Nâng cao chất lượng dạy môn Tiếng Việt và rèn kỹ năng đọc đúng – đọc tốt cho học sinh lớp 1
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY MÔN TIẾNG VIỆT VÀ RÈN KỸ NĂNG ĐỌC
ĐÚNG - ĐỌC TỐT CHO HỌC SINH LỚP 1.
A. PHẦN MỞ ĐẦU .
I. Lý do chọn đề tài :
Với su thế phát triển giáo dục và đào tạo thế hệ tương lai trên toàn thế giới. Do vậy
phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo trong những thập kỷ qua được Đảng luôn ta coi
trọng. Trong bối cảnh của công cuộc đổi mới đất nước, những biến đổi sâu sắc lớn lao
của nền kinh tế cũng như chính trị, văn húa xã hội trong nước cũng như trên toàn thế
giới. Phải đổi mới trên mọi lĩnh vực giáo dục và đào tạo sự ghiệp "trồng người" trên các
mặt: Quan điểm mục tiêu, chủ trương, biện pháp theo hướng nâng cao chất lượng và
hiệu quả thiết thực. Bởi vậy Đảng và Nhà nước ta đã nêu cao vai trò: Giáo dục đào tạo là
quốc sách hàng đầu; bậc tiểu học là nền tảng . Cho nên mục tiêu của giáo dục tiểu học
cũng đã nhấn mạnh: "hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu cho sự nghiệp phát
triển đúng đắn và lâu dài về tình cảm, trí tuệ, thể chất và các kỹ năng cơ bản ban đầu để
học tiếp các lớp tiếp theo hoặc đi vào cuộc sống lao động vững vàng hơn.
Theo hướng đổi mới phương pháp và nội dung dạy học của học sinh tiểu học với
mục tiêu giáo dục toàn diện. Bởi thế các em được học tất cả 9 môn học và các môn tự
chọn như tin học, tiếng nước ngài, kinh tế gia đình Trong tất cả các môn học đó thì
Tiếng Việt là bộ môn công cụ trong đó phân môn Tập đọc đóng vai trò hết sức quan
trong. Nhất là đối vơí lớp 1, là lớp đầu cấp và là nền móng của chương trình Tiếng Việt
tiểu học nói riêng, hiểu biết về các môn học khác nói chung. Bởi vì kỹ năng đọc mỗi khi
được hình thành và định hình ở các em nó sẽ theo suốt cuộc
đời của các em không những thế mà để các em phát triển về tư duy, cảm nhận cái hay, cái
đẹp chính là nhờ sự cảm hóa và diển cảm về nội dung của một bài
văn, bài thơ yêu cầu chúng ta trong khi dạy phải hết sức thận trọng, chuẩn xác mang tính
khoa học của nó. Nhờ rèn kỹ năng đọc các em có điều kiện tiến lên nắm được kho tàng tri
thức văn hóa của loài người, tàng trữ được kiến thức sách vở. Đối với học sinh như lớp 1
biết đọc các em có điều kiện học các môn học khác có trong chương trình. Để làm được
điều đó người giáo viên điều đầu tiên phải nắm được tâm lý của học sinh, các nhà tâm lý
học đều cho rằng: Về mặt tâm lý học sinh tiểu học có những đặc điểm sau "Mỗi học sinh là
giọng chưa hợp lý đặc biệt khi đọc thơ, ngắt nhịp thơ, câu văn dài, câu hỏi rất lúng túng,
ngắt thiếu chính xác. Vì thế khi đọc các em khó có thể thể hiện được tư tưởng, tình cảm
nội dung của bài thơ, bài văn của tác giả và sự đồng cảm của chính mình.
Trong quá trình nghiên cứu tuần 25 các em học phân môn tập đọc, tôi khảo sát lần 1.
GV: Nguyễn Thị Bích Phương – Trường TH Lê Văn Tám - 2 -
Nâng cao chất lượng dạy môn Tiếng Việt và rèn kỹ năng đọc đúng – đọc tốt cho học sinh lớp 1
TS học
sinh lớp
Thời gian
KS
Đọc tốt Đọc khá Đọc TB Đọc yếu
SL TL SL TL SL TL SL TL
20 Tuần 25 3 15% 5 25% 7 35% 5 25%
II. Các giải pháp thực hiện:
- Trong quá trình thực hiện tôi sẽ tìm hiểu phần đọc để đưa ra phương pháp phù hợp.
