BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
****** LÊ THỊ VÂN ANH
VẬN DỤNG LÍ THUYẾT GIAO TIẾP,
TÍCH HỢP GIÁO DỤC NẾP SỐNG THANH LỊCH - VĂN MINH
TRONG RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG CÂU HỎI CHO HỌC SINH LỚP 4
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2014
LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
Có được kết quả này, trước tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới TS. Lê Anh Xuân, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá
trình nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Sau Đại học, các thầy
cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy, trang bị cho tôi
những kiến thức chuyên ngành cần thiết và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian
học tập tại trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Tiểu học Trung Tự -
Quận Đống Đa và trường Tiểu học Cầu Diễn - Huyện Từ Liêm đã tạo mọi
điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã quan tâm và giúp
đỡ tôi hoàn thiện công trình nhỏ này.
Tôi xin chân thành cảm ơn! MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Phạm vi nghiên cứu 8
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
5. Phương pháp nghiên cứu 9
6. Đóng góp của luận văn 10
7. Bố cục luận văn 11
NỘI DUNG 12
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 12
1.1. Cơ sở lí luận 12
1.1.1. Lí thuyết giao tiếp 12
1.1.2. Lý thuyết về câu hỏi 24
1.1.3. Lý thuyết Tâm lý học 25
1.1.4. Nội dung chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch văn minh và
Luyện từ và câu lớp 4 liên quan đến câu hỏi 27
1.2. Cơ sở thực tiễn 29
1.2.1. Thực trạng dạy học câu hỏi trong phân môn Luyện từ và câu Lớp 4 hiện nay 29
1.2.2. Thực trạng về tình hình giáo dục đạo đức, nhân cách của học sinh trong
nhà trường 33
Tiểu kết 1 37
Chương 2: VẬN DỤNG LÍ THUYẾT GIAO TIẾP, TÍCH HỢP GIÁO DỤC
NẾP SỐNG THANH LỊCH - VĂN MINH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG CÂU HỎI CHO HỌC SINH LỚP 4 38
2.1. Vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh
trong rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi dùng với mục đích để hỏi cho HS lớp 4 38
BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẤT
1. Giáo viên GV
2. Học sinh HS
3. Sách giáo khoa SGK
4. Ví dụ VD
5. Thực nghiệm TN
6. Đối chứng ĐC 1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Dạy học Tiếng Việt ở trường Tiểu học là việc hết sức cần thiết.
Tiếng Việt góp phần vào việc hình thành nhân cách con người. Tiếng Việt
được coi là môn học trung tâm ở trường Tiểu học Việt Nam. Môn Tiếng Việt
là công cụ để học sinh học các môn học khác. Tiếng Việt được coi là chìa
khoá của nhận thức, của học vấn, của sự phát triển đúng đắn. Cái đích cuối
cùng của việc dạy học Tiếng Việt là học sinh phải sử dụng được tiếng Việt
một cách thành thạo trong đời sống hằng ngày. Điều này sẽ đạt được hiệu quả
cao hơn khi chúng ta dạy Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp. Chương trình
Tiếng Việt khẳng định dạy Tiếng Việt là dạy học sinh sử dụng tiếng Việt hiện
đại để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động phù hợp lứa tuổi.
GV còn gặp khó khăn khi muốn dạy hiệu quả dạng bài sử dụng câu hỏi sao
cho vừa đúng lý thuyết giao tiếp vừa thanh lịch - văn minh.
Trên đây là những lí do cơ bản khiến chúng tôi chọn đề tài: Vận dụng lí
thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh trong rèn
kĩ năng sử dụng câu hỏi cho học sinh lớp 4.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề giao tiếp
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người. Từ xưa
đến nay ông cha ta luôn đề cao việc giáo dục lời nói trong giao tiếp: “Học ăn,
học nói, học gói, học mở”. Giao tiếp đóng vai trò quan trọng và xuyên suốt
trong quá trình học môn Tiếng Việt. Mục tiêu cơ bản của môn Tiếng Việt ở
Tiểu học là hình thành và rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt để học tập và
giao tiếp trong môi trường hoạt động của lứa tuổi.
3
Trong giao tiếp có giao tiếp một chiều và giao tiếp hai chiều. Trong giao
tiếp một chiều, chỉ có một bên nói còn bên kia tiếp nhận. Đó là độc thoại.
Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói bên kia nghe và phản hồi trở lại.
Đó là hội thoại. Đây là hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất của
con người. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là về sử dụng câu hỏi. Thông
thường khi sử dụng câu hỏi cần phải có sự hiện diện của người nói và người
nghe nên đề tài tập trung nghiên cứu kĩ về lý thuyết hội thoại trong giao tiếp.
