1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
______________
Trịnh Văn Thuận
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT CHO
HỌC SINH LỚP 1 DÂN TỘC S’TIÊNGỞ HUYỆN BÙ ĐĂNG,
TỈNH BÌNH PHƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Nghệ An, 2014
2
LỜI CẢM ƠN!
***
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
quý Thầy cô trong BGH trường Đại học Vinh, quý Thầy cô giáo Khoa
sau Đại học và quý Thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập và viết luận văn.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô giáo TS. Chu
Thị Hà Thanh - người đã hết sức tận tình, động viên khích lệ và trực
tiếp hướng dẫn khoa học, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
để hoàn thiện luận văn này.
Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn tới lãnh đạo, chuyên viên
PGD&ĐT huyện, quý thầy cô giáo là Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng
cùng các giáo viên đang trực tiếp giảng dạy ở các trường tiểu học
trong địa bàn huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, đồng cảm ơn tới gia
đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ, động
viên tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện luận văn.
Mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng, nhưng luận văn không thể
tránh khỏi những khiếm khuyết. Tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn,
góp ý và giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
học sinh lớp 1 dân tộc S’tiêng ở huyện Bù Đăng………….….………37
2.4. Nguyên nhân của thực trạng… ………………… ……… ….… 59
*Tiểu kết chương 2 63
4
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG
TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 1 DÂN TỘC S’TIÊNG
TRONGCÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH
PHƯỚC……………………………………………………………… 66
3.1. Các nguyên tác đề xuất biện pháp…………… ……………….…… 66
3.2. Một số biện pháp phát rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho học
sinh lớp 1 dân tộc S’tiêng, huyện Bù
Đăng…………………………………67
3.3.Thăm dò về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất ….…105
*Tiểu kết chương 3 108
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……….…………………… ……………110
1. Kết luận 110
2. Kiến nghị………………………………………………………… ….111
BẢNG DANH MỤC KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
5
BGH Ban giám hiệu
CBGV Cán bộ giáo viên
CBQL Cán bộ quản lí
CSVC Cơ sở vật chất
DTTS Dân tộc thiểu số
ĐDDH Đồ dùng dạy học
ĐDTQ Đồ dùng trực quan
GVTH Giáo viên tiểu học
HĐNGLL Hoạt động ngoài giờ lên lớp
HS Học sinh
KN Kĩ năng
của tình trạng này.
Trong những năm học vừa qua, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước cũng đã
có những giải pháp tăng cường thời lượng trong tiết tiếng Việt trong quá trình
dạy học cho trẻ, hay thực hiện chương trình 60 bài Tiếng Việt dành cho học sinh
dân tộc thiểu số chưa qua mẫu giáo, nhưng kết quả cũng không được cải thiện là
bao. Đó là chất lượng học tập của học sinh dân tộc S’tiêng ở Bù Đăng còn thấp
so với mặt bằng kiến thức chung của cấp học phổ thông về kiến thức môn Tiếng
Việt cũng như một số môn học khác. Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu về
việc rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số chưa
nhiều, tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy còn thiếu, giáo viên còn lúng
túng trong công tác giảng dạy. Để nâng cao chất lượng việc dạy học cho học
sinh dân tộc S’tiêng cần phải có một số biện pháp đảm bảo tính khoa học, phù
hợp với tâm, sinh lí của trẻ em vùng dân tộc này. Vì vậy, tôi mạnh dạn nghiên
cứu đề tài “Rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh lớp 1 dân tộc
S’tiêng ở huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho học
sinh lớp1 dân tộc S’tiêng góp phần nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt ở
tiểu học.
3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
7
3.1. Khách thể nghiên cứu
- Quá trình rèn luyện kĩ năng tiếng Việt học sinh lớp 1 dân tộc S’tiêng
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh lớp 1 dân tộc S’tiêng.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chỉ khảo sát thực trạng và thử nghiệm kết quả nghiên cứu trên đối
tượng là học sinh lớp 1 dân tộc S’tiêng ở địa bàn huyện Bù Đăng, tỉnh Bình
Phước.