- Hiểu và nắm chắc phương pháp đổi mới của phân môn.
- Tìm hiểu tình hình giảng dạy của đồng nghiệp .
- Tìm hiểu bài văn, bài thơ … có trong chương trình lớp 1.
- Thường xuyên kiểm tra phân loại đối tượng học sinh.
III. Các biện pháp thực hiện.
1. Rèn kỹ năng đọc: Cần chú ý 2 hình thức đó là đọc thành tiếng và đọc thầm.
a. Đọc thành tiếng là phát âm ra âm thanh, khi đọc cần phải phối hợp với các hoạt động
tri giác và thính giác: miệng đọc, mắt nhìn, tai nghe,
Cho các em cảm nhận cái hay cái đẹp của ngôn ngữ văn học, hình tượng văn học qua
mỗi bài học. Dạy cho cá em hướng tới cái đẹp của ngôn ngữ, của hình tượng nghệ thuật,
hành vi đẹp của các nhân vật và tác giả, giúp cho học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của tác
phẩm, dung cảm với tác phẩm để có thể nhập vai và đọc hay hơn, dễ khắc sâu kiến thức
hơn.
b.Phát triển tư duy.
- Mỗi bài văn, bài thơ, giúp các em nhận thức thêm một mảng nhỏ của cuộc sống.
Có làm như thế thì khi giáo viên luyện đọc cho học sinh đọc đúng thanh điệu và phụ
âm đầu dễ lẫn, chứ không mang tính giàn trải.
+ Nguyên nhân của việc đọc sai là: ảnh hưởng cuả việc phát âm tiếng địa phương không
chuẩn, do các em không hiểu nghĩa của từ đang đọc, sự cảm thụ văn chương của các em còn
hạn chế, do các em chưa phát huy tính tự giác luyện đọc ở nhà.
b. Khảo sát ngắt giọng khi đọc văn xuôi: Đối tượng khảo sát là cả lớp. Tên bài khảo sát:
Mưu chú sẻ, Vì bây giờ mẹ mới về, Hồ Gươm
Tiêu chí khảo sát:
- Ngắt giọng sau dấu chấm là nghỉ dài, hạ thấp giọng.
- Ngắt giọng sau dấu phẩy: nghỉ hơi ngắn.
- Ngắt giọng sau dấu hỏi : cao giọng.
- Ngắt giọng ở câu dài không có dấu phẩy: Nghỉ ngắn hơn so với dấu phẩy.
- Nhịp điệu nhanh hay chậm tùy thuộc vào yêu cầu của bài
- Căn cứ vào tiêu chí trên khảo sát kết quả cho thấy:
Ngắt giọng sai sau dấu phẩy :3em chiếm 15%
Ngắt giọng sau dấu chấm: 4 em chiếm 20%
Ngắt giọng sai sau dấu hỏi : 2 em chiếm 10%
GV: Nguyễn Thị Bích Phương – Trường TH Lê Văn Tám - 4 -
Nâng cao chất lượng dạy môn Tiếng Việt và rèn kỹ năng đọc đúng – đọc tốt cho học sinh lớp 1
Ngắt giọng sai sau câu dài không có dấu phẩy: 4em chiếm 20% .
Tóm lại: Ngắt giọng khi đọc bài văn được quy định bởi các yếu tố ngữ pháp: từ đoạn, câu,
nên khi đọc phải ngắt nghỉ sau dấu chấm (.) dấu (,) dấu (’) để bài văn được thể hiện mạch
lạc rõ ràng, dễ hiểu. Vì vậy khi dạy giáo viên chú ý luyện đọc nhiều ở ngắt giọng câu dài,
nhịp điệu của bài. để các em ngắt nhịp đúng khi đọc văn, thơ. Diễn tả được tình cảm của
từng đoạn văn, bài văn (vui, buồn, tức giận hay phấn khởi ) thay đổi được giọng đọc, ngữ
điệu hoặc nhập vai theo từng tính cách của nhân vật trong bài. Đọc chính là điểm cơ bản của
phương pháp rèn kỹ năng đọc đạt hiệu quả.
