LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI RÈN KĨ NĂNG PHÁT ÂM TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 1 DÂN TỘC MÔNG - Pdf 22


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BẠCH THỊ HƢƠNG

RÈN KĨ NĂNG PHÁT ÂM TIẾNG VIỆT CHO
HỌC SINH LỚP 1 DÂN TỘC MÔNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

trình khảo sát, tìm hiểu thực tế, thực nghiệm.
Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn đến cô giáo chủ nhiệm và các bạn trong
lớp K51- ĐHGD Tiểu học A đã động viên, khuyến khích và tạo điều kiện cho em
thực hiện đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn !
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Sinh viên Bạch Thị Hƣơng DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

TV : Tiếng Việt
SGK : Sách giáo khoa
SGV : Sách giáo viên
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
NXB : Nhà xuất bản
CNTT : Công nghệ thông tin

CHƢƠNG 2: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG PHÁT ÂM TIẾNG
VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 1 DÂN TỘC MÔNG 36
2.1. Đề xuất biện pháp rèn kĩ năng phát âm 36
2.1.1. Sử dụng trò chơi trong dạy học luyện phát âm 36
2.1.2. Kết hợp với phụ huynh cho tăng cường việc nói tiếng Việt ở nhà 42
2.1.3. Kết hợp vừa đọc vừa viết chữ 46
2.1.4. Phương pháp sử dụng công nghệ thông tin 47
TIỂU KẾT 60
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM 61
3.1. Mục đích thực nghiệm 61
3.2. Đi tưng, thơ
̀
i gian, đi
̣
a ba
̀
n thư
̣
c nghiê
̣
m 61
3.2.1. Đi tượng 61
3.2.2. Thơ
̀
i gian, đi
̣
a ba
̀
n thư
̣

học là những viên gạch đầu tiên đặt nền móng để các em bước vào ngưỡng cửa
của tương lai. Các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và tính toán là các kỹ năng cơ
bản của bậc Tiểu học cần đạt đưc.
Trong s các môn học ở nhà trường Tiểu học thì môn Tiếng Việt ( TV ) là
môn học cần thiết chiếm s tiết nhiều nhất với nhiều phân môn khác nhau nhằm
hình thành rèn luyện cho học sinh ( HS )một hệ thng kĩ năng .
Dạy TV ở Tiểu học là trang bị cho học sinh những tri thức về hệ thng
tiếng Việt, về chuẩn tiếng Việt, rèn luyện cho HS kĩ năng sử dụng tiếng Việt
trong quá trình giao tiếp bao gồm các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết.Trong s các
phân môn TV ở đầu cấp thì phân môn Học vần là phân môn quan trọng trong
chương trình TV ở Tiểu học và nhằm rèn luyện cho học sinh lớp 1 hai kĩ năng
chủ yếu là: đọc - viết. Phân môn học vần chỉ có ở chương trình TV 1, với mục
tiêu dạy chữ viết, dạy phát âm, dạy đọc, nói, cho HS lớp 1, Học vần giúp học
sinh bước đầu làm chủ công cụ, phương tiện học tập – đó là tiếng Việt – để giúp
các em nhận thức đưc thế giới xung quanh, có điều kiện học tt môn TV và các
môn học khác trong chương trình Tiểu học.
1.2. Yêu cầu quan trọng đi với phân môn Học vần ở lớp 1 là rèn cho
HS kĩ năng phát âm.Phát âm chuẩn có nhiều li thế. Trước hết, nó giúp HS viết
đúng chính tả, phát âm dễ dàng khi học ngoại ngữ và các môn học khác. Phát
âm chuẩn còn tạo điều kiện cho HS rèn kĩ năng đọc trong phân môn Tập đọc
sau này.

2
Trong năm học 2010-2011; 2011-2012 Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện
Mường Khương đã chỉ đạo 09 trường Tiểu học trong huyện thuộc các trường
vùng khó thực hiện chuyên đề “Rèn phát âm cho học sinh lớp 1 là người dân
tộc Thiểu số” đạt hiệu quả tt đi với học sinh dân tộc Thái, Khơ mú, Dao
nhưng với học sinh dân tộc Mông thì hiệu quả chưa cao. Trong năm học 2012-
2013, ngoài một s trường ỏ các vùng tình miền núi phía Bắc, các trường có
chất lưng đại trà tương đi ổn định thì đa s các trường có s lưng học sinh là

“Phương pháp dạy học Tiếng Việt” (Giáo trình chính thức đào tạo GV
Tiểu học hệ cao đẳng sư phạm và sư phạm 12 + 2 ) của Lê A – Thành Thị Yên
Mĩ – Lê Phương Nga – Nguyễn Trí – Cao Đức Tiến cũng đưa ra cỏ sở lí luận và
một s phương pháp dạy Học vần.
“Ngữ âm họcTiêng Việt cho học sinh dân tộc cấp tiểu học” (tài liệu đào
tạo GV) của dự án phát triển GV Tiểu học (NXB Giáo dục, 2006) cũng đề cập
đến phương pháp dạy kĩ năng nói cho HS Tiểu học và nghiên cứu cơ sở khoa
học của việc dạy phát âm Tiếng Việt cho HS dân tộc . Ngoài ra cun sách cũng
đưa ra một s biện pháp để luyện phát âm và sửa lỗi phát âm cho HS trong dạy
Học vần. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là những vấn đề lí luận mà chưa đưa ra đưc
các biện pháp cụ thể để luyện phát âm cho HS lớp 1.
“Ngữ âm học Tiếng Việt hiện đại” của tác giả Cù Đình Tú – Hoàng Văn
Thung – Nguyễn Nguyên Trứ(NXB Giáo dụ, 1978) đã đề cập đến một s vấn đề
liên quan đến ngữ âm học trong nhà trường. Mặc dù đã nêu ra một s biện pháp
cụ thể có liên quan đến luyện phát âm song chưa hướng tới đi tưng cụ thể.
“Hướng dẫn sử dụng thiết bị dạy học môn Tiếng Việt lớp 1” của tác giả
Đàm Hồng Quỳnh (NXB Giáo dục, 2003 có nói đến sử dụng thiết bị trong dạy
Học vần bao gồm : sử dụng bộ chữ; sử dụng tranh, ảnh; sử dụng mô hình; sử
dụng mẫu vật trong dạy học âm vần; sử dụng thiết bị dạy học từ ứng dụng, câu
ứng dụng.
“Vui học Tiếng Việt” của tác giả Trần Mạnh Hưởng (NXB Giáo dục,
2000) đã biên soạn những trò chơi, những bài tập vui nhẹ nhàng về Tiếng Việt
theo yêu cầu kiến thức và kĩ năng sử dụng tiếng Việt ở bậc tiểu học đẻ HS vừa
có thể tự học mà vẫn đưc chơi các trò chơi cùng bạn bè theo tinh thần “Học vui
– vui học” một cách hứng thú và bổ ích.

4
Hầu hết các tác giả đều đề cập đến những vấn đề về phân môn Học vần và
luyện phát âm cho HS lớp 1 nhưng còn mang tính lí thuyết, chung chung. Để kế
thừa và phát huy các tinh thần, tư tưởng của các công trình nghiên cứu nói trên

hoàn thành.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận
Mục đích: thu thập thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản
tài liệu, các công trình khoa học có liên quan làm cơ sở lí luận cho đề tài.
Phương pháp đọc.
Phương pháp phân tích.
Phương pháp tổng hp và khái quát hóa.
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp trò chuyện : thu thập thông tin về thực trạng phát âm HS
lớp 1 dân tộc Mông trường Tiểu học Din Chin – Mường Khương – Lào Cai.
Phương pháp thực nghiệm: thực nghiệm một s biện pháp nhằm nâng cao
hiệu quả phát âm tiếng Việt cho HS lớp 1 dân tộc Mông trường Tiểu học Din
Chin – Mường Khương – Lào Cai Phương pháp xử lí kết quả nghiên cứu bằng
thng kê toán học.
8. Đóng góp của đề tài
Là tài liệu tham khảo cho GV Tiểu học trong quá trình giảng dạy ở miền núi
nói chung, GV dạy học lớp 1 dân tộc Mông trường Tiểu học Din Chin – Mường
Khương – Lào Cai và sinh viên khoa Tiểu học – Mầm non nói riêng, trong quá
trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
Nếu đưc ứng dụng, đề tài sẽ góp phần giúp các GV trong quá trình rèn
luyện kĩ năng phát âm đúng cho HS nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phát âm
nói riêng, môn TV và các môn học khác trong nhà trường Tiểu học, đáp ứng yêu
cầu giáo dục đặt ra.
9. Cấu trúc của đề tài
Ngoài các phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, phần
nội dung cơ bản của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn dạy học phát âm tiếng Việt cho học
sinh lớp 1 dân tộc Mông trường Tiểu học Din Chin – Mường Khương – Lào Cai.


bằng các động tác, lưỡi”.
Phát âm trong giờ học vần của HS tiểu học đưc thể hiện thông qua việc
đọc đúng, ghép đúng tiếng, từ. Phát âm chuẩn, đúng góp phần quan trọng trong
việc giúp HS đọc đúng chương trình TV và nói đúng trong giao tiếp. Mun phát
âm chuẩn, luyện phát âm chuẩn cho HS thì GV cần nắm vững những đơn vị ngữ
âm của mỗi đơn vị ngôn ngữ đưc sử dụng trong hoạt động phát âm như: âm vị
và âm tiết. Âm vị là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất của một ngôn ngữ có chức năng
phân biệt nghĩa và nhận diện từ.
*Ví dụ: Khi nghe một em bé goi “ba”. Ta nhận ra từ “ba” nhờ các âm “b”,
“a”.
Để ghi các âm vị, người ta dùng kí hiệu ghi âm t đặt ở trong / /.
*Ví dụ : /b/, /a/.
Âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất trong ngôn ngữ.
*Ví dụ: thuyền : phụ âm đầu / t /
âm đệm / u /

8
âm chính / ie /
âm cui / n /
thanh điệu / 2 /
Âm tiết tiếng Việt là đơn vị phát âm nhỏ nhất, đơn giản về mặt tổ chức, có
giá trị về mặt ngữ pháp. Âm tiết tiếng Việt là đơn vị ngữ âm mang tính ổn định
về mặt hình thức và ranh giới của âm tiết TV do tính chất c định nên bất biến.
Phát âm đúng, chuẩn chỉ có thể có đưc trên cơ sở GV hiểu rõ các yếu t :
âm vị, âm tiết. Vì đó là một trong những cơ sở quan trọng để luyện phát âm cho
HS tiểu học đặc biệt là HS lớp 1.
1.1.3. Vị trí, nhiệm vụ của Học vần và phát âm ở Tiểu học
Phân môn Học vần ở bậc Tiểu học rèn cho HS các kĩ năng : nghe, nói,
đọc, viết trong đó đọc và viết đưc dặc biệt ưu tiên. Học vần có nhiệm vụ giúp
HS:

các giờ dạy TV, cả dạy đọc, viết… phải đi theo khuynh hướng này. HS phải ý
thức đưc chức năng của ngôn ngữ , nắm vững các phương tiện, kết cấu và quy
luật cũng như hoạt động hành chức của nó. HS cần hiểu rõ người ta nói và viết
không phải chỉ để cho mình và cho người khác nên ngôn ngữ