4. Giả thuyết khoa học
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng rèn luyện kĩ năng sử tiếng Việt cho học sinh lớp 1
dân tộc S’tiêng ở các trường Tiểu học trong huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước
Chương 3: Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho học
sinh lớp 1 dân tộc S’tiêng ở các trường Tiểu học trong huyện Bù Đăng, tỉnh
Bình Phước
9
10
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu về PPDH TV cho HSTH
Tiếng Việt có vị trí đặc biệt quan trọng, nó là tiền đề cho tất cả các môn
học khác. Các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết trong chương trình Tiếng Việt lớp 1 là
những cầu nối cho các em hiểu biết và nắm bắt tri thức khoa học trong chương
trình cũng như các lĩnh vực cuộc sống. Lớp 1 là lớp đầu tiên của bậc Tiểu học,
nó là nền móng cho sự phát triển của trẻ, nền móng ấy được xây dựng trên cơ sở
việc thực hiện đáp ứng nhu cầu của chương trình. Có thể nói Chương trình
Tiếng Việt bậc Tiểu học nói chung, ở lớp 1 nói riêng là chiếc chìa khóa đầu tiên
giúp các em đi vào thế giới tri thức. Vì vậy, nội dung, phương pháp và hình thức
tổ chức dạy học là một vấn đề được quan tâm hàng đầu.
Về PPDH Tiếng Việt, đã có nhiều tác giả nghiên cứu như: Đặng Thị Lanh,
Hoàng Cao Cường, Trần Thị Minh Phương, Lê Thị Tuyết Mai, Nguyễn Thị
Hạnh, Hoàng Hòa Bình…Tuy nhiên, những nghiên cứu này phần lớn chỉ mang
tính lí luận chung về phương pháp dạy học Tiếng Việt 1. Bên cạnh đó, cũng có
nhiều nghiên cứu đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau về phương pháp dạy học
Tiếng Việt lớp 1.
- Tài liệu “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học” (tập 1, 2 của tác
Vấn đề rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh tiểu học đã được
nhiều nhà nghiên cứu sư phạm quan tâm. Mỗi tác giả, mỗi bài viết đề cập tới
những khía cạnh khác nhau của quá trình dạy học tiếng Việt ở tiểu học. Các kết
quả nghiên cứu được thể hiện qua các bài báo trên các Tạp chí và tập trung lại
cuốn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học” qua từng thời kì. Các tác giả
đã đề cập những vấn đề chung về dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, đã đưa ra
12
những PPDH ở từng phân môn Tiếng Việt và cũng đã xây dựng được hệ thống
bài tập nhằm phát huy khả năng sử dụng ngôn ngữ và phát triển tư duy cho học
sinh.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho
học sinh tiểu học dân tộc thiểu số
- Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Mỗi dân tộc lại có một tài sản văn
hoá vật chất và tinh thần phong phú riêng đã tạo nên những nền văn hoá vừa đa
dạng, vừa đậm đà bản sắc. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà sự
phát triển về kinh tế, văn hoá, giáo dục…đã tạo ra những khoảng cách rất khác
nhau, trong đó có sự khác biệt lớn về trình độ dân trí, đặc biệt là dân tộc bản địa
- S’tiêng ở tỉnh Bình Phước so với các dân tộc anh em khác. Chính vì vậy, việc
nâng cao chất lượng giáo dục ở miền núi, ở vùng có nhiều dân tộc thiểu số là
điều mà Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm từ rất sớm.
- Sự quan tâm đó được thể hiện cụ thể ở chỉ thị 84/CT ngày 03/9/1962 của
BCH Trung ương, chỉ thị 20 TTg-Vg của thủ tướng chính phủ ngày 10/3/1969
và năm tổ chức các hội nghị chuyên bàn về phất triển giáo dục vùng cao vào các
năm 1958; 1960; 1964; 1973; 1983…đã đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục nói chung, miền núi nói riêng, trong đó đặc biệt quan tâm
đến chất lượng dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 vùng có nhiều con em dân
tộc thiểu số.
