Hoàng Xuân Điển – Trường Tiểu học San Thàng - thị xã Lai Châu
RÈN KỸ NĂNG THỰC HÀNH PHÉP NHÂN CHO HỌC SINH LỚP 3
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
1.1. Xuất phát từ vị trí và tầm quan trọng của dạy phép nhân trong việc dạy
môn Toán trong tiểu học.
Việc dạy học ở các trường tiểu học nước ta có một quá trình phát triển lâu.
Chương trình môn Toán ở bậc Tiểu học gồm có 5 tuyến kiến thức chính là: Số đại
số, các yếu tố hình học, đo các đại lượng, giải toán.Trong đó số lớn nhất trọng tâm
đóng vai trò “cái trục chính” mà bốn mạch chuyển động chung quanh nó, phụ
thuộc vào nó.Các biện pháp tính, của phép nhân và dãy tính.Trong ba mảng kiến
thức này thì mảng các biện pháp tính là quan trọng nhất, đặc biệt là việc rèn luyện
kỹ năng thực hành phép nhân , chia đóng vai trò hết sức chủ đạo, nó là trọng tâm
của tuyến kiến thức số học, đại số và là hạt nhân của toàn bộ chương trình tiểu học.
Bắt đầu từ năm 2003-2004, bảng nhân 2, 3, 4, 5 chính thức được đưa vào
chương tình Toán lớp hai ở bậc tiểu học.Nói như vậy thấy tầm quan trọng và vai
trò của phép nhân trong môn Toán.Trong các kỳ thi môn Toán của lớp 2, 3, 4, 5
đặc biệt là thi học sinh giỏi bậc tiểu học luôn xuất hiện các bài toán có liên quan
đến phép tính nhân.Vì vậy tính nhân, chính là “ chìa khoá “ và “ cầu nối” giữa toán
học và thực tiễn đời sống.Nó chiếm vị trí rất quan trọng trong chương trình môn
toán lớp 3 và môn toán tiểu học nói chung nhất là về mặt thực hành tính toán.
1.2. Xuất phát từ nhu cầu đặt ra trong công cuộc đổi mới giáo dục nói chung
và đổi mới dạy học môn toán ở tiểu học nói riêng.
Công cuộc đổi mới kinh tế, xã hội đang diễn ra từng ngày từng giờ trên khắp
đất nước. Nó đòi hỏi phải có những lớp người lao động mới có bản lĩnh, có năng
lực, chủ động sáng tạo, dám nghĩ dám làm, thích ứng được với thực tiễn đời sống
xã hội luôn luôn phát triển.Nhu cầu này làm cho mục tiêu đào tạo của nhà trường
phải được điều chỉnh một cách hợp lý dẫn đến sự thay đổi tất yếu về nội dung và
phương pháp dạy học.
Đặc điểm của phương pháp dạy học cũ là có sự mất cân đối rõ rệt giữa hoạt
động dạy của giáo dục và hoạt động của học sinh.Trong đó:
mới.
- Xuất phát từ những lý do thực tế trên, qua nghiên cứu quá trình dạy học môn
toán lớp 3 ở bậc tiểu học, là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy cần phải “áp
dụng dạy học tích cực để rèn kỹ năng thực hành phép nhân cho học sinh lớp 3”
góp phần chất lượng nâng cao giảng dạy.
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nhằm:
- Tìm hiểu những vấn đề lí luận về đổi mới dạy học tích cực nói chung và dạy
học tích cực trong môn Toán nói riêng.
- Vận dụng dạy học tích cực để thiết kế bài dạy để rèn luyện kỹ năng thực
hành phép nhân góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Toán Tiểu học nói
chung và lớp 3 nói riêng.
- Đề tài này biểu hiện kết quả tự học, tự rèn luyện nâng cao tay nghề của bản
thân, tôi rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp, quý thầy cô của
Hoàng Xuân Điển – Trường Tiểu học San Thàng - thị xã Lai Châu
trường Đại học Sư phạm để đổi mới , nâng cao hiệu quả dạy học rèn luyện kỹ năng
thực hành phép nhân, phép chia cho học sinh lớp 3.
3. Đối tượng nghiên cứu:
“Áp dụng dạy học tích cực để rèn luyện kỉ năng thực hành phép nhân cho học
sinh lớp 3”.