Hội thoại là một trong những dạng thức của lời nói, trong đó có sự hiện
diện của người nói và người nghe. Mỗi phát ngôn đều trực tiếp hướng tới
người tiếp chuyện và xung quanh một chủ đề hạn chế của cuộc thoại. Trong
hội thoại, các phát ngôn có tính riêng biệt, ngắn gọn; có các kết cấu ngữ pháp
đơn giản; sử dụng nhiều phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ như cử chỉ, điệu bộ.
Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó
cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác. Vì vậy lý thuyết
một cách có văn hóa, thanh lịch - văn minh thì cuốn sách này chưa bàn đến.
Ngoài hai công trình đó còn có rất nhiều công trình nghiên cứu có tính
dẫn luận về Ngữ dụng học nói chung và lý thuyết hội thoại nói riêng như:
- Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục.
- Đỗ Hữu Châu (2002), Giáo trình giản yếu về Ngữ dụng học, Nhà xuất
bản Giáo dục.
- Đỗ Thị Kim Liên (2005), Giáo trình Ngữ dụng học, Nhà xuất bản Đại
học Quốc gia Hà Nội.
Các tác giả của các công trình trên đây đã có những đóng góp đáng kể ở
việc đưa khái niệm nền tảng của Ngữ dụng học đến với đông đảo bạn đọc.
Bên cạnh đó, họ cũng đã đề cập đến văn hóa và ngôn ngữ, hình thành cho
người đọc một cái nhìn tổng thể để từ đó xác định rõ khi nghiên cứu Ngữ
dụng học cần đi theo hướng nào để phát hiện, khai thác các nhân tố văn hóa
5
có thể có. Các công trình này đều mang tính ứng dụng cao, có tác dụng thúc
đẩy Ngữ dụng học ở Việt Nam phát triển mạnh hơn, cố gắng tiến kịp với Ngữ
dụng học thế giới.
2.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn
minh cho học sinh Thủ đô
Năm 2010, Thăng Long - Hà Nội tổ chức lễ kỉ niệm tròn 1000 năm tuổi.
Đã có rất nhiều công trình lớn được xây dựng để chào mừng Đại lễ kỉ niệm.
Bên cạnh đó, thực trạng văn hóa giao tiếp, ứng xử, nếp sống văn minh của
người Hà Nội cũng được các nhà chức trách, nhà giáo dục và toàn xã hội
quan tâm. Thực tế tại thời điểm lúc bấy giờ, Hà Nội chưa có chương trình, tài
liệu chính thức nào giáo dục Nếp sống thanh lịch - văn minh cho HS Thủ đô
nói chung và cho HS Tiểu học nói riêng. Vì vậy, thực hiện Chương trình 08-
CT ngày 04/8/2006 của Thành ủy Hà Nội, Kế hoạch số 55/KH-UBND ngày
29/9/2006 của UBND Thành phố Hà Nội về “Phát triển văn hóa, xây dựng
người Hà Nội thanh lịch, văn minh, thiết thực kỉ niệm 1000 năm Thăng Long
nếp sống thanh lịch - văn minh trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Hiện nay, những tài liệu nghiên cứu về cách tích hợp giáo dục nếp sống
thanh lịch - văn minh vào việc dạy các môn học trong nhà trường nói chung,
trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học nói riêng chưa nhiều:
- Lê Thị Minh Huyền (2012), Vận dụng lí thuyết hội thoại, tích hợp nếp
sống thanh lịch văn minh trong việc rèn kĩ năng đáp lời ( phân môn Tập làm
văn) cho học sinh lớp 2, Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục.
Công trình nghiên cứu khoa học của tác giả Lê Thị Minh Huyền đã có đề
cập nghiên cứu về tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh vào việc
dạy Tiếng Việt ở Tiểu học song lại mới dừng ở phân môn Tập làm văn lớp 2. 7
2.4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề dạy - học phân môn Luyện từ và câu
trong trường Tiểu học
Về môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu
và thể hiện rõ quan điểm của mình qua các công trình nghiên cứu như Nguyễn
Trí, Lê Phương Nga, Nguyễn Minh Thuyết.
Tác giả Nguyễn Trí, trong một công trình cùng đồng tác giả Lê Phương
Nga - cuốn Phương pháp dạy học Tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, đã thể
hiện chiến lược dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp. Đó là hướng đi
đúng, có cơ sở khoa học vững chắc song tác giả chưa đi sâu vào vấn đề dạy
Luyện từ và câu, đặc biệt là kĩ năng sử dụng câu hỏi cho hợp lí, văn minh -
lịch sự.
