GIẢI PHÁP HỮU ÍCH
RÈN KỸ NĂNG SỬ DỤNG DẤU CÂU THÍCH HP
TRONG PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN CHO HỌC SINH LỚP 4
A/ĐẶT VẤN ĐỀ :
Như chúng ta đã biết, mục tiêu của môn Tiếng việt ở cấp Tiểu học nhằm : Hình
thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt ( đọc, viết, nghe, nói) để
học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.Thông qua việc dạy và
học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy. Cung cấp cho học sinh
những kiến thức sơ giản về Tiếng việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và
con người, về văn hoá, văn học Việt Nam và nước ngoài. Qua đó, bồi dưỡng cho học
sinh tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của
Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghóa.
Một trong những nội dung quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng sử dụng Tiếng
Việt ở bậc Tiểu học là giúp học sinh biết dùng dấu câu một cách phù hợp trong các bài
viết, đặc biệt trong bài Tập làm văn. Dùng dấu câu đúng, phù hợp với nội dung, một
mặt giúp các em thể hiện ý sáng sủa rõ ràng; mặt khác giúp người đọc theo dõi được nội
dung bài văn, câu văn một cách dễ dàng, chính xác. Nhận thức được tầm quan trọng của
dấu câu trong việc thể hiện nội dung của bài viết, nên tôi đặc biệt chú ý đến việc rèn
kỹ năng sử dụng dấu câu cho học sinh. Để thực hiện tốt việc rèn kỹ năng sử dụng dấu
câu cho học sinh có hiệu quả, đòi hỏi giáo viên phải có giải pháp hợp lí. Đó cũng là lí do
tôi chọn giải pháp này.
II/THỰC TRẠNG :
Năm học 2007-2008, tôi được Ban giám hiệu phân công trực tiếp giảng dạy lớp
4B, qua nghiên cứu chương trình, qua thực tế giảng dạy ở nhiều đối tượng học sinh, qua
dự giờ đồng nghiệp cũng như qua sự trao đổi trong sinh hoạt tổ chuyên môn, tôi nhận
thấy rằng việc sử dụng dấu câu trong bài Tập làm văn của học sinh trường tôi nói chung
và học sinh lớp 4B do tôi trực tiếp giảng dạy nói riêng còn có nhiều bất cập. Hiện nay,
trong nhiều bài viết, các em tỏ ra còn lúng túng trong việc sử dụng dấu câu. Bên cạnh
một số bài viết dày đặc những dòng chữ không dùng một dấu câu nào, lại có những bài
mà bước đầu làm chủ ngôn ngữ dạng viết. Vì vậy, trong quá trình dạy Tập đọc nếu
giáo viên rèn cho học sinh khi đọc một tác phẩm văn học không những đọc đúng câu, từ
chính xác mà còn phải đọc đúng giọng, đúng nhòp, ngắt giọng phù hợp khi gặp dấu câu.
Đồng thời chú ý rèn học sinh đọc diễn cảm một bài văn, bài thơ là giúp học sinh xúc
động với những gì đẹp đẽ được tác giả diễn tả qua bài văn bài thơ ấy, giúp học sinh
phát triển về cảm thụ văn học. Bởi lẽ, nếu các em đọc đúng và biết đọc diễn cảm tức là
các em đã biết dùng lời nói kết hợp với chữ viết. Trong quá trình luyện đọc ( đọc thầm ,
đọc thành tiếng, luyện đọc theo nhóm ,…) giáo viên cần chú ý rèn cho học sinh thói
quen phát hiện ra câu hội thoại, câu cảm, câu hỏi, câu cầu khiến, câu kể,… để giúp
cho học sinh có sử dụng đúng dấu câu khi thể hiện dưới dạng văn bản viết.
Chẳng hạn :Khi dạy bài Tập đọc “Một người chính trực ” (Sách Tiếng Việt 4
tập1 )
Trước khi đọc phân vai giáo viên có thể tổ chức cho học sinh thi đua tập phát
hiện ra đoạn văn hội thoại trong bài Tập đọc, phát hiện ra các câu hỏi có trong đoạn
văn hội thoại và cách đọc đoạn văn hội thoại đó. Bằng hệ thống câu hỏi đơn giản . Giáo
viên có thể khéo léo dẫn dắt học sinh tìm ra được đoạn văn hội thoại trong bài văn:
Một hôm, Đỗ Thái Hậu và vua tới thăm ông:
-Nếu chẳng may ông mất thì ai là người sẽ thay ông?