4. Khách thể, phạm vi nghiên cứu:
3.1. Khách thể:
Do dạy học trước đó là giáo viên làm nhiều học sinh làm theo nên học học
sinh dễ nhàm chán. Do vậy tôi áp dụng dạy tích cực để học sinh hứng thú học tập
như : Học sinh hoạt động theo nhóm, quan sát vật thật, học tập hợp tác.v.v
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Do thời gian có hạn nên tôi chỉ nghiên cứu học sinh lớp 3 Trường Tiểu học
San Thàng
sinh cũng phải khám phá ra những gì đã nắm được qua hoạt động chủ động, nỗ lực
của chính mình. Đó là chưa nói lên tới một trình độ nhất định sự học tập tích cực sẽ
mang tính nghiên cứu khoa học và người học cũng làm ra những tri thức mới cho
khoa học.
Tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động
cơ học tập. Động cơ có đúng đắn tạo ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề của tự giác.
Hứng thú và tự giác là 2 yếu tố tạo nên tính tích cực. Tính tích cực sản sinh tư duy
độc lập suy nghĩ, độc lập suy nghĩ là mầm mống của sáng tạo. Ngược lại phong
cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng
động cơ học tập.
Hoàng Xuân Điển – Trường Tiểu học San Thàng - thị xã Lai Châu
Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu hăng hái trả lời các câu hỏi
của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình
trước vấn đề nêu ra, hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề
chưa rõ, không chủ động vận dụng kiến thức kỹ năng đã học, kiên trì hoàn thành
các bài tập, không nản trước những tình huống khó khăn.
Tính tích cực học tập đạt những cấp độ từ thấp lên cao như:
Bắt chước: gắng sức làm theo các mẫu hoạt động của thầy, của bạn
Tìm tòi: Độc lập giải quyết các vấn đề nêu ra, tìm kiếm những cách giải quyết
khác nhau về một số vấn đề
Sáng tạo: Tìm ra cách giải quyết mới độc đáo, hữu hiệu.
2. Độc lập với tính tích cực là tính thụ động:
Tính thụ động học tập của học sinh được biểu hiện ở chỗ:
Học sinh chủ yếu ít nghe giảng, ghi nhớ rồi làm bài theo mẫu.
Học sinh ít hứng thú học tập, không thích phát biểu ý kiến.
Trong lớp học sinh ít chú ý vào vấn đề đang học, không kiên trì nên không
hoàn thành các bài tập. Khi gặp khó khăn học sinh dễ chán nản, buông xuôi. Học
sinh không tự giác đánh giá kết quả học tập của mình và của bạn.
Do cách học như vậy nên học sinh thiếu năng động, tự tin , làm việc máy
móc, không thể thích ứng được với những đổi mới đang diễn ra hàng ngày.
trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết
học có sự hướng dẫn của giáo viên.sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp
dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hoá về trình độ, tiến độ
hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi
công tác độc lập.
Áp dụng dạy học tích cực ở trình độ cao thì sự phân hoá ngày càng lớn. Việc
sử dụng các công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể học
tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh.
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kỹ năng, thái độ đều được
hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân.Lớp học là môi trường giao tiếp
giữa thầy và trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường
chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến
mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên
một trình độ mới.Bài học vận dụng được hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi học
sinh và của cả lớp chứ không phải dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm của thầy
giáo.
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp cao
nhóm, tổ, lớp hoặc nhà trường.Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động
hợp tác trong nhóm 4 đến 6 người. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập nhất
là lúc giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp
giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo nhóm nhỏ
sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại, tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc
lộ, uốn nắn , phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ. Mô hình hợp
tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần
với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia,
liên quốc gia, năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà
trường cần phải chuẩn bị cho học sinh.
Hoàng Xuân Điển – Trường Tiểu học San Thàng - thị xã Lai Châu
3.4.Kết hợp đánh giá của thầy và sự đánh giá của trò:
môn học khác ở Tiểu học và học tập tiếp môn Toán ở trung học.
Môn Toán giúp học sinh nhận biết được các mối quan hệ về số lượng và hình
dạng không gian của thế giới thực. Nhờ đó mà học sinh có phương pháp nhận thức
một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời
sống.
Hoàng Xuân Điển – Trường Tiểu học San Thàng - thị xã Lai Châu
- Môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy
nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề, nó góp phần phát
triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo, nó đóng góp vào
việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động: cần cù,
cẩn thận, có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nền nếp tác phong khoa
học.
4.2.Vị trí và tầm quan trọng của dạy phép nhân trong dạy học toán lớp3:
- Dạy học các phép tính nhân là một chủ đề quan trọng trong chương trình
Toán lớp 3 và bậc Tiểu học, vì :
+ Đây là một trọng tâm lớn xuyên suốt trong trương trình Toán lớp 2, 3, 4, 5.