- Công tác biên soạn sách giáo khoa, chương trình, các phần mềm hỗ trợ
cho việc dạy học vùng cao nói chung và dạy học cho học sinh dân tộc nói riêng
cũng đã mang lại hiệu quả đáng ghi nhận.
Theo quan niệm của các nhà tâm lí học hiện đại, trong quá trình dạy học,
giáo viên thường truyền đạt tri thức cho học sinh. Nắm được tri thức là hiểu biết
và ghi nhớ những khái niệm khoa học. Tiến thêm một bước nữa là vận dụng tri
thức, định nghĩa, khái niệm, công thức…vào thực tiễn thì sẽ có kĩ năng. Nhưng
14
kĩ năng vẫn còn là hành động ý chí đòi hỏi phải động não, suy xét, tính toán,
phải có ý chí thì mới hình thành được.
Như vậy, kĩ năng chính là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện
thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hay kinh
nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi. Đó là sự vận dụng kiến thức đã thu nhận
được ở một lĩnh vực nào đó vào việc thực hiện có hiệu quả một thao tác, một
hoạt động tương ứng, phù hợp với mục tiêu và điều kiện thực tế đã cho.
Kĩ năng không đơn thuần là các thao tác chân tay mà là những thao tác trí
tuệ. Nội dung kĩ năng là một hệ thống phức tạp các thao tác nhằm làm biến đổi
và làm sáng tỏ những thông tin chứa trong tình huống và nhiệm vụ để đối chiếu
và xác lập các mối quan hệ với các hành động cụ thể.
Bản chất của việc hình thành kĩ năng là sự lĩnh hội các cách thức hành
động, các thủ thuật, thao tác mà loài người đã xây dựng nên. Cơ chế hình thành
kĩ năng là quá trình chuyển cách thức hành động, thủ thuật thao tác từ hình thức
vật chất sang hình thức tinh thần dựa trên cơ sở các hành động học tập mà học
sinh tiến hành. Một kĩ năng được hình thành nhanh hay chậm, bền vững hay
lỏng lẻo đều phụ thuộc vào khát khao, quyết tâm, năng lực tiếp nhận của chủ
thể, cách luyện tập, tính phức tạp của chính kĩ năng đó.
Để hình thành kĩ năng ở học sinh, giáo viên phải giúp học sinh biết cách
tìm tòi, khám phá và nhận ra những yếu tố đã cho, yếu tố phải tìm và mối quan
hệ của chúng trong các tình huống và trong các bài tập. Giáo viên đồng thời phải
giúp học sinh hình thành một mô hình để khái quát để giải quyết các bài tập, đối
tượng cùng loại. Giáo viên còn là người giúp học sinh xác lập được mối quan hệ
giữa các kiến thức và bài tập có tính mô hình tương ứng.
Trong trường tiểu học, các kĩ năng cần được hình thành và sẽ hình thành
dạng hoạt động lời nói, trong các tình huống giao tiếp đa dạng. Nội dung của nó
cần phải có sự tác dộng qua lại, bổ trợ lẫn nhau. Khi dạy Tập đọc, ngoài việc
16
hình thành kĩ năng đọc cần kết hợp dạy nghe, nói…Hay khi dạy Viết cần kết
hợp dạy kĩ năng nghe, đọc…Đó là cách dạy tổng hợp các kĩ năng trong các hoàn
cảnh giao tiếp, trong hoạt động lời nói. Bên cạnh đó, rèn luyện các kĩ năng sử
dụng tiếng Việt ở nhà trường cần gắn với việc ứng xử văn hoá bằng ngôn ngữ
của người Việt, gắn liền dạy tiếng Việt với dạy văn hoá, dạy người.
1.3. Phong tục, tập quán và đời sống của đồng bào dân tộc S’tiêng (ảnh
hưởng đến việc rèn luyện KN sử dụng tiếng Việt cho học sinh)
Người S’tiêng hay còn gọi là Xtiêng hay Giẻ Xtiêng là 1 trong 54 dân tộc
Việt Nam. Người S’tiêng sinh tụ lâu đời ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên và
miền Đông Nam Bộ.