Tô Hiến Thành không do dự, đáp :
-Có gián nghò đại phu Trần Trung Tá.
Thái Hậu ngạc nhiên nói:
-Vũ Tán Đường hết lòng vì ông, sao ông không tiến cử?
Tô Hiến Thành tâu:
2
-Nếu Thái hậu hỏi người hầu hạ giỏi thì thần xin cử Vũ Tán Đường,
còn hỏi người tài ba giúp nước, thần xin cử Trần Trung Tá.
Sau khi học sinh phát hiện ra được đoạn văn hội thoại hoặc câu hỏi, giáo viên nên
có một câu hỏi phụ để kiểm tra lại kiến thức ngữ pháp của học sinh như :
Vừa về tới nhà , Hương đã gọi rối rít
- Mẹ ơi, hôm nay con đạt điểm mười môn Toán mẹ ạ!
Với bài tập này học sinh sẽ đặt dấu hai chấm như sau:
Vừa về tới nhà , Hương đã gọi rối rít :
- Mẹ ơi, hôm nay con đạt điểm mười môn Toán mẹ ạ!
Sau khi học sinh điền xong dấu câu , giáo viên hỏi thêm học sinh :
- Vì sao em lại đặt dấu hai chấm vào vò trí đó?( học sinh phải nhận biết đựơc dấu
hai chấm ở trong trường hợp này để tách biệt lời đối thoại trực tiếp của nhân vật)
Với phân môn Chính tả, cũng đóng góp cho việc rèn kỹ năng sử dụng dấu câu
3
của học sinh một cách hiệu quả. Khi dạy chính tả giáo viên có thể kết hợp rèn kỹ năng
dùng dấu câu cho học sinh thông qua việc hưỡng dẫn cách trình bày bài viết, qua đọc
mẫu, qua đọc kiểm tra lại bài ,…Vì vậy, khi đọc bài giáo viên cần chú ý giọng đọc phù
hợp với câu hỏi, câu cảm,…cũng như cách ngắt nghỉ khi gặp dấu phẩy, dấu chấm.
Với phân môn Kể chuyện, ngoài việc hỗ trợ cho thể loại văn Kể chuyện trong
phân môn Tập làm văn. Để nhằm mục đích rèn kỹ năng sử dụng đúng dấu câu cho học
sinh giáo viên cần tổ chức cho các em được kể chuyện nhiều trong nhóm, trong tổ, kể
chuyện trước lớp. Khi kể thể hiện giọng nói, ngữ điệu, nét mặt cử chỉ phù hợp với ngôn
ngữ trong câu chuyện thông qua hệ thống dấu câu được sử dụng trong câu chuyện.
Chẳng hạn : Khi dạy tiết “Kể chuyện đã nghe, đã đọc”(Sách Tiếng Việt 4 tập 1- Tuần
5)
Đề bài :Kể một câu chuyện mà em đã được nghe, được đọc về tính trung thực .
Khi tổ chức cho học sinh kể chuyện “Ba lưỡi rìu ” theo hình thức phân vai,
ngoài việc cho các em tìm hiểu nội dung câu chuyện, tôi đã khéo léo dẫn dắt học sinh
nhận xét giọng kể của bạn đã phù hợp với từng loại câu như câu kể, câu hỏi trong đoạn
văn hội thoại. Sau khi học sinh kể xong, tôi yêu cầu bạn trong nhóm tìm ra loại câu ( câu
kể, câu hỏi, câu cảm,…)có trong câu chuyện mà bạn mình vừa kể. Nếu học sinh nắm
chắc kiến thức về câu, về dấu câu thì các em mới có thể kể đúng, phù hợp giọng điệu và
2/ Hệ thống lại toàn bộ dấu câu mà các em đã học:
Bắt đầu từ lớp Hai, lớp Ba các em đã được làm quen với dấu chấm, dấu phẩy,
Lên lớp bốn các em đã học hết các dấu câu trong Tiếng Việt ở bậc Tiểu học. Điều
đó, đồng nghóa với việc học sinh lớp Bốn phải biết sử dụng dấu câu chính xác trong
khi nói và viết.
Một việc làm không thể thiếu để rèn cách dùng dấu câu cho học sinh đó là bước
hệ thống hoá dấu câu trong Tiếng việt. Đây là một bước hết sức quan trọng và rất cần
thiết. Bởi, nếu các em nắm chắc kiến thức về dấu câu thì chắc chắn rằng các em sẽ
dùng dấu câu đúng trong khi nói cũng như khi viết.