+Đây là những kỹ năng rất cần thiết để học lên các cấp học trên (không chỉ
trong môn Toán) và để giải quyết những bài toán do thực tiễn cuộc sống đặt ra.
+ Đây là một mảng rất khó, trù tượng và rất hấp dẫn, nó ảnh hưởng lớn đến
kết quả dạy Toán đại trà và việc bồi dưỡng phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho
học sinh giỏi bậc Tiểu học.
+ Những kiến thức, kỹ năng về phép nhân là “cầu nối” giữa Toán học trong
nhà trường và ứng dụng trong đời sống xã hội.
+ Nhờ được rèn luyện các kỹ năng thực hành phép nhân mà học sinh giải toán
nhanh hơn, tìm ra nhiều cách giải khác nhau của bài toán.
+ Việc củng cố cho học sinh về tính chất của phép nhân, mối quan hệ giữa các
phép tính giúp học sinh có khả năng tính nhanh rất tốt.Thông thường muốn tính
nhanh ta phải thực hiện “trong óc” những phép biến đổi khác nhau để thực hiện
phép tính về một dạng mới cho phép tránh được các tính toán cồng kềnh bằng bút,
có thể thực hiện dễ dàng “trong óc”. Có thể nói tính toán (trong đó có tính nhanh)
kiến của người khác, tập lắng nghe ý kiến của chính mình.
- Tạo ra cơ hội để học sinh nâng cao năng lực hợp tác, học sinh tự xác định
trách nhiệm cá nhân đối với công việc chung của nhóm, nhận xét đánh giá ý kiến
của bạn điều chỉnh suy nghĩ của mình.
- Tạo điều kiện để học sinh phát huy hết khả năng của mình theo hướng phân
hoá trong dạy học.
1.1. Cấu tạo của một tiết học theo nhóm như sau:
* Làm việc chung cả lớp:
Hoàng Xuân Điển – Trường Tiểu học San Thàng - thị xã Lai Châu
- Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức.
- Tổ chức các nhóm: chia thành từng nhóm nhỏ(4-6 học sinh)
- Giao nhiệm vụ: giáo viên giao việc cho mỗi nhóm và nhóm trưởng, cần nói
rõ yêu cầu về nội dung công việc và thời gian thực hiện.
* Làm việc theo nhóm:
- Phân công trong nhóm: Mỗi nhóm bầu ra một nhóm trưởng, ngoài ra có thể
bầu thư kí.
- Các nhóm làm việc: Nhóm trưởng điều khiển nhóm hoạt động , mỗi thành
viên trong nhóm đều phải hoạt động, không được ỷ lại vào nhóm trưởng và các
thành viên khác trong nhóm, cần làm việc, suy nghĩ độc lập trước khi trao đổi, giúp
đỡ lẫn nhau, giáo viên theo dõi giúp đỡ các nhóm trưởng và giải quyết vướng mắc
của các nhóm nếu có.
- Cử đại diện(hoặc phân công) trình bày kết quả làm việc theo nhóm.
* Tổng kết trước lớp:
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Thảo luận chung
- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong
bài.
1.2. Một số cách chia nhóm:
Nhìn sơ bộ có thể chia nhóm theo cách ngẫu nhiên hoặc có chủ định, có thể
giao cùng một nhiệm vụ cho các nhóm hoặc giao nhiệm vụ khác nhau cho mỗi
thời gian hướng dẫn học sinh tự học.
- Chia thành các nhóm có đủ trình độ: cách chia này thông thường sử dụng
khi nội dung hoạt động dạy học cần có sự hỗ trợ lẫn nhau. Chẳng hạn, khi tổ chức
thực hành ngoài lớp học, ôn tập hoặc giải bài tập khó.
- Chia nhóm theo sở trường: cách chia này thường được tiến hành trong các
buổi ngoại khoá. Mỗi nhóm gồm những học sinh có cùng một sở trường, hứng
thú.Giáo viên có thể nêu tên, nêu tiêu chuẩn của thành viên và nhiệm vụ của các
nhóm, rồi để các em tự xung phong vào các nhóm.Cách chia này ít được áp dụng ở
Tiểu học vì sở trường hay hứng thú chưa được bộc lộ rõ ràng.