a. Khảo sát ngắt nhịp và ngắt giọng cuối mỗi dòng thơ.
b. Khảo sát qua các lần đọc.
c. Tên bài: Mẹ và cô, Ngôi nhà, Cái Bống
Tóm lại: Muốn rèn luyện kỹ năng đọc giáo viên xác định và ví mình như một người
thầy thuốc, có tài chẩn đoán đúng bệnh của bệnh nhân thì chữa trị mới có hiệu quả, phải
nắm được mặt mạnh, mặt yếu của bệnh nhân. Phát huy mặt mạnh và có biện pháp tích cực
phù hợp giúp các em kịp thời sửa chữa điểm yếu, thì chắc chắn các em sẽ tiến bộ hơn hơn
rút ngắn thời gian mà chất lượng cao hơn.
4. Nghiên cứu và thiết kế mỗi tiết dạy trẻ khi lên lớp
Trước khi nghe để thiết kế bài dạy, tôi luôn tự đạt câu hỏi: Tiết một làm gì? Tiết hai
dạy như thế nào? Nhiệm vụ cụ thể của mỗi tiết như sau:
* Tiết 1:
1) Kiểm tra bài cũ: - Đọc bài tập đọc vừa học ở bài kế trước.
- Nhận diện một số vần khó vừa học trong một số từ ngữ mới do giáo viên đưa ra. Trả lời
câu hỏi về nội dung của bài học kế trước.
2) Dạy bài mới:
Hoạt động 1: giới thiệu bài.
GV: Có thể lựa chọn để giới thiệu bài theo những cách sau:
- Sử dụng tranh minh họa cho học sinh quan sát, phát biểu để dẫn vào bài mới.
- Giới thiệu nội dung chính của bài.
- Nhắc lại những nội dung dúng chính của bài cũ rồi dẫn vào bài mới (giới thiệu bắc cầu).
Hoạt động 2: Hướng dẫn luyện đọc.
- Giáo viên đọc mẫu- hướng dẫn đọc .
- Đọc tiếng từ ngữ khó, kết hợp giải nghĩa từ một cách đơn giản chủ yếu giải nghĩa qua trực
quan .
- Đọc câu (tiếp nối)
- Đọc đoạn, bài. Chú ý ngắt nghỉ hơi ở dấu chấm, dấu phẩy.
GV: Nguyễn Thị Bích Phương – Trường TH Lê Văn Tám - 6 -
Nâng cao chất lượng dạy môn Tiếng Việt và rèn kỹ năng đọc đúng – đọc tốt cho học sinh lớp 1
Mục tiêu của phần luyện đọc lớp 1 là đọc thành tiếng để củng cố các âm vần mới
học; tiến tới đọc trơn nhanh, lưu loát, bước đầu luyện đọc hiểu. Để giúp học sinh đọc lưu
loát toàn bài, phần hướng dẫn luyện đọc đi từ dễ đên khó.
Bước 1: Luyện đọc tiếng, từ chú ý luyện đọc tiếng từ khó đọc.
- (Giữa các tiết học giáo viên nên tổ chức trò chơi để giúp các em thư giản tinh thần, tiếp
thu bài được tốt hơn)
5. Phương pháp đàm thoại:
Đàm thoại là một trong những biện pháp quan trọng nhất của người giáo viên dạy
văn. Nó có vẻ nhẹ nhàng hơn vì đã có sẵn câu hỏi trong sách giáo khoa. Tuy vậy song giáo
viên không thể chỉ hạn chế vào những câu hỏi có sẵn mà cần
tìm tòi thêm hoặc biến tấu, mổ xẻ câu hỏi khó hoặc gợi mở để giúp hiểu yêu cầu của câu hỏi
và nhằm phát triển tư duy cho các em.