DẤU CÂU TIẾNG VIỆT
Dấu thường dùng
ở cuối câu
Dấu
chấm
.
Dấu
chấm
hỏi
?
Dấu
chấm
cảm
!
Dấu thường dùng ở
gạch
ngang
-
Dấu
chấm
lửng
…
Để rèn luyện có hiệu quả, giáo viên chú ý hệ thống dấu câu được sử dụng trong
Tiếng việt theo ba nhóm cơ bản :
Nhóm thứ nhất :Dấu thường dùng ở cuối câu
+Dấu chấm: Dấu chấm thường được đặt ở cuối câu kể
-Giới thiệu sự vật, sự việc, hiện tượng hoặc con người;
VD:Lan là một người bạn hàng xóm tốt bụng.
-Miêu tả sự vật, sự việc,hiện tượng hoặc con người ;
VD:Sầu riêng thơm mùi thơm của mít chín quyện với hương bưởi, béo cái béo của
trứng gà, ngọt cái vò ngọt của mật ong già hạn.
-Nhận xét sự vật, sự việc, hiện tượng hoặc con người.
VD: Trong lớp, Hồng là một cây toán xuất sắc.
5
+ Dấu chấm hỏi :
-Đặt cuối câu hỏi bày tỏ những điều chưa biết, chưa rõ muốn được trả lời .
VD:Hải ơi, bạn làm bài xong chưa?
-Đặt cuối câu hỏi dùng với mục đích nhấn mạnh hoặc khẳng đònh.
VD:Bài toán này khó lắm phải không Hương?
-Đặt cuối câu kể ( không có từ dùng để hỏi, chẳng hạn như ai, gì, nào, không,
phải không,….)nhưng dùng với mục đích hỏi.
VD:Con đường dốc dần lên; ánh sáng đã hửng mờ mờ;rồi ánh sáng loé lên .(Xuân
Khánh)
+ Dấu hai chấm : Dấu hai chấm đựơc đặt ở giữa câu để báo hiệu bộ phận đứng sau
-Là lời đối thoại trực tiếp của nhân vật ( thường đựơc dùng phối hợp với dấu
gạch ngang)
VD:Chò Cốc liền quát lớn:
-Mày nói gì?
6
-Lời trích dẫn từ bài nói, bài viết của người khác ( thường đựơc dùng phối hợp với dấu
ngoặc kép)
VD: Chủ Tòch Hồ Chí Minh nói : “Tôi chỉ có một ham muốn , ham muốn tột bậc, là
làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có
cơm ăn , áo mặc, ai cũng được học hành.” Nguyện vọng đó chi phối mọi ý nghó và hành
động trong suốt cuộc đời của Người.
( Theo Trường Chinh)
- Là lời giải thích cho bộ phận đứng trước
VD:Vườn ông em trồng nhiều loại cây:xoài, mít, ổi, cam, chanh.
*Nhóm thứ ba: Dấu có thể dùng ở nhiều vò trí khác nhau
+ Dấu ngoặc đơn:Là loại dấu kép (vì có mở và đóng ngoặc đơn) dùng để tách biệt bộ
phận chú thích( đặt trong ngoặc đơn) với bộ phận được chú thích.Vò trí dấu ngoặc đơn
đặt ở trong câu là phụ thuộc vào vò trí bộ phận chú thích.
VD: Đà Lạt ( tỉnh Lâm đồng) là một thành phố nổi tiếng về các loài hoa.
Tây Bắc là một vùng rộng lớn (chiếm ¼ diện tích miền Bắc ) rất giàu vàđẹp
của nước ta, một hòn ngọc ngày mai của Tổ Quốc.(Phạm Văn Đồng)
+ Dấu ngoặc kép:là loại dấu kép (vì có mở và đóng ngoặckép) .Dấu ngoặc kép có thể
đặt ở nhiều vò trí khác nhau trong câu và dùng để tách biệt:
-Lời nói trực tiếp của nhân vật ( thường có dấu hai chấm đứng trước)
VD:Trước khi đi làm mẹ dặn:”Con ở nhà nhớ học bài chăm chỉ nhé!”
- Một số từ ngữ mượn lại của người khác được đưa vào trong bài viết ( lúc này
không cần đặt dấu hai chấm đứng trước)
-Biểu thò sự im lặng, sự kéo dài hay nghẹn ngào, xúc động không nói thành lời.
VD:Mẹ ơi, con đau…đau…đau quá!