- Dạy học theo nhóm là một hình thức mới đối với đa số giáo viên. Dạy học
theo nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm bản
thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách trao đổi những ý kiến, mỗi
người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần
học hỏi thêm điều gì. Do vậy thành công của bài học phụ thuộc vào sự tham gia
nhiệt tình của mọi thành viên.Tuy nhiên, dạy học theo nhóm bị hạn chế bởi không
gian chật hẹp của lớp học, bởi thời gian hạn định của tiết học nên giáo viên hải biết
tổ chức hợp lí và học sinh đã khá quen với cách dạy này thì mới có kết quả. Mỗi
tiết học chỉ nên có từ 1 đến 3 hoạt động nhóm, mỗi nhóm hoạt động từ 5 đến 10
phút.Cần nhớ rằng trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của học sinh phải được
phát huy và ý nghĩa quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác
giữa các thành viên trong tổ chức lao động.Cần tránh khuynh hướng hình thức và
đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ
phương pháp dạy học càng đổi mới.
2. Phiếu học tập Toán Tiểu học:
Phiếu học tập có thể là một phần của vở bài tập, làm riêng cho một tiết học
hoặc một phần của tiết học, coi như một phương tiện tổ chức hoạt động dạy học.
- Có nhiều loài phiếu học tập như: Phiếu kiểm tra, phiếu học và phiếu thực
hành.
Hoàng Xuân Điển – Trường Tiểu học San Thàng - thị xã Lai Châu
- Nếu muốn kiểm tra thêm về lý thuyết xem học sinh có nhớ được thứ tự thực
10 x 6 = 60 : 6 =
Việc 3:
2.3.Chép lại bảng chia 6 ở việc 2 bằng bút chì(miệng đọc thầm) Hoàng Xuân Điển – Trường Tiểu học San Thàng - thị xã Lai Châu
2.4. Tô lại băng bút mực(miệng đọc thầm)
Giải thích:
+ Vì học sinh đã học bài giảng nhân 6 rồi nên mọi học sinh đều phải tự làm
việc 1 mà giáo viên không phải giúp đỡ.
+ Sau khi học sinh đã hoàn tất việc 1 thì chuyển sang việc 2.Tuỳ trình độ
học sinh ở từng lớp mà cách xử lý của giáo viên có thể khác nhau.
- Lớp có nhiều học sinh khá giỏi thì trong việc 2 không cần phải ghi số 2 ở
dằng sau 12 : 6 = , chỉ cần các mũi tên (Gợi ý từ phép nhân suy ra kết quả phép
chia) là đủ các em hiểu rồi.Nói cách khác có thể để trống toàn bộ các kết quả của
bảng chia 6 , học sinh tự tìm tất cả.
- Lớp có nhiều học sinh trung bình thì giáo viên nên làm mẫu một trường hợp,
chẳng hạn 12 : 6 = ? có thể làm như sau:
- Giáo viên chỉ vào 2 x 6 = 12 nêu “Trong phép nhân này 12 là tích , 2 và 6 là
thừa số.Ta đã biết là : Khi lấy tích chia cho thừa số này thì được thừa số kia, nên 2
x 6 = 12 ta suy ra 12 : 6 = 2. Do đó từ một phép nhân với 6 ta suy ra được kết quả
của một phép chia 6”. Sau đó để học sinh tự làm 9 trường hợp còn lại.
- Lớp có nhiều học sinh yếu thì sau khi hướng dẫn mẫu như trên, giáo viên có
thể đàm thoại để hướng dẫn nhanh một trường hợp nữa.Sau đó để học sinh tự làm
8 trường hợp còn lại.
- Như vậy là tuỳ trình độ học sinh yếu thì sau khi hướng dẫn một chút là các
em có thể tự làm được việc 2. Điều đó cũng có nghĩa là mọi học sinh tự lập được
5 9 8 4 6
x x x x x
6 6 6 6 6
2.7. Tính đố
Mỗi thùng dầu có 6 lít dầu.Hỏi 5 thùng như thế có bao nhiêu lít dầu?
- Ghi chú: Đối với những nơi không có điều kiện kinh tế để in (hoặc
photocopy) phiếu học tập cho từng học sinh có thể khắc phục bằng cách:
- Giáo viên ghi lần lượt các nội dung công việc lên bảng để học sinh làm vào
vở, bảng con hoặc nháp.
- Giáo viên lần lượt nêu nội dung công việc cho học sinh nghe rồi các em làm
vào vở (hoặc nháp, bảng con) thay vì làm vào phiếu.
Cả hai cách làm trên đều đỡ tốn kém tiền bạc nhưng lại tốn thời gian.
3.Trò chơi toán học:
3.1. Quan niệm về trò chơi Toán học:
Trò chơi Toán học là trò chơi trong đó chứa một yếu tố Toán học nào đó.Trò
chơi có thể phân loại theo số người tham gia: Trò chơi tập thể, trò chơi cá nhân.Trò
chơi có thể là trò chơi vận động, có thể là trò chơi trí tuệ, cũng có thể kết hợp vận
động với trí tuệ.