Với cuốn Hỏi - Đáp về dạy Tiếng Việt 4, Nhà xuất bản Giáo dục, tác giả
Nguyễn Minh Thuyết đã có phân tích được quan điểm giao tiếp được thể hiện
ở phân môn Luyện từ và câu. Tuy nhiên tác giả mới chỉ dừng lại ở việc nhận
định chung chung.
Còn ở cuốn Một số vấn đề dạy hội thoại cho học sinh Tiểu học, tác giả
trường Tiểu học Trung Tự - Quận Đống Đa (nội thành Hà Nội) và trường
Tiểu học Cầu Diễn - Huyện Từ Liêm (ngoại thành Hà Nội)
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ mối liên hệ chặt chẽ giữa lí thuyết giao tiếp và nội dung giáo
dục nếp sống thanh lịch - văn minh với việc rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi cho
học sinh lớp 4.
- Làm rõ sự cần thiết phải vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục
nếp sống thanh lịch - văn minh vào việc rèn kỹ năng sử dụng câu hỏi cho học
sinh lớp 4.
- Làm rõ hiệu quả của việc vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục
nếp sống thanh lịch - văn minh khi rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi cho học sinh
9
lớp 4.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định những vấn đề lí luận làm cơ sở cho đề tài.
- Điều tra thực trạng việc dạy kĩ năng sử dụng câu hỏi trong phân môn Luyện
từ và câu và thực trạng việc giáo dục đạo đức, nhân cách cho HS Thủ đô.
- Tìm kiếm các biện pháp vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục
nếp sống thanh lịch - văn minh vào việc rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi trong
phân môn Luyện từ và câu lớp 4.
- Thực nghiệm.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá lý thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu về lí thuyết giao tiếp để tìm ra cơ sở khoa học về
giao tiếp cho việc rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi trong phân môn Luyện từ và câu.
- Nghiên cứu các tài liệu về chương trình, sách giáo khoa, phương pháp
dạy học, đặc biệt tài liệu về đổi mới phương pháp rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi
để xác định những tiền đề cho việc vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo
6. Đóng góp của luận văn
6.1. Về lí luận
Đề tài thực hiện thành công sẽ làm sáng tỏ thêm những vấn đề lí thuyết
giao tiếp và nội dung chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh
với việc vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch -
văn minh vào việc rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi cho học sinh lớp 4.
6.2. Về thực tiễn
- Giúp học sinh rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi hợp với hoàn cảnh giao tiếp
sao cho thanh lịch - văn minh.
- Học sinh có ý thức rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi phù hợp với từng hoàn
cảnh giao tiếp cụ thể; yêu thích phân môn Luyện từ và câu, yêu thích môn
11
Tiếng Việt và hình thành tình yêu tiếng mẹ đẻ, tình yêu nét đẹp thanh lịch -
văn minh trong giao tiếp ứng xử của người học sinh Thủ đô.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh
lịch - văn minh nhằm nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi trong
phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4.
Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm
12 13
trưng này mà mỗi cá nhân tự hoàn thiện mình theo những yêu cầu, đòi hỏi của
xã hội, của nghề nghiệp, của vị trí xã hội mà họ chiếm giữ.
- Giao tiếp là một quan hệ xã hội, mang tính chất xã hội.
Quan hệ xã hội chỉ được thực hiện qua giao tiếp người - người. Con
người vừa là thành viên tích cực của các mối quan hệ xã hội vừa hoạt động
tích cực cho sự tồn tại và phát triển của chính các quan hệ xã hội đó.
- Giao tiếp giữa các cá nhân mang tính chất lịch sử phát triển xã hội.
Giao tiếp bao giờ cũng được cá nhân thực hiện với nội dung cụ thể, trong
khung cảnh không gian và thời gian nhất định.
- Sự kế thừa chọn lọc.
Bản thân giao tiếp chứa đựng sự kế thừa, sự chọn lọc, tiếp tục sáng tạo
những giá trị tinh thần, vật chất thông qua các phương tiện giao tiếp nhằm lưu
giữ những dấu ấn về tư tưởng, tình cảm, vốn sống kinh nghiệm của con người.
- Tính chủ thể trong quá trình giao tiếp.
Quá trình giao tiếp được thực hiện bởi các cá nhân cụ thể. Các cá nhân
trong giao tiếp là các cặp chủ thể - đối tượng luôn đổi chỗ cho nhau, cùng
chịu sự chi phối và tác động lẫn nhau tạo thành các chủ thể giao tiếp.
- Sự lan truyền, lây lan các cảm xúc, tâm trạng.
Sự biểu cảm thể hiện đầu tiên bằng nét mặt có ý nghĩa tiến hoá sinh học
cũng như ý nghĩa tâm lý - xã hội, phản ánh khả năng đồng cảm, ảnh hưởng
lẫn nhau của con người.
1.1.1.3. Chức năng của giao tiếp
- Chức năng thông tin.
- Chức năng điều khiển, điều chỉnh.
- Chức năng đánh giá thái độ giao tiếp.
1.1.1.4. Hội thoại là một hình thức giao tiếp phổ biến của ngôn ngữ
Người ta giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện, nhưng phương tiện
15
ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh
nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi
nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định”. [21, tr.180]
Như vậy, xét từ góc độ nào thì hội thoại cũng có các đặc trưng sau đây:
- Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời
Khi hội thoại, người trao lời và người thụ lời luôn luôn đổi vai cho nhau,
luân lưu nói và sự luân đổi lượt lời phải tuân thủ một cách tự nhiên theo quy
tắc “quay vòng giao tiếp”, một hình thức như đã thành thói quen.
Mỗi một lần hội thoại chí ít bao gồm một lượt lời của hai bên. Đơn vị
cấu trúc điển hình nhất của hội thoại là cặp thoại (tức là bắt đầu là lời trao và
tiếp liền là lời đáp). Trong cặp thoại có thể xảy ra một vài trường hợp khác
như chuỗi xen vào, có khi người thụ lời làm gián đoạn người trao lời và xuất
hiện chuỗi bên cạnh hoặc lời chữa của người trao lời.
- Hội thoại thường diễn ra giữa hai hay nhiều người trong một thoại
trường nhất định.
Số lượng nhân vật hội thoại - còn gọi là đối tác hội thoại hay đối tác -
thay đổi từ hai đến một số lượng lớn. Có những cuộc hội thoại tay đôi, tay ba,
tay tư hoặc nhiều hơn nữa (đa thoại). Những cuộc hội thoại như một cuộc hội
nghị, một giờ học, một cuộc mít tinh thì số lượng người tham gia khó mà
xác định được.
Thoại trường (không gian, thời gian diễn ra cuộc hội thoại) có thể là nơi
công cộng (hội nghị, hội thảo, cuộc mít tinh, ngoài chợ, trong tiệm ăn, quán
cafe, vũ trường ) hay riêng tư (trong phòng khách giữa chủ và khách, trong
phòng ngủ giữa vợ và chồng ). Thoại trường với những cần thiết của nó và
với sự hiện diện của những nhân vật đang hội thoại ảnh hưởng ít hay nhiều
đến cuộc hội thoại cả về nội dung, cả về hình thức.
- Trong hội thoại có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ
17
Trong quá trình hội thoại, vận động tương tác rất quan trọng bởi vì tương
quan hệ giữa các nhân vật.
Ví dụ (VD): Đoạn thoại mở đầu trong trong bài tập 1 như sau:
- Cương: Mẹ nói với thầy cho con đi học nghề rèn.
- Mẹ Cương: Con vừa bảo gì? [36, tr.131]
Các đoạn thân thoại có thể gồm một vài đoạn thoại để phát triển nội
dung đề tài cuộc thoại.
VD:
- Cương: Mẹ xin thầy cho con đi làm thợ rèn.
- Mẹ: Ai xui con thế?
- Cương: Thưa mẹ, tự ý con muốn thế. Con thương mẹ vất vả, đã phải
nuôi bằng ấy đứa em lại còn phải nuôi con… Con muốn học một cái nghề để
khiếm sống…
- Mẹ Cương: Con muốn giúp mẹ như thế là phải. Nhưng biết thầy có
chịu nghe không? Nhà ta tuy nghèo nhưng dòng dõi quan sang, không lẽ bây
giờ mẹ để con phải làm đầy tớ anh thợ rèn.
- Cương: Mẹ ơi! Người ta ai cũng phải có một nghề. Làm ruộng hay
buôn bán, làm thầy hay làm thợ đều đáng trọng như nhau. Chỉ những ai trộm
cắp hay ăn bám mới đáng bị coi thường. [36, tr.131]
Đoạn thoại kết thúc có chức năng đóng cuộc thoại.
Cặp thoại
Một cặp thoại tối thiểu chỉ gồm một lời trao (lời dẫn nhập) và một lời
đáp (lời hồi đáp). Đó là cặp thoại điển hình sau:
- Mẹ: Ai xui con thế?
- Cương: Thưa mẹ, tự ý con muốn thế. Con thương mẹ vất vả, đã phải
nuôi bằng ấy đứa em lại còn phải nuôi con… Con muốn học một cái nghề để
khiếm sống… [36, tr.131]
1.1.1.7. Quy tắc hội thoại