Tiếng nói của dân tộc S’tiêng có nhiều nét gần gũi với tiếng Cơ Ho, Mạ,
M'nông và cùng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, dòng Nam Á. Trong số
ngôn ngữ của các dân tộc kể trên, tiếng S’tiêng tương đối gần gũi với tiếng Khơ
Me hơn cả. Chữ viết hình thành từ trước năm 1975 theo chữ cái Latinh. Tuy
nhiên, về chữ viết thì gần như hầu hết người S’tiêng ở Bù Đăng - Bình Phước
không biết đến.
Trước đây, địa bàn cư trú của người S’tiêng được phân bố trải dài từ vùng
núi Bà Đen (Tây Ninh) đến Bà Rá (Sông Bé cũ). Ngày nay địa bàn sinh tụ của
người S’tiêng bị thu hẹp dần và tập trung chủ yếu ở tỉnh Bình Phước. Theo tổng
điều tra dân số năm 2009, người S’tiêng ở việt Nam có số dân 85.436 người,
trên toàn địa bàn Bình Phước có 81.708 người chiếm 95,6%. Tập trung đông
nhất vẫn là huyện Phước Long, Bù Đăng. Đặc biệt sóc Bom Bo (Bù Đăng), số
lượng người S’tiêng chiếm phần lớn, tạo cho Bom Bo có một nét văn hóa rất
khác biệt.
Trong mối quan hệ với cộng đồng, người S’tiêng rất quý tình cảm bạn bè,
dòng họ, một số lễ cúng liên quan đến cộng đồng này vẫn được người S’tiêng
duy trì. Trong xã hội S’tiêng đã từng tồn tại các lễ lớn như: lễ đâm trâu, lễ quay
18
máu làm người khác ốm đau, chết chóc. Người S’tiêng có nhiều cách thử như đổ
chì vào lòng bàn tay, hoặc lặn nước Người bị nghi là Ma lai sẽ bị dân làng đưa
vào rừng thủ tiêu bằng cách chặt đầu hoặc chôn sống, vợ và con sẽ bán đi nơi xa
làm tôi tớ.
Xâm phạm sự cấm kỵ (Lăh cang rai), người S’tiêng có nhiều điều cấm kỵ,
họ sợ đụng chạm đến thần linh, ma quỷ, như trong làng có người đàn bà đang
sinh đẻ, làng có nhiều người đau ốm thì cấm người lạ vào nhà, vào làng. Dấu
hiệu cấm là một nhành gai, nhành lá xương rồng treo ở cổng làng, ở cầu thang
nhà. Nếu người lạ bất chấp dấu hiệu đó cứ vào làng, vào nhà sẽ bị phạt bằng các
lễ cúng gà heo, có khi cả trâu nộp cho chủ làng, chủ nhà.
Lừa đảo, trộm cắp, người S’tiêng rất ghét những kẻ trộm cắp, lừa đảo, vì
vậy nếu bắt được kẻ trộm cắp, lừa đảo, kẻ đó sẽ bị cả làng bắt phạt. Hình phạt
thường là phải tổ chức lễ cúng thần linh và đền bù gấp nhiều lần cho người bị
hại.
Đời sống của người S'tiêng
Trong nội bộ cộng đồng người S’tiêng thường phân biệt nhau theo nhóm
dân cư địa phương, trước đây được chia thành 4 nhóm chính: Bulơ, Budek,
Bulap và Bu biet, sau này họ chỉ phân thành 2 nhóm: Bulơ và Budek. Đến với
một địa danh khá nổi tiếng, gắn liền với lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc
Việt Nam, đó chính là sóc Bom Bo (huyện Bù Đăng) nơi cư trú chủ yếu của bà
con người S’tiêng thuộc tỉnh Bình Phước. Chúng ta vẫn tìm lại được khung
cảnh: "Đuốc lồ ô bập bùng trong ánh lửa, sóc Bom Bo rộn rã tiếng chày khuya"
như thuở trước. Toàn xã Bom Bo có 7 ấp với diện tích 12.680 ha, có 1.678 hộ
với 7.479 nhân khẩu. Đa số đồng bào S’tiêng ở Bom Bo nói riêng và Bù Đăng
nói chung đều có cuộc sống khó khăn, lương thực cũng chỉ đủ dùng trong 6 đến
8 tháng, thực phẩm thì lại rất thiếu, bữa ăn trong gia đình rất sơ sài, có khi cũng
chỉ có mỗi một món canh mướp rừng. Thậm chí trong món canh rau rừng không
có thịt cũng không có cá mà chỉ dùng bột ngọt làm gia vị, đây là món ăn chủ yếu
19
tiếng Việt. Ở lớp 1, 2, 3, tri thức tiếng Việt không có tiết học riêng. Các đơn vị
tri thức quy định cho 3 lớp học này giúp giáo viên có cơ sở lí luận để dạy các kĩ
năng cho học sinh, chưa yêu cầu học sinh phải học thành bài các khái niệm, quy
tắc. Ngược lại, ở các lớp 4, 5, tri thức tiếng Việt được dạy thành tiết học riêng
sắp xếp thành hệ thống (mặc dù chỉ là tri thức sơ giản) và vẫn gắn với việc luyện
tập các kĩ năng sử dụng tiếng Việt.
Cấu trúc của chương trình SGK Tiếng Việt 1 (tập 1 và 2) gồm 2 phần:
phần Học vần và phần Luyện tập tổng hợp được xây dụng với một cấu trúc chặt
chẽ đảm bảo tính đồng tâm và tính phát triển.
Phần Học vần gồm 103 bài (83 bài thuộc tập 1 và 20 bài thuộc tập 2). Các
bài của phần Học vần có 3 dạng cơ bản là: Làm quen với âm và chữ; dạy học âm
vần mới; ôn tập âm vần. Mỗi bài của phần này được trình bày trên 2 trang sách
và được dạy trong 2 tiết. Mỗi tuần dạy 5 bài - 10 tiết và 1 tiết Tập viết. Nội dung
bài Tập viết ở mỗi tuần không trình bày trong SGK mà được trình bày ở Vở tập
viết.
Phần Luyện tập tổng hợp được trình bày theo tuần (tính từ tuần 23 trở về
sau). Nội dung của phần Luyện tập tổng hợp bắt đầu được thể hiện theo các
phân môn đó là: Tập đọc, Tập viết, Kể chuyện, Chính tả.
Chương trình môn Tiếng Việt lớp 1 yêu cầu dạy cả 4 kĩ năng sử dụng ngôn
ngữ (nghe, đọc, nói, viết), dạy cả 2 dạng ngôn ngữ (ngôn ngữ nói và ngôn ngữ
viết). Tuy nhiên chương trình vẫn ưu tiên cho dạy ngôn ngữ viết nhằm giúp học
sinh lớp 1 có thể đọc, viết tiếng Việt.
Chương trình tập trung dạy cả 2 dạng kĩ năng nghe và nói trong cả hai hình
thức: độc thoại và hội thoại, dạy nói đủ to, rõ ràng, nói thành câu, biết đặt và trả
lời câu hỏi lựa chọn về đối tượng, biết nói chào hỏi, chia tay trong sinh hoạt gia
đình, trường học, biết kể được câu chuyện đơn giản, hiểu được nội dung câu
chuyện đã nghe…
21
Chương trình yêu cầu khi dạy các kĩ năng đọc và viết tập trung vào yêu cầu
đọc đúng và trơn tiếng, viết đúng mẫu chữ và tập chép bài chính tả, tập ghi đúng
Viết chính tả gồm các nội dung:
*Tập chép.
* Bước đầu nghe đọc để viết chính tả.
* Luyện viết các vần khó, các chữ mở đầu bằng g/gh; ng/ngh; c/q/k…
* Ghi các dấu câu (dấu chấm, dấu hỏi).
* Tập trình bày một bài chính tả ngắn.
- Về kiến thức chương trình: Tri thức tiếng Việt ở lớp 1 không có tiết học
riêng. Các đơn vị tri thức quy định cho lớp học này giúp giáo viên có cơ sở lí
luận để dạy các kĩ năng cho học sinh, chưa yêu cầu học sinh phải học thành bài
các khái niệm, quy tắc nhưng vẫn gắn với việc luyện tập các kĩ năng sử dụng
tiếng Việt.
+ Ngữ âm và chữ viết:
* Bước đầu nhận biết sự tương ứng giữa âm và chữ cái, thanh điệu và dấu
ghi thanh.
* Chính tả: Bước đầu nhận biết một số quy tắc chính tả.
+ Từ vựng: Học thêm khoảng 200-300 từ ngữ (kể cả thành ngữ, tục ngữ)
+ Ngữ pháp:
* Nhận biết cách dùng dấu chấm, dấu chấm hỏi.
* Ghi nhớ các nghi thức lời nói.
- Ngữ liệu:
* Ngữ liệu giai đoạn học chữ là các từ, ngữ, câu ngắn, đoạn ngắn, các
thành ngữ, tục ngữ, ca dao phù hợp với yêu cầu học chữ và rèn luyện kĩ năng
phù hợp với lứa tuổi học sinh, có tác dụng giáo dục và mở rộng sự hiểu biết.
+ Giai đoạn sau học chữ: Ngữ liệu là những câu, đoạn văn ngắn nói về
thiên nhiên, gia đình, trường học, thiếu nhi. Ngữ liệu có cách diễn đạt trong
23
sáng, dễ hiểu, có tác dụng giáo dục giá trị nhân văn và cung cấp cho học sinh
những hiểu biết về giá trị cuộc sống, chú ý thích đáng đến các văn bản phản ánh
đặc điểm thiên nhiên, đời sống, văn hoá, xã hội.
1.4.3. Phương pháp và quy trình dạy học môn Tiếng Việt 1
Mỗi bài gồm 2 tiết, tiến hành theo quy trình sau:
Tiết 1 (35 phút)
1. Kiểm tra bài cũ
2. Bài mới
HĐ 1: Giới thiệu bài (thường sử dụng phương pháp nêu vấn đề, quan sát,
hỏi đáp…)
HĐ 2: Dạy chữ ghi âm (trọng tâm của bài), thường sử dụng phương pháp
miêu tả, giảng giải, hỏi đáp, sử dụng đồ dung trực quan. Được tiến hành như
sau:
- Hướng dẫn học sinh nhận dạng chữ ghi âm, dấu ghi thanh mới.
- Hướng dẫn học sinh tự ghép chữ, phát âm âm, thanh mới.
- Giáo viên viết mẫu và hướng dẫn quy trình viết, học sinh viết chữ ghi
âm hoặc ghi thanh vào bảng con.
Đối với dạng bài này, đơn vị kiến thứ trong bài không nhiều nên ngoài việc
dạy kiến thức mới, giáo viên cần dành thời gian để ổn định tổ chức lớp, hình
thành nề nếp học tập như cách cầm sách, khoản cách mắt nhìn, cách và tư thế
ngồi viết…
Tiết 2 (35 phút)
HĐ 3: Luyện tập (thường sử dụng phương pháp luyện tập theo mẫu, thực
hành giao tiếp, trò chơi). Được tiến hành theo trình tự:
- Luyện đọc: Ôn lại tiết 1
- Luyện nói:
+ Nói theo chủ đề.
25
+ Tổ chức trò chơi.
Ở giai đoạn này, phần luyện nói theo tranh tương đối tự do theo chủ đề của
tranh, không gò bó theo các âm, thanh vừa học, giáo viên có thể hỏi những câu
hỏi đơn giản, nội dung gần gũi với trẻ để giúp học sinh làm quen với không khí
học tập mới, tránh rụt rè, nhút nhát để các em mạnh dạn, tự tin, dám nói cho bạn
nghe và nghe bạn nói theo hướng dẫn của giáo viên trong môi trường giao tiếp