- Vì là một trò chơi, trò chơi Toán học mang đầy đủ các đặc điểm của trò
chơi, nhưng trò chơi toán học khác với trò chơi “phi toán” ở chỗ ít nhiều phải chứa
trong nó một yếu tố kiến thức Toán học nào đó.Trò chơi Toán học cũng có thể là
trò chơi tập thể hoặc trò chơi cá nhân, thường thuộc loại kết hợp cả vận động lẫn trí
tuệ. Ở lớp dưới trò chơi Toán học nặng về vân động, càng lên cao trí tuệ càng phải
cao hơn.
- Trong nhà trường, trò chơi Toán học có thể tổ chức như một hoạt động dạy
học Toán. Cơ sở tâm lí và sinh lí khẳng định hoạt động dạy học Toán dưới dạng trò
chơi Toán học rất phù hợp với lứa tuổi tiểu học.Thực tế dũng cho thấy hình thức tổ
chức trò chơi Toán học dễ được học sinh hưởng ứng và tích cực tham gia.
Hoàng Xuân Điển – Trường Tiểu học San Thàng - thị xã Lai Châu
Xét về mục đích phục vụ dạy học nói chung, trò chơi Toán học có thể là:
(chỉ được tiến không được lùi) ít nhất 1 ô, nhiều nhất 3 ô. Hai bên tính toán sao cho
đến lượt đi mà đối phương không còn ô để tiến nữa thì mình thắng cuộc.
4. Dạy học kết hợp với các phương tiện thiết bị dạy học.
4.1. Đồ dùng dạy học toán:
Đồ dùng dạy học Toán là bất cứ dụng cụ nào (đồ vật, mô hình, tranh ảnh, hay
hình vẽ) được sử dụng trong dạy học Toán. Như vậy đồ dùng hay dạy học Toán hết
Hoàng Xuân Điển – Trường Tiểu học San Thàng - thị xã Lai Châu
sức đa dạng: từ những đồ vật đơn giản nhất như là que tính cho đến những dụng cụ
đắt tiền như máy vi tính đều có thể coi là đồ dùng dạy học Toán.
Tư duy của học sinh Tiểu học thường bắt đầu từ những biểu tượng cụ thể, nên
kiến thức toán Tiểu học chủ yếu hình thành bằng con đường thực nghiệm. Chính
điều này dẫn đến xu thế dạy học Toán theo cách tổ chức cho học sinh: hoạt động
bằng tay với các đồ vật – hoạt động quan sát với các mô hình, hình vẽ – hoạt động
chơi với lời nói – hoạt động trí óc.Trong rất nhiều trường hợp khó có thể tổ chức
hoạt động mà không có đồ dùng dạy học Toán.
Có thể phân loại đồ dùng dạy học thành hai loại: đồ dùng biểu diễn và đồ
dùng thực hành.
Đồ dùng biểu diễn là đồ dùng mà giáo viên sử dụng để giới thiệu đối tượng
hay tính chất, hoặc để làm mẫu các thao tác khi hương dẫn cách sử dụng đồ dùng
thực hành cho học sinh.
Đồ dùng thực hành là đồ dùng dành cho học sinh, thường là dụng cụ để học
sinh thao tác bằng tay vừa nhằm hình thành và củng cố kiến thức mới, vừa nhằm
rèn luyện sự khéo léo, phát huy trí tưởng tượng không gian, phát triển thẩm mỹ.
Có thể phân loại đồ dùng thành: đồ dùng có sẵn và đồ dùng tự làm.
Đồ dùng dạy học có sẵn là đồ dùng do các cơ sở sản xuất chế tạo sẵn để trang
bị hàng loạt cho các nhà trường.Giáo viên phải nắm được danh mục đồ dùng dạy
học của trường mình để có thể lấy ra sử dụng trong năm học, tránh hiện tượng đồ
dùng dạy học thì nằm trong kho mà học sinh vẫn phải học chay.
Đồ dùng dạy học tự làm là đồ dùng mà giáo viên, học sinh tự làm ra theo mẫu
thiết kế sẵn hoặc theo mẫu tự thiết kế.
thì đặt vật cần cân lên một đĩa cân trước, rồi đặt dần các quả cân lên đĩa cân kia, từ
lớn đến bé, cho đến khi thăng bằng
4.1.3 Ví dụ minh hoạ về đồ dùng dạy học:
* Ví dụ 1: thực hành đo , đong, cân.