Má xung phong rồi nghen…Tiến lên má…á…á…á.
Việc hệ thống hoá dấu câu giúp học sinh nắm chắc một cách có hệ thống kiến
thức dấu câu, từ đó các em vận dùng đúng, tiến tới dùng haydấu câu trong bài viết của
mình.
3/ Rèn kỹ năng sử dụng dấu câu trong bài Tập làm văn
Công đoạn cuối cùng của việc rèn kỹ năng sử dụng dấu câu trong bài viết của
các em đó là rèn thói quen viết câu đúng, biết kiểm tra lại bài viết của mình dù chỉ là
một câu hay viết một đoạn hoặc cả bài. Tổ chức cho học sinh tham gia vào các hoạt
đôïng rèn kỹ năng bằng nhiều hình thức :Tự kiểm tra, trao đổi nhóm, tập nói trong
nhóm , tập viết câu - đoạn - bài qua sử dụng vở nháp; tổ chức các trò chơi về Tập làm
văn như :sắp xếp câu và điền dấu câu ; xếp đoạn thành bài, nhận diện câu qua dấu
câu, đặt câu kể, câu hỏi…Viết đoạn văn ngắn có sử dụng câu hỏi, câu kể, câu cảm, câu
cầu khiến…
Khi dạy Tập làm văn giáo viên cần phối hợp nhiều phương pháp như :phương
pháp chương trình hoá ( sắp xếp nội dung học tập theo một hệ thống kèm những chỉ
dẫn cần thiết để vạch ra cho học sinh con đường và khả năng tự lực nắm nội dung,
kiến thức ) phương pháp thực hành giao tiếp, phương pháp học theo nhóm và cá nhân
tự học,…
Nếu như trong sản xuất, bao giờ cũng có bước ( khâu, công đoạn) kiểm tra sản
phẩm. Thì có thể coi bài viết của các em là một loại sản phẩm cần được kiểm tra sau
khi hoàn thành. Khi cho học sinh kiểm tra, giáo viên cần đưa ra các tiêu chí cụ thể để
học sinh dựa vào đó để dễ dàng kiểm tra. Nếu giáo viên chỉ hô lý thuyết suông : “Các
em hãy kiểm tra lại bài trước khi nộp”thì có thể có em sẽ đọc lại nhưng có những em
sẽ không đọc lại . Đặc biệt là những học sinh yếu . Nhưng nếu giáo viên đưa ra tiêu
chí cụ thể thì chắc chắn số em tự kiểm tra bài làm của mình nhiều hơn. Sau mỗi tiết
Tập làm văn giáo viên cần giành khoảng 5 phút để các em kiểm tra bài làm của mình.
luôn tiến bộ ”.
III/ NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯC:
Sau một thời gian áp dụng giải pháp trên đây, tôi nhận thấy rằng bài viết của
học sinh lớp tôi đã có sự tiến bộ rõ rệt. Việc dùng sai dấu câu tràn lan như trước đây
đã có phần nào hạn chế. Bước đầu các em đã nói và viết chuẩn xác hơn. Kết quả cụ
thể sau khi thống kê như sau:
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
Bài
Thế nào là kể chuyện
Nhân vật trong truyện
Tả ngoại hình nhân vật trong bài văn kể chuyện
Viết thư
Luyện tập xây dựng cốt truyện
Luyện tập phát triển câu chuyện
Luyện tập miêu tả đồ vật
Luyện tập miêu tả đồ vật
43,9
36,6
29,3
9
Nếu giáo viên có những giải pháp phù hợp, cộng với sự nhiệt tình, năng động
chắc chắn rằng sẽ giúp học sinh khắc phục đựơc những lỗi sai về dấu câu trong quá trình
nói và viết .Đặc biệt là trong bài tập làm văn của các em .
Trên đây là một số giải pháp “Rèn kỹ năng sử dụng dấu câu thích hợp trong phân
môn Tập làm văn” mà tôi đã nghiên cứu và áp dụng vào việc giảng dạy cho học sinh
lớp 4 bước đầu có một kết quả nhất đònh.Với mong ước góp phần nhỏ nâng cao việc dạy
học Tiếng Việt, tôi mạnh dạn đưa ra để trao đổi với bạn bè, đồng nghiệp. Qua đây, tôi
mong đựơc sự góp ý của Ban giám hiệu nhà trường và đồng nghiệp để đề tài được hoàn
thiện hơn, đạt hiệu quả cao hơn, góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp giáo dục của
nhà trường và của cả xã hội.
DUYỆT CỦA BGH NHÀ TRƯỜNG
Liên Nghóa, ngày 15/12/2010
Người viết
Bùi Thò Phượng
10
KUYỆN NHẬN XÉT VĂN NGƯỜI SUỦ¨ LẠI VĂN MÌNH.
Chẳng hạn , với bài tập:
Chẳng hạn nếu có điều kiện giáp viên đưa thêm dạng bài tập:
*Em đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong mỗi câu dưới đây?
a)Hàng năm cứ vào những ngày giáp tết lúc tiết trời ấm áp cây hoa mai nhà em
lại trổ bông vàng tươi.( Dấu phẩy tách phần trạng ngữ với nòng cốt câu)
b)Đan – tê một nhà thơ lớn của nước I-ta-li-a là một người ham đọc sách.( Dấu
phẩy tách phần chú thích với thành phần khác)
c) Đà Lạt, Sa Pa là những nơi nghỉ mát nổi tiếng. (dấu phẩy ngăn cách thành
phần cấu tạo ngữ pháp đẳng lập)
d) Thưa cô, em đã làm bài xong.( dấu phẩy tách biệt phần hô ngữ)
Để giúp học sinh làm những bài tập này , giáo viên có thể làm mẫu hoặc hưỡng
dẫn học sinh làm mẫu một phần .Ví dụ khi làm mẫu câu a ở bài tập trên, giáo viên có
thể đọc câu đó lên thể hiện rõ chỗ nghỉ hơi sau trạng ngữ và các thành phần cùng loại
sau đó yêu cầu học sinh đọc lại rồi nói :Trong câu “Hàng năm cứ vào những ngày giáp
tết lúc tiết trời ấm áp cây hoa mai nhà em lại trổ bông vàng tươi.”chúng ta cần dùng dấu
phẩy để tách phần trạng ngữ (Hàng năm cứ vào những ngày giáp tết lúc tiết trời ấm
áp, ) với thành phần chính của câu (cây hoa mai nhà em lại trổ bông vàng tươi).Vì trong
câu này có nhiều trạng ngữ nên ta dùng dấu phẩy tách các trạng ngữ đó với nhau (Hàng
năm, cứ vào những ngày giáp tết, lúc tiết trời ấm áp ). Khi đọc , ta nghỉ hơi nhẹ sau dấu
phẩy.
Hàng năm, cứ vào những ngày giáp tết, lúc tiết trời ấm áp, cây hoa mai nhà em
lại trổ bông vàng tươi.
Những câu còn lại các em đễ dàng vận dụng cách phân tích của cô
Tôi lấy một ví dụ cụ thể về lỗi sai dấu câu của một học sinh lớp tôi khi các em học
tiết Tập làm văn ở bài đầu tiên, như sau:
Đề bài: Trên đường đi học về , em gặp một phụ nữ vừa bế con vừa mang nhiều đồ đạc.
Em đã giúp cô ấy xách đồ đi một quãng đường. Hãy kể lại câu chuyện đó.
Bài làm của học sinh như sau:
Hôm nay em đi học về , muộn mẹ hỏi vì sao con về muộn em kể cho mẹ nghe một câu
Sân nhà sao sạch quá
Đàn lợn đã được ăn
Cơm nước nấu tinh tươm
Vườn rau tươi sạch cỏ.
( Phan Thò Thanh Nhàn)
Để giúp học sinh làm bài tập này , giáo viên có thể làm mẫu hoặc hưỡng dẫn học
sinh làm mẫu một phần . Ví dụ,khi làm mẫu câu a bài tập trên, giáo viên có thể đọc câu
đó lên (thể hiện rõ chỗ nghỉ hơi sau dấu hai chấm ) rồi nói:
Trong câu văn Chủ Tòch Hồ Chí Minh nói : “Tôi chỉ có một ham muốn, ham
muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do,
đồng bào ai cũng có cơm ăn , áo mặc, ai cũng được học hành.” Nguyện vọng đó chi phối
mọi ý nghó và hành động trong suốt cuộc đời của Người. Dấu hai chấm đã báo hiệu cho
chúng ta biết phần sau là lời nói của nhân vật.Trong trường hợp này, lời nói được đặt
trong dấu ngoặc kép ( khi trích dẫn lời nói của chủ thể phát ngôn).
Các bài tập còn lại học sinh có thể dựa vào các phân tích mẫu của cô để các em
làm bài .