bắt bướm sâu xanh da láng bằng mồi nhử pheromon
2.2.3.2. Kết quả điều tra Ruồi đục trái:
Ruồi đục trái trên các loại rau ăn ăn trái tại vùng chuyên canh rau khá phong phú về
chủng loại. Qua điều tra của các công trình nghiên cứu trước đây cho thấy có 4 loài
phổ biến như: Bactrocera dorsalis, Bactrocera cucurbitae, Bactrocera thailanesis và
Bactrocera [23]. Trên thực tế theo dõi tại địa điểm điều tra nhận thấy thự
c sự có hai
loài phổ biến hơn đó là Bactrocera dorsalis và Bactrocera cucurbitae. Trên ruộng
trồng mướp bẫy bắt thu nhận được cả hai loài trên, tuy nhiên trên ruộng trông dưa leo
thì chỉ còn bẫy bắt được Bactrocera cucurbitae.
Bảng 6 ghi lai kết quả bẫy bắt ruồi đục trái trên vườn trồng rau ăn trái như sau: 17
Bảng 6: Kết quả điều tra ruồi đục trái trên ruộng trồng dưa leo

Ngày sau khi
trồng
7 14 21 28 35 42 49 56 63
Số lượng sâu
(con/cây)
0 0 2 3 5 4 6 5 4

gây hại chính là Bactrocera cucurbitae. Bên cạnh ruồi đục trái , ruồi đục lá xuất hiện
khá phổ biến, mật độ có lúc lên khá cao, tuy nhiên sự gây hại không nghiêm trọng. Sâu
xanh da láng chỉ
xuất hiện với mật độ khá thấp so với các vùng trồng cây khác. 18
2.3. NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP (Z) -11- HEXADECENAL, (Z)-11-
HEXADECENOL VÀ (Z) -11-HEXADECENYL ACETAT, PHEROMON
CỦA SÂU TƠ (PLUTELLA XYLOSTELLA L.)
2.3.1. MỞ ĐẦU
Sâu tơ là một trong những loài sâu hại rau chính tại các vùng chuyên canh rau trên cả
nước. Người ta đã sử dụng rất nhiều biện pháp khác nhau để phòng trừ nhưng hiệu quả
chưa cao bởi khả năng kháng thuốc. Pheromon đã được biết như một công cụ dự báo
hiệu quả trong chiến lược phòng trừ sâu hại tổng hợp(IPM). Nghiên cứu tổng hợp và
ứng dụng pheromon của sâu tơ đã được mộ
t số tác giả trong và ngoài nước công bố.
Mỗi công trình sử dụng các con đường riêng tùy theo sự lựa chọn nguyên liệu ban đầu
khác nhau. Trong công trình này chúng tôi dự kiến công bố thêm một phương pháp
tổng hợp mới từ các nguyên liệu dễ kiếm mà với điều kiện trong nước có thể chủ động
không lệ thuộc vào nước ngoài.
Các sản phẩm tổng hợp ra đều đươc xác định cấu trúc bằng các phương pháp hóa lý
hiệ
n đại, độ sạch không dưới 96%, đủ điều kiện để pha chế thành các mồi nhử thich


2.3.3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Pheromon của Sâu tơ là hỗn hợp gồm 3 thành phần: (Z)-11- Hexadecenal, (Z)-11-
Hexadecenol và (Z)-11-Hexadecenyl acetat. Phương pháp phản ứng qua nối
acetylen[28].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status