Đo độ dài:
- Trước khi đo độ dài cần xác định rõ: cần đo đoạn thẳng nào, thước đơn vị
nào , với độ chính xác nào (lấy số đo đến mấy chữ số ở phần thập phân). Trên cơ
sở đó ta chọn dụng cụ đo và tiến hành đo.
- Chẳng hạn cần đo chiều dài lớp học, đơn vị mét.Ta chọn dụng cụ đo là thước
mét có vạch chia đến xăng-ti-mét.
- Tiến hành đo: Đặt nối tiếp thước theo chiều dài của lớp, vừa đặt vừa đếm
1m, 2m, 3m, Khi còn cách hơn 1m thì quay đầu thước (để vạch số 0 chạm vào
tường ) và đọc số đề-xi- mét và xăng-ti-mét.
- Nếu đo bằng thước dây thì cách đo khác hơn một chút.
Đo dung tích:
- Trước tiên tiến hành đo cần xác định rõ: vật chứa cần đo dung tích, đơn vị
đo và yêu cầu về độ chính xác.Trên cơ sở đó ta chọn dụng cụ đo và tiến hành đo.
- Chẳng hạn, cần đo dung tích của một chiếc bình, theo đơn vị lít và ta có
chiếc ca 1 lít.Ta đong đầy từng ca nước và đổ vào bình. Đổ xong thì đếm: 1 ca, 2
ca, 3 ca Nếu ca cuối, ví dụ ca thứ 5, không đổ được hết nước vào bình thì nói :
dung tích của bình là hơn 4 lít hoặc gần 5 lít tuỳ theo lượng nước còn lại trong ca
là nhiều hay ít (ở những lần tập đo đầu tiên , nên chọn bình là số nguyên lần lít).
Đo khối lượng:
- Trước khi đo cần xác định rõ: vật cần đo khối lượng, dơn vị đo và yêu cầu
về độ chính xác.Trên cơ sở đó ta chọn dụng cụ đo và tiến hành đo (việc đo khối
lượng gọi đơn giản là cân).
* Ví dụ 2: Cân đo khối lượng của một túi gạo nhỏ(dưới 5 kg) đơn vị ki-lô-
gam, yêu cầu chính xác đến một trăm gam (một lạng) . Ta chọn dụng cụ đo là
Hoàng Xuân Điển – Trường Tiểu học San Thàng - thị xã Lai Châu
chiếc cân đĩa và các quả cân 5 kg, 2kg, 1kg, 500g, 200g, 100g (mỗi loại hai quả
Theo ý kiến nhận xét của một số giáo viên đang trực tiếp giảng dạy thì do
khối lượng bài tập nhiều mà thời gian một tiết học chỉ có hạn (35 phút) nên học
sinh trung bình hoặc sức học chưa được vững không làm hết bài. Những em học
sinh khá, giỏi thì làm bài rất nhanh, thừa thời gian do đó giáo viên thường phải
nghĩ thêm một số bài nâng cao để cho các em luyện thêm.
-Tuy nhiên cũng cần thấy rằng với số lượng và yêu cầu đặt ra cho mỗi bài
toán như vậy cũng tạo cơ hội cho người giáo viên và học sinh có đủ thời gian tổ
chức hoạt động, nhất là hoạt động độc lập của học sinh. Đồng thời tạo cơ hội cho
Hoàng Xuân Điển – Trường Tiểu học San Thàng - thị xã Lai Châu
người giáo viên phát huy khả năng của mình trong dạy học, giáo viên phải đầu tư
suy nghĩ để khai thác nội dung bài dạy ở nhiều khía cạnh khác nhau, đưa ra những
tình huống khác nhau chứ không nên lệ thuộc vào sách giáo khoa.
Tóm lại cả nội dung và phương pháp rèn kỹ năng thực hiện phép tính nhân,
chia ở lớp 3 có những điểm là hợp lý, vừa sức với học sinh, song cũng có những
điểm chưa thật sự hợp lý, kiến thức còn “nhẹ” so với trình độ nhận thức của học
sinh hiện nay; muốn dạy học tốt giáo viên phải hiểu rõ những điểm này và dựa trên
khả năng của học sinh mà xây dựng nội dung, sử dụng phương pháp dạy học sao
cho phù hợp.
Sau một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu thức trạng việc dạy học và học ở
trường Tiểu học, chúng tôi thấy có một vấn đề như sau:
5.1. Về phương pháp dạy của giáo viên
5.1.1.Những ưu điểm:
- Giáo viên nắm vững nội dung và phương pháp dạy học.Bên cạnh đó, nội
dung dạy học phép nhân của sách Toán 3 tương đối đơn giản, trọng tâm nên việc
triển khai nói chung không gặp nhiều khó khăn.Chính vì những lý do trên mà hiện
nay dạy học phép nhân được giáo viên thực hiện tương đối đon giản, nhẹ nhàng và
đạt yêu cầu.