Đàm thoại là hệ thống câu hỏi và trả lời, những tính chất và đặc trưng của việc sử
dụng biện pháp này rất khác nhau. Nó tùy thuộc vào từng giai đoạn trong tiến trình công
việc của người giáo viên.
6. Phương pháp trực quan và trò chơi:
a. Trực quan:
Việc sử dụng các phương tiện trực quan như tranh, ảnh, vật thật, bảng
Là phương tiện kỹ thuật, tạo điều kiện xây dựng ở học sinh những biểu tượng cụ thể. kích
thích duy trì sự chú ý và duy trì sự hứng thú đối với bài học, giúp các em lĩnh hội bài một
cách có ý thức. Có thể sử dụng phương tiện trực quan nhằm mục đích minh họa, cụ thể hóa
lời trình bày của giáo viên và là nguồn cung cấp tri thức mới.
b.Cách tiến hành:
- Lựa chọn một cách thích hợp các phương tiện sao cho phù hợp với mục đích và nhiệm vụ
dạy học của bài học đề ra: xem trong trường hợp nào thì dùng vật thật, các vật tượng trưng
hoặc các vật tạo hình; trong trường hợp nào thì dùng chúng hỗn hợp với nhau; lúc nào thì
dùng các vật ở trạng thái động; lúc nào thì ở trạng thái tĩnh cần chuẩn bị chu đáo về số
lượng và kiểm tra lại tình trạng của chúng.
- Giải thích mục đích trình bày trực quan, trình bày thạo một trình tự nhất định tùy theo yêu
cầu của bài giảng. dùng đến đâu ra đến đó, sử dụng song thì cất ngay nhằm tránh sự phân
tán của học sinh.
- Các phương tiện trực quan có thể sử dụng suốt giờ học tùy theo mục đích của bài. Nếu sử
dụng đầu giờ nhằm mục đích giới thiệu bài, sử dụng trong giờ nhằm mục đích minh họa
bài, sử dụng cuối giờ nhằm mục đích củng cố bài.
+ Nếu sử dụng không đúng lúc, đúng mức, đúng chỗ, các phương tiện trực quan dễ làm học
sinh phân tán chú ý, không tập trung vào dấu hiệu cơ bản của nội dung bài học.
+ Mất nhiều thời gian cho việc chuẩn bị cũng như bài giảng trên lớp .
+ Hạn chế việc phát triển tư duy trừu tượng.
GV: Nguyễn Thị Bích Phương – Trường TH Lê Văn Tám - 9 -
Nâng cao chất lượng dạy môn Tiếng Việt và rèn kỹ năng đọc đúng – đọc tốt cho học sinh lớp 1
Như vậy theo tôi dạy trực quan là rất cần thiết ở bậc tiểu học, nó mang lại hiệu quả cao
trong giảng dạy. Nếu người giáo viên có bản lĩnh sư phạm, biết khéo léo sử dụng các
phương tiện trực quan điều đó có nghĩa là phải chỉ ra cách thức, con đường cho các em quan
sát các phương tiện trực quan, mà như vậy chính là phương pháp dạy học. Một Phương
pháp dạy học có thể kết hợp với nhiều phương pháp dạy học khác nhằm đạt được kết quả
cao hơn.
c.Trò chơi trong xu hướng phát triển của giáo dục hiện đại, người ta nghiên cứu sử dụng trò
chơi để giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng kỹ xảo và kỹ năng hoạt động sáng tạo điển
hình. Trò chơi trong học tập có nhiều loại.
+ Trò chơi sắm vai, trò chơi trí tuệ
Được dùng thông qua các môn học. Tùy theo nội dung bài học và đặc điểm lứa tuổi các
em mà sử dụng khai thác loại trò chơi với ý nghĩa học tập tối đa.
* Cách thực hiện :
+ Giáo viên nêu tên trò chơi
+giáo viên hướng dẫn cách chơi (phổ biến luật chơi)
+ Học sinh thực hiện
+ Giáo viên nhận xét đánh giá
* Một số trò chơi áp dụng vào tất cả các bài văn bài thơ
Trò chơi kết bạn, trò chơi điểm binh đưa trò chơi vào từng bài học giúp cho các em
khắc sâu những vần, những từ ngữ khó, nhớ tên nhân vật, sự vật trong từng nội dung bài
học. Qua trò chơi mà học sinh phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo trong học tập
một cách tự nhiên và gây hứng thú học tập cho các em.
Ví dụ: trò chơi "Ghép từ"
+ Giáo viên cho từ cố định, ghép các từ khác. Dấu thanh cố định.
C. KẾT LUẬN
I. Kết quả nghiên cứu:
Trong quá trình giảng dạy áp dụng một số biện pháp rèn kỹ năng đọc đúng- đọc tốt
cho học sinh lớp 1 cụ thể đạt kết quả
TS học
sinh lớp
Thời gian
KS
Đọc tốt Đọc khá Đọc TB Đọc yếu
SL TL SL TL SL TL SL TL
20 Tuần 35 8 40% 7 35% 5 25% 0 0%
II. Bài học kinh nghiệm:
Rèn kỹ năng đọc là một nghệ thuật có tính độc đáo như âm nhạc và hội họa. Cần chú
ý việc sử dụng hình thức rèn kỹ năng đọc vì trong quá trình nghiên cứu ngôn ngữ hay văn
học có thể được coi là một biện pháp tùy theo yêu cầu của một bài cụ thể.
Chẳng hạn: Nếu trong khi giảng giải một câu có các thành phần cùng loại là chứng
minh ngữ điệu kể, giáo viên đọc diễn cảm câu văn đó thì được coi là một biện pháp. Nhưng
GV: Nguyễn Thị Bích Phương – Trường TH Lê Văn Tám - 11 -
Nâng cao chất lượng dạy môn Tiếng Việt và rèn kỹ năng đọc đúng – đọc tốt cho học sinh lớp 1
khi tiến hành phân tích một tác phẩm. Nhằm mục đích đọc được tác phẩm và hiểu nội dung
tác phẩm. Thì đọc rèn kỹ năng đọc được coi là một phương pháp. Rèn kỹ năng đọc cho học
sinh là: Đọc đúng ngữ điệu, dấu câu (dấu chấm phẩy, dấu chấm cảm) đọc nhấn mạnh vào
các từ quan trọng để làm nổi bật ý nghĩa của câu; ngắt nhịp đúng khi đọc văn, đọc thơ, miêu
tả đúng tình cảm của
từng đoạn văn và thay đổi giọng đọc, ngữ điệu khi đọc lời đối thoại theo từng tính
cách của từng nhân vật.
- Rèn kỹ năng đọc cho học sinh chính là đọc đúng về mặt văn chương, là nghệ thuật
thể hiện một cách hợp lý mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan trong phản ánh của tác
giả. Sự thể hiện phù hợp giữa chủ quan của người đọc và chủ quan của tác giả sẽ truyền
được tiếng nói tâm tình của tác giả đến người nghe.
được cái hay, cái đẹp của văn thơ, đồng thời phải thật sự có hứng thú với bài giảng.
Áp dụng các phương pháp trên qua thực tế rèn luyện cho học sinh, tôi thấy có hiệu quả.
III. Kiến nghị:
Là một giáo viên trực tiếp dạy lớp 1 bản thân tôi mạnh dạn nghiên cứu về vấn đề
này. Qua đó tôi có một số đề xuất với ban giám hiệu nhà trưởng như sau:
+ Đầu tư thêm trang thiết bị phục vụ cho môn Tiếng Việt đạt được kết quả cao hơn.
+ Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của hội đồng khoa học để bản thân tôi thấy
những mặt đạt được và những mặt chưa đạt được của việc rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nghĩa Thắng, ngày 12 tháng 05 năm 2009
Người viết
Nguyễn Thị Bích Phương
GV: Nguyễn Thị Bích Phương – Trường TH Lê Văn Tám - 13 -
Nâng cao chất lượng dạy môn Tiếng Việt và rèn kỹ năng đọc đúng – đọc tốt cho học sinh lớp 1
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC GIÁO DỤC
Cấp cơ sở:
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………
Nghĩa Thắng , ngày tháng năm 2009
HIỆU TRƯỞNG
Cấp huyện (tỉnh)
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………