Vận dụng lí thuyết hội thoại, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh trong việc rèn kĩ năng đáp lời (Phân môn tập làm văn) cho học sinh lớp 2 - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
*** LÊ THỊ MINH HUYỀN

VẬN DỤNG LÍ THUYẾT HỘI THOẠI, TÍCH HỢP
GIÁO DỤC NẾP SỐNG THANH LỊCH - VĂN MINH
TRONG VIỆC RÈN KĨ NĂNG ĐÁP LỜI
(PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN) CHO HỌC SINH LỚP 2
Chuyên ngành: Giáo dục học (bậc Tiểu học)
Mã số: 60 14 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Anh Xuân

1.1.3. Nội dung chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho
học sinh lớp 1, 2 liên quan đến kĩ năng Đáp lời 17
1.2. Cơ sở thực tiễn 18
1.2.1. Thực trạng dạy - học kĩ năng Đáp lời trong phân môn Tập làm văn
lớp 2 hiện nay 18
1.2.2. Thực trạng về tình hình giáo dục đạo đức, nhân cách của học sinh
trong nhà trường 20
Chƣơng 2. VẬN DỤNG LÍ THUYẾT HỘI THOẠI, TÍCH HỢP GIÁO
DỤC NẾP SỐNG THANH LỊCH - VĂN MINH NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ RÈN KĨ NĂNG ĐÁP LỜI (PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN)
CHO HỌC SINH LỚP 2 24
2.1. Các bài Tập làm văn liên quan đến kĩ năng Đáp lời 24
2.1.1. Mục tiêu của việc dạy học các bài Tập làm văn liên quan đến kĩ năng
Đáp lời 24
2.1.2. Các dạng bài dạy liên quan đến việc rèn kĩ năng Đáp lời 25
2.2. Vận dụng lí thuyết hội thoại, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch -
văn minh vào việc rèn kĩ năng Đáp lời đóng trong phân môn Tập làm văn
cho HS lớp 2 27
2.2.1. Yêu cầu cần đạt của kĩ năng Đáp lời đóng 27
2.2.2. Vận dụng lí thuyết hội thoại, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch -
văn minh nhằm nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng Đáp lời đóng trong phân
môn Tập làm văn cho học sinh lớp 2 27
2.3. Vận dụng lí thuyết hội thoại, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch -
văn minh vào việc rèn kĩ năng Đáp lời mở trong phân môn Tập làm văn
cho học sinh lớp 2 40
2.3.1. Yêu cầu cần đạt của kĩ năng Đáp lời mở 40
2.3.2. Vận dụng lí thuyết hội thoại, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch -
văn minh nhằm nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng Đáp lời mở trong phân môn
Tập làm văn cho học sinh lớp 2 41
Chƣơng 3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 52

TLV
HT
GV
HS
SGK
VD
TN
ĐC

1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Quan điểm giao tiếp hay quan điểm phát triển lời nói là một trong
những nguyên tắc, phương hướng xây dựng chương trình môn Tiếng Việt cải
cách giáo dục ở Tiểu học. Sự phát triển mạnh mẽ của Ngữ dụng học trong
những năm gần đây đã đặt giao tiếp và hội thoại (HT) vào một vị thế mới.
Trong chương trình môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học, HT gắn với tình
huống giao tiếp của Ngữ dụng học đã trở thành một nội dung học tập. Phân
môn Tập làm văn (TLV) là phân môn duy nhất rèn kĩ năng này cho học sinh
(HS) Tiểu học.
1.2. Mục tiêu của chương trình TLV lớp 2 thực chất là thông qua các bài
tập thực hành tổng hợp về Tiếng Việt, giúp HS củng cố, bổ sung kiến thức
(ngôn ngữ, đời sống), rèn luyện kĩ năng (nói - viết), qua đó nâng cao năng lực
tư duy, giáo dục tư tưởng, tình cảm và mĩ cảm cho các em. Yêu cầu của tiết
TLV lớp 2 mới dừng ở mức độ: bước đầu cho HS làm quen với việc tạo lập
văn bản (nói - viết) qua từng công đoạn, từ các yêu cầu đơn giản như nhắc lại
lời của người trong tranh , sắp xếp lại thứ tự tranh vẽ hoặc tình huống theo
nội dung câu chuyện đã học cho đến quan sát tranh trả lời câu hỏi. Còn việc
nói hay viết một đoạn văn theo đề tài nhất định dựa vào hệ thống câu hỏi gợi
ý cho trước là nhằm chuẩn bị cho bước phát triển cao hơn ở lớp 3 và chuẩn bị

thuyết hội thoại, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh trong
việc rèn kĩ năng Đáp lời ( phân môn Tập làm văn) cho học sinh lớp 2.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề hội thoại
Hội thoại là hoạt động cơ bản của ngôn ngữ, vì vậy lí thuyết HT là một
phần không thể thiếu của Ngữ dụng học. Từ năm 1970, HT trở thành đối
tượng chính thức của một phân ngành Ngôn ngữ học, ngành phân tích HT.
Cho đến nay thì Ngôn ngữ học của hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó
có Việt Nam đều bàn đến HT.
Trong cuốn Đại cương Ngôn ngữ học - tập 2 Ngữ dụng học, tác giả Đỗ
Hữu Châu đã giải thích: “Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản, thường
xuyên, phổ biến trong sự hành chức của ngôn ngữ.” Lí thuyết HT là lĩnh vực
nghiên cứu cuối cùng của ngôn ngữ học quan tâm đến các diễn ngôn trong
hoạt động, trong hoàn cảnh giao tiếp. Chính vì vậy, nghiên cứu HT phải vận
dụng tổng hòa những tri thức về cấu trúc ngôn ngữ, những tri thức ngữ dụng
và cả những tri thức xã hội học, tâm lí học, văn hóa học. Mặt khác qua nghiên

3
cứu HT, chúng ta mới có được hiểu biết đầy đủ, toàn diện tất cả những thành
tố tạo nên ngôn ngữ và những thành phần nằm trong lĩnh vực Ngữ dụng học
vốn từng được xem xét riêng rẽ trước đây.
Ở cuốn Dụng học Việt ngữ, tác giả Nguyễn Thiện Giáp đã trình bày
những vấn đề của lí thuyết HT bằng những dẫn chứng sinh động cụ thế, bằng
sự sáng rõ trong phân tích, mạch lạc trong cách trình bày. Trong cuốn sách
này, tác giả cũng không quên đề cập đến mối liên quan giữa văn hóa và ngôn
ngữ để từ đó xác định lí thuyết HT nên đi theo hướng nào để phát hiện và để
khai thác các nhân tố văn hóa có thể có. Song làm thế nào để vận dụng được lí
thuyết HT vào dạy học các môn Tiếng Việt cho HS tiểu học để các em có thể
giao tiếp một cách có văn hóa, thanh lịch? Đó là nội dung cuốn sách này chưa
bàn đến.

soạn Bộ tài liệu “Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh” để đưa vào giảng
dạy cho HS các trường phổ thông ở Hà Nội.
Bộ tài liệu biên soạn cho từng cấp bao gồm tài liệu dành cho HS và tài
liệu hướng dẫn giảng dạy cho giáo viên (GV). Cách biên soạn bộ tài liệu đảm
bảo tính đồng tâm, phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông và không
làm quá tải chương trình. Nội dung của bộ tài liệu đã khơi dậy được trong các
em niềm tự hào, mong muốn kế thừa truyền thống thanh lịch, văn minh, nét
đẹp văn hóa đặc trưng của người Hà Nội. Bộ tài liệu cũng tuyên truyền trách
nhiệm của HS Thủ đô trong việc xây dựng nếp sống thanh lịch, văn minh; tạo
sự chuyển biến từng bước về nhận thức và hành vi trong sinh hoạt đời sống
hằng ngày; từ đó góp phần đào tạo, xây dựng các thế hệ người Hà Nội ngày
càng thanh lịch, văn minh để xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, tươi
đẹp.
Bên cạnh đó, còn có thể kể ra rất nhiều tài liệu nghiên cứu về Nếp sống
thanh lịch, văn minh như:
- Nguyễn Viết Chức (Chủ biên) (2001), Nếp sống người Hà Nội, Viện
Văn hóa và nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
- Hoàng Đạo Thúy (2010), Nét văn hóa thanh lịch của người Hà Nội,
Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.
- Thái Hà (2009), Bé học ứng xử văn minh, Nhà xuất bản Thời đại.
- Giang Quân (2010), Văn hóa gia đình người Hà Nội, Nhà xuất bản
Thời đại.
Nhưng tất cả các tài liệu kể trên mới nói về cách ứng xử trong gia đình,
ngoài xã hội sao cho thanh lịch, văn minh. Hiện nay chưa có bất kì một tài
liệu nào nghiên cứu về vấn đề Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho

5
HS Thủ đô và càng không có tài liệu nào nghiên cứu về cách tích hợp giáo
dục nếp sống thanh lịch - văn minh vào việc dạy các môn học trong nhà
trường.

6
hướng cho việc nghiên cứu luận văn Vận dụng lí thuyết hội thoại, tích hợp
giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh trong việc rèn kĩ năng Đáp lời
(phân môn Tập làm văn) cho học sinh lớp 2.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc vận dụng lí thuyết HT, tích
hợp nội dung giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh vào việc rèn kĩ năng
Đáp lời (phân môn TLV) cho HS lớp 2.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Các bài TLV dạy kĩ năng Đáp lời
cho HS lớp 2 có liên quan đến HT và có thể tích hợp với nội dung giáo dục
nếp sống thanh lịch - văn minh.
Giới hạn phạm vi thực nghiệm: Việc thực nghiệm (TN) được thực hiện
tại trường Tiểu học Kim Đồng - Quận Ba Đình (nội thành Hà Nội) và trường
Tiểu học Cầu Diễn - Huyện Từ Liêm (ngoại thành Hà Nội).
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ mối liên hệ chặt chẽ giữa lí thuyết HT và nội dung giáo dục
nếp sống thanh lịch - văn minh với việc rèn kĩ năng Đáp lời trong phân môn
TLV lớp 2.
- Làm rõ sự cần thiết phải vận dụng lí thuyết HT, tích hợp giáo dục nếp
sống thanh lịch - văn minh vào việc rèn kĩ năng Đáp lời (phân môn TLV) cho
HS lớp 2.
- Làm rõ hiệu quả của việc vận dụng lí thuyết HT, tích hợp giáo dục
nếp sống thanh lịch - văn minh khi rèn kĩ năng Đáp lời (phân môn TLV) cho
HS lớp 2.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu về lí thuyết Ngữ dụng học (lí thuyết HT)


8
Phương pháp này cũng vận dụng trong việc định hướng thiết kế các bài
dạy kĩ năng Đáp lời (phân môn TLV) vận dụng theo lí thuyết HT, tích hợp giáo
dục nếp sống thanh lịch - văn minh; hướng dẫn GV thực hiện mô hình thiết kế,
quy trình hoạt động, chọn và tổ chức dạy TN ở trường Tiểu học có đối chứng
(ĐC); tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả (bằng phiếu điều tra, bài kiểm tra) của
HS cả trước và sau quá trình học tập có so sánh với lớp ĐC.
6. Giả thuyết khoa học
Đề tài thực hiện thành công sẽ giúp HS rèn kĩ năng Đáp lời phù hợp
với hoàn cảnh giao tiếp sao cho thanh lịch - văn minh từ đó có ý thức rèn kĩ
năng Đáp lời phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp; yêu thích phân môn TLV, yêu
thích bộ môn Tiếng Việt và hình thành tình yêu tiếng mẹ đẻ, tình yêu nét đẹp
thanh lịch, văn minh trong giao tiếp ứng xử của người HS Thủ đô.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chƣơng 2: Vận dụng lí thuyết hội thoại, tích hợp giáo dục nếp sống
thanh lịch - văn minh nhằm nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng Đáp lời (phân
môn Tập làm văn) cho học sinh lớp 2
Chƣơng 3: Thực nghiệm sư phạm 9
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận

- Nam: Cháu chào cô ạ.
Các đoạn thân thoại có thể gồm một vài đoạn thoại để phát triển nội dung
đề tài cuộc thoại.
VD: Đoạn thoại kế tiếp trong Bài tập 3 (Tiết TLV Đáp lời chào, lời tự
giới thiệu - sách Tiếng Việt 2, tập 2, tr. 12) là đoạn thân thoại:
- Mẹ Sơn: Cháu cho cô hỏi đây có phải nhà bạn Nam không?
- Nam: Vâng ạ, cháu là Nam đây! Cô hỏi gì cháu ạ?
- Mẹ Sơn: Tốt quá. Cô là mẹ bạn Sơn đây.
- Nam: Thế ạ.
- Mẹ Sơn: Sơn bị sốt. Cô nhờ cháu chuyển giúp cô đơn xin phép cho Sơn
nghỉ học.
- Nam: Vâng ạ. Cháu sẽ chuyển.
Đoạn thoại kết thúc có chức năng đóng cuộc thoại.
Cặp thoại
Một cặp thoại tối thiểu chỉ gồm một lời trao (lời dẫn nhập) và một lời
đáp (lời hồi đáp). Đó là cặp thoại điển hình sau:
- Mẹ Sơn: Cháu cho cô hỏi đây có phải nhà bạn Nam không?
- Nam: Vâng ạ, cháu là Nam đây! Cô hỏi gì cháu ạ?
Quy luật thông thường là trao gì, đáp nấy. Tuy vậy cũng có trường hợp
có cặp thoại chỉ có lời trao mà không có lời đáp mà thay thế vào đó là hành
động cụ thể.
VD: Trong đoạn thoại trên, sau khi Nam nhận mình đúng là người mẹ
Sơn cần tìm thì mẹ Sơn có thể gật đầu đưa luôn cho Nam lá đơn xin phép
nghỉ ốm của Sơn.

11
1.1.1.3. Quy tắc hội thoại
Quy tắc HT là những quy tắc bất thành văn nhưng được xã hội chấp
nhận và những người tham gia HT phải tuân theo khi thực hiện các vận động
HT để cho cuộc thoại vận động như mong muốn.

Tính liên kết HT thể hiện trong lòng một phát ngôn, giữa các phát
ngôn, giữa các hành động ngôn ngữ, giữa các đơn vị HT ở cả hai phương diện
nội dung và hình thức.
Qui tắc điều hành nội dung hội thoại
Cuộc HT nào cũng có nội dung. Các nội dung này lại được thể hiện
trong nội dung các lượt lời. Sự phát triển của nội dung HT để đạt đến đích của
cuộc HT phụ thuộc rất nhiều vào nội dung các lượt lời. Quy tắc luân phiên
lượt lời bảo đảm sự kế tiếp các lượt lời về mặt hình thức để sự phát triển HT
được liên tục và hợp lí. Còn quy tắc điều hành nội dung HT sẽ điều hành quan
hệ và nội dung giữa các lượt lời. Sự điều hành này đòi hỏi mỗi người tham gia
HT phải đảm bảo hai yêu cầu: Lời nói của họ phải phù hợp với đề tài và nội
dung cuộc thoại ở thời điểm họ tham gia; lời nói của họ phải phù hợp với đích
của HT.
Vì vậy người tham gia HT phải thực hiện bốn phương châm sau:
- Phương châm về lượng: Phương châm này đòi hỏi lời nói phải có nội
dung. Không nên nói quá ít hoặc quá nhiều những điều không đúng với đích
cuộc thoại. Nếu nói quá nhiều sẽ làm người nghe mệt mỏi dẫn đến lơ đãng,
không còn chú ý đến cuộc thoại.
- Phương châm về chất: Phương châm này khuyên người nói: Hãy nói
những điều anh tin rằng đúng hoặc có bằng chứng xác thực. Không nên nói
những điều không có căn cứ chắc chắn, mình không tin lắm. Khi có vấn đề gì
đó chưa rõ, chưa xác định thì nên có sự tìm hiểu, kiểm tra lại thông tin hoặc
tra cứu lại cẩn thận.
- Phương châm về cách thức: Nên nói một cách rõ ràng, mạch lạc, có
hệ thống và có tính lôgic chặt chẽ để người nghe dễ nhận ra ý mà người nói
định nói. Tránh lời nói mập mờ, tối nghĩa, gây sự hiểu lầm.
- Phương châm về quan hệ (còn gọi là phương châm quan yếu): Cần
trình bày sao cho câu chuyện của bạn có quan hệ với câu chuyện đang diễn ra.
Qui tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại - phép lịch sự
Theo cách hiểu thông thường, lịch sự có hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất là có

Trong bất cứ cuộc HT nào cũng có ba vận động chủ yếu: trao lời, trao
đáp và tương tác.
Vận động trao lời: là vận động mà Sp1 nói lượt lời của mình ra và
hướng lượt lời của mình về phía Sp2 nhằm làm cho Sp2 nhận biết được rằng
lượt lời được nói ra là dành cho mình.

14
Trong lời trao, sự có mặt của Sp1 là điều tất yếu. Sự có mặt của Sp1 thể
hiện ở từ xưng hô ngôi thứ nhất, ở tình cảm, thái độ, hiểu biết, ở quan điểm
của Sp1 trong nội dung lượt lời trao; ở dấu hiệu bổ sung cho lời nói (điệu bộ,
cử chỉ gãi đầu, vỗ ngực, đập bàn…)
Sự có mặt của Sp2 thể hiện qua những yếu tố ngôn ngữ tường minh
như lời hô gọi, chỉ định, những lời thưa gửi và các từ nhân xưng ngôi thứ 2;
những yếu tố hàm ẩn như những tiền giả định giao tiếp, những biểu hiện mà
Sp1 và Sp2 đã có chung; ở hứng thú hoặc tâm trạng của Sp2 mà Sp1 đã nhận
biết trước khi trao lời.
Vận động trao đáp: là vận động mà khi Sp2 đáp lời Sp1, có sự lần lượt
thay đổi vai nói, vai nghe giữa các nhân vật giao tiếp là trao đáp. Chỉ khi Sp2
hồi đáp lại lượt lời của Sp1 thì mới thực sự có vận động trao đáp, HT mới
chính thức được hình thành.
Sự hồi đáp có thể bằng các hành động ngôn ngữ tương thích với hành
động dẫn nhập lập thành cặp như hỏi - trả lời, chào - chào, cầu khiến - nhận
lời…; cũng có thể được thực hiện bằng những hành động bất kì, không tương
thích với hành động dẫn nhập.
Ngay cả những hành động tự thân không đòi hỏi sự hồi đáp như hành
động cảm thán vẫn cần được hồi đáp.
Vận động tương tác: là kết quả sự phối hợp của các nhân vật giao tiếp
trong suốt quá trình diễn ra cuộc thoại. Các nhân vật sẽ tác động qua lại lẫn
nhau, làm biến đổi lẫn nhau.
Trước khi HT, giữa các thoại nhân có sự khác biệt đối lập, thậm chí trái

Ba vận động: trao lời, trao đáp và tương tác là ba vận động đặc trưng
cho một cuộc thoại. Những quy tắc, cấu trúc và chức năng trong HT đều bắt
nguồn từ ba vận động trên, chủ yếu là vận động tương tác.
Trong thực tế, khi rèn kĩ năng Đáp lời ở phân môn TLV lớp 2, có
trường hợp HS không chịu nói lời đáp (im lặng) hoặc nếu bắt buộc phải đáp
lời thì đọc lại lời đáp mẫu trong sách.
1.1.2. Cơ sở Tâm lí học
1.1.2.1. Đặc điểm tâm lí của lứa tuổi học sinh lớp 2
Ở mỗi độ tuổi khác nhau, việc tiếp nhận tiếng mẹ đẻ của trẻ em đều
chịu sự chi phối của sự phát triển tâm sinh lí. Dạy Tiếng Việt nói chung, dạy
TLV nói riêng, chúng ta phải chú ý đến đặc điểm tâm lí lứa tuổi để từ đó tìm
ra phương hướng, biện pháp giảng dạy thích hợp.

16
Đối với HS ở độ tuổi 7 - 8, tư duy, cách suy nghĩ mang tính chất cảm
tính, hình tượng cụ thể. Tuy nhiên, HS lớp 2 đã có một bước phát triển cao
hơn về tư duy - đánh dấu sự nhảy vọt về tâm lí. Các em đã bước đầu suy nghĩ
một cách trừu tượng và khái quát hơn.
Nhưng trong cùng một lớp học, một trường, cùng một độ tuổi nhưng sự
phát triển tâm lí ở từng HS có sự phát triển không đồng đều. Ngoài ra với HS
tiểu học, đặc biệt là HS lớp 2 thường tiếp nhận đối tượng bằng những hình ảnh
cảm tính, những biểu tượng cụ thể. Bên cạnh đó còn có quy luật tâm lí: càng
nhiều cơ quan cảm giác tham gia vào việc tiếp nhận đối tượng thì đối tượng ấy
càng khắc sâu trong trí nhớ một cách bền vững. Chương trình TLV ở tiểu học
nói chung và ở lớp 2 nói riêng đã bước đầu chú ý đến đặc điểm tâm sinh lí lứa
tuổi để xây dựng nội dung, cấu trúc chương trình.
Vì vậy để có phương pháp dạy đúng đắn, khoa học, phù hợp với trình
độ của HS và bài giảng có sức cuốn hút, người GV cũng cần nắm chắc những
đặc điểm tâm lí nổi bật của lứa tuổi. Như vậy, việc dạy - học TLV sẽ đạt
được kết quả tốt như mong muốn.

Với những nội dung trên thì ở lớp 1 và lớp 2 tập trung chỉ dẫn hành vi
cá nhân cụ thể về ăn, mặc, nghe, nói, cử chỉ cơ bản. Các nội dung đề cập ở
mức độ sơ đẳng nhất, chỉ nêu hiện tượng đúng sai để HS nhận thức từ đó làm
theo cái đúng mà không cần giải thích phân tích kĩ. Trong những nội dung
trên, ở chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh của lớp 1và lớp
2 chỉ có những bài sau liên quan đến kĩ năng Đáp lời:

Lớp
Bài
Tên bài
Lớp 1
Bài 1
Em hỏi và trả lời

Bài 2
Lời chào

Bài 3
Bữa ăn trong gia đình

Bài 4
Bữa ăn bán trú
Lớp 2
Bài 1
Ý kiến của em

Bài 2
Tôn trọng người nghe

Bài 3

nhiều, đa số HS còn nhút nhát chưa có thói quen hoạt động độc lập. Chính vì
vậy, trong phần rèn kĩ năng Đáp lời của phân môn TLV lớp 2, nhiều HS chưa
thể vận dụng vốn ngôn ngữ, kinh nghiệm sử dụng tiếng Việt để mạnh dạn, tự
tin trình bày ý kiến của mình và thực hành đáp lời theo tiêu chí thanh lịch -
văn minh đã được học ở chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn
minh. Ngoài ra, đôi khi GV còn áp đặt coi hoạt động đáp lời là một cuộc hỏi
đáp trong đó GV là người hỏi, HS là người trả lời. Vì vậy, người học thụ động
không quan tâm đến việc vận dụng những nghi thức lời nói ấy ở ngoài đời
thường ra sao nên việc dạy chúng trở nên hình thức và sáo rỗng.

19
1.2.1.2. Qua phiếu hỏi
Chúng tôi cũng tiến hành khảo sát 50 HS và 4 cô giáo ở hai trường:
Tiểu học Kim Đồng - Quận Ba Đình (nội thành Hà Nội) và Tiểu học Cầu
Diễn - Huyện Từ Liêm (ngoại thành Hà Nội) trong năm học 2011 - 2012 theo
phiếu hỏi. Nội dung phiếu hỏi (Phụ lục 1 - Phiếu 1) dành cho HS gồm 5 câu
hỏi tập trung khảo sát xem có những hoạt động nào diễn ra, HS chú ý của vào
vấn đề nào khi học các bài rèn kĩ năng Đáp lời và đặc biệt khảo sát sự hiểu
biết của các em về nội dung Nếp sống thanh lịch - văn minh có liên quan đến
kĩ năng Đáp lời đó trong tiết TLV. Kết quả là rất ít HS lựa chọn câu đáp án c
của câu hỏi 1, 4, 5 là những câu nhằm khai thác hiểu biết về hoạt động HT
trong giờ TLV của HS. Đối với câu hỏi 2, 3 có rất nhiều em đã lựa chọn đáp
án b. Điều đó cho thấy HS vẫn còn thụ động chưa có nhu cầu giao tiếp và
không muốn giao tiếp trong khi học TLV.
Đối với người dạy, chúng tôi khảo sát mối quan tâm của họ đối với
hiệu quả của việc rèn kĩ năng Đáp lời cũng như hiểu biết của họ về nội dung
giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh có liên quan và khảo sát xem họ
thường gặp khó khăn gì cũng như họ có những mong muốn nào khi dạy nội
dung Đáp lời trong các giờ TLV ở lớp 2 (Phụ lục 1 - Phiếu 2). Kết quả là đa
số GV đã lựa chọn đáp án a cho câu hỏi 1, 2, 4, 5. Ở câu hỏi 3 thì hầu hết GV

theo hướng tăng cường hoạt động của HS, đòi hỏi người GV phải biết sử
dụng thiết bị dạy học và biết ứng dụng công nghệ thông tin vào bài dạy nên
dù có rất nhiều ưu điểm thì thiết bị dạy học cũng cần được sử dụng hợp lí. Bởi
vì, mặt mạnh của kĩ năng Đáp lời là phản xạ và cảm xúc từ tình huống thực tế
chứ không phải cứng nhắc áp dụng một công thức giống nhau trong các tình
huống tương tự.
Từ thực tế trên, chúng tôi thấy yêu cầu đặt ra cho việc rèn kĩ năng Đáp
lời (phân môn TLV) là đi sâu nghiên cứu hơn nữa các kĩ năng Đáp lời để xác
định các thao tác, xây dựng các đề bài gắn với tình huống đáp lời, tổ chức các
tiết TLV để người học thấy hứng thú, có nhu cầu đáp lời một cách có văn hóa
và tích hợp được với chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh
đã được học, để từ đó vận dụng có hiệu quả trong cuộc sống.
1.2.2. Thực trạng về tình hình giáo dục đạo đức, nhân cách của học
sinh trong nhà trường
1.2.2.1. Qua khảo sát
Ngày 1/8/2008, ngành Giáo dục và đào tạo Hà Nội chính thức triển
khai thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện Hà Nội được mở rộng địa giới hành
chính. Cùng với sự phát triển của Thủ đô, quy mô mạng lưới trường lớp của
Giáo dục và đào tạo Hà Nội cũng được mở rộng, phân bổ từ thành phố đến
các huyện vùng sâu, vùng xa. Vì vậy, sự hợp nhất mặt bằng chất lượng và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status