- Mặt khác, trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục
Thành phố Hà Nội rất quan đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học của giáo
viên. Hằng năm, giáo viên được tham gia các lớp tập huấn để nâng cao tay nghề.
khoa và vở bài tập nên học sinh thường làm việc như một cái máy. Bài nào khác
dạng đi một chút là không làm được phải hỏi ý kiến của giáo viên.
6. Về phương pháp học tập của học sinh:
6.1. Những ưu điểm:
Qua điều tra và trực tiếp giảng dạy ở lớp 3, chúng tôi thấy học sinh làm tốt
các bài tập về phép nhân trong sách giáo khoa. Kết quả đạt được là cao, song đối
với các bài toán có yêu cầu nâng cao hơn, các em vẫn lúng túng. Đây là điều dễ
hiểu vì mức độ yêu cầu của các bài toán trong sách giáo khoa khá đơn giản trong
khi thực tế hàng ngày có những bài toán không phải là dễ.
6.2. Những mặt còn tồn tại:
- Bắt nguồn từ phía sách giáo khoa, với nội dung bài tập và mức độ yêu cầu
chưa cao nên việc khắc sâu, củng cố các dạng toán chưa thật hiệu quả, tư duy của
học sinh chưa được chú ý đúng mức. Bởi thế các em sẽ gặp nhiều khó khăn khi gặp
các bài tập nâng cao hoặc những bài Toán diễn ra trong thực tế hàng ngày.
- Bắt nguồn từ phía giáo viên, một số đông chí còn mang nặng dạy học theo
phương pháp cổ truyền nên học sinh tiếp nhận kiến thức giải các bài toán riêng lẻ
mà chưa có phương pháp tổng quát để áp dụng cho các bài toán khác nhau.
Hoàng Xuân Điển – Trường Tiểu học San Thàng - thị xã Lai Châu
Chương III:
Giải pháp áp dụng dạy học tích cực để rèn kỹ năng thực hành phép
nhân cho học sinh lớp 3:
1.Nội dung chủ yếu:
- Các bảng nhân 6, 7, 8, 9
- Bảng nhân tổng hợp: Từ bảng 1-> bảng 10
- Phép nhân ngoài bảng ( tính viết )
+ Nhân số có 2 chữ số với số có 1 chữ số
+ Nhân số có 3 chữ số với số có 1 chữ số
+ Nhân số có 4 chữ số với số có 1 chữ số
+ Nhân số có 5 chữ số với số có 1 chữ số
* Nhân nhẩm
hiệu quả, thích hợp với định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta.
2.Một số phương pháp dạy học tích cực
2.1.Vấn đáp tìm tòi:
- Vấn đáp là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra những câu hỏi để học sinh
trả lời, qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học căn cứ vào tính chất hoạt
động nhận thức, người ta phân biệt ba phương pháp vấn đáp.
- Vấn đáp tái hiện: Giáo viên đặt câu hỏi, học sinh nhớ lại kiến thức đã biết và
trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận. Đây là biện pháp được dùng khi cần
đặt mối liên hệ giữa kiến thức đã học và kiến thức sắp học hoặc khi cần củng cố
kiến thức vừa mới học.
- Vấn đáp giải thích – minh hoạ: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề bài nào
đó.Giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để học
sinh dễ hiểu dễ nhớ. Phương pháp này sẽ hiệu quả hơn khi có sự hỗ trợ của các
phương tiện nghe nhìn.
- Vấn đề tìm tòi: Giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để
hướng dẫn học sinh từng bước phát hiện ra bản chất sự vật, tính quy luật của hiện
tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết.Giáo viên tổ chức sự trao
đổi ý kiến - tranh luận giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò nhằm giải quyết
một vấn đề xác định.Trong vấn đáp tìm tòi, giáo viên giống như người tổ chức sự
tìm tòi , còn học sinh giống như người tự lực tìm kiến thức mới.Vì vậy khi kết thúc
cuộc đàm thoại, học sinh có niềm vui của sự khám phá, trưởng thành thêm một
bước về trình độ tư duy.
2.2.Dạy học đặt và giải quyết vấn đề:
Từ những năm 1960, giáo viên ở nước ta đã làm quen với thuật ngữ phương
pháp nêu vấn đáp, quan tâm tới các tình huống có vấn đề để thu hút học sinh vào
quá trình nhận thức tính tích cực. Cho đến nay đa số giáo viên chưa vận dụng
thành thạo phương pháp này.Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế
thị trường cạnh tranh gay gắt, thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lí các vấn đề nảy
sinh trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành đạt trong cuộc sống, đặc biệt
trong kinh doanh.Vì vậy tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra giải quyết
- Chúng ta đã biết cách tính diện tích hình chữ nhật.Vậy làm thế nào để tính
được diện tích hình vuông?
- Trên cơ sở nhận xét: Hình vuông chính là một hình chữ nhật đặc biệt có các
cạnh bằng nhau. Học sinh có thể tự rút ra quy tắc: Muốn tính diện tích hình vuông
ta lấy cạnh nhân với cạnh.
- Tổ chức hướng dẫn học sinh giải các bài toán có vấn đề:
Giáo viên Học sinh
+ Chọn lọc và đưa ra các bài toán có
vấn đề
+ Giúp hiểu các khái niêm
+ Đưa ra câu hỏi và hướng dẫn học
sinh
+ Khuyến khích các ý tưởng
+ Lắng nghe và quan sát
+ Tìm hiểu nội dung bài toán
+ Nghiên cứu
+Trao đổi và dự toán
+ Suy nghĩ về lời giải và cách giải
quyết
+ Báo cáo và trình bày
+ Khắc sâu và mở rộng hiểu biết
- Trong dạy học đặt và giải quyết vấn đề, thường phân biệt 3 cấp độ:
Hoàng Xuân Điển – Trường Tiểu học San Thàng - thị xã Lai Châu
+ Thuyết minh giải quyết vấn đề. Giáo viên tạo tình huống có vấn đề, học
sinh tự phát hiện và giải quyết vấn đề.
+ Tự nghiên cứu vấn đề: Giáo viên chỉ tạo tình huống có vấn đề, học sinh tự
phát hiện và giải quyết vấn đề.
- Hiện nay, nhiều giáo viên Tiểu học thường áp dụng ở cấp độ thuyết trình
giải quyết vấn đề và chủ yếu tạo tình huống có vấn đề là một bộ phận của tiết học.
3. Dạy học các nội dung có liên quan đến phép nhân:
nhau mà xây dựng được công thức nhân trong bảng.Có thể vận dụng tính chất giao
hoán của phép nhân để không phải xây dựng cả 10 công thức trong mỗi bảng nhân.
Chẳng hạn, ở bảng nhân 6 thì các trường hợp sau đây được coi là đã được học:
Hoàng Xuân Điển – Trường Tiểu học San Thàng - thị xã Lai Châu
6 x 1 = 6 vì 1 x 6 = 6 (ở bảng nhân 1)
6 x 2 = 12 vì 2 x 6 = 6 (ở bảng nhân 2)
6 x 3 = 18 vì 3 x 6 = 6 (ở bảng nhân 3)
6 x 4 = 24 vì 4 x 6 = 6 (ở bảng nhân 4)
6 x 5 = 30 vì 5 x 6 = 6 (ở bảng nhân 5)
- Còn lại các trường hợp 6 x 6 cho đến 6 x 10 là những công thức mới, cần
dựa vào phép cộng 6, 7, 8, 9, 10 số hạng đều là 6 để tìm kết quả mỗi phép nhân.
- Cũng có thể vận dụng tính chất kết hợp của phép cộng mà tiến hành xây
dựng các công thức đó.Chẳng hạn 6 x 6 = ? sau khi đã học 6 x 5 = 30 thì có thể
“cộng thêm” vào 30, khi đó có thể viết 6 x 6 = 6 x 5 + 6 = 36.
- Do đó 6 x 6 = 36. Ý nghĩa của vận dụng tính chất kết hợp của phép cộng là ở
chỗ 6 x 6 = 6 + 6 + 6 + 6 + 6 +6
= 30 + 6 = 36
mà 30 = 6 x 5 nếu có 6 x 6 = 6 x 5 + 6
3.4. Nhân ngoài bảng: Trong chủ đề có các nội dung sau đây:
- Nhân một số với một tổng.Nhân một số với một số.
- Phép nhân có thừa số tròn chục.
- Nhân số có hai chữ số với số có một chữ số.
- Nhân số có một chữ số với số có hai chữ số.
Về nhân số có hai chữ số với số có một chữ số.
+ Cơ Sở lý luận: Nhân một tổng với một số:
34 x 2 = (30 + 4) x 2
= 30 x 2 + 4 x 2
= 60 + 8
= 68
+ Kỹ thuật tính: Nhân từ phải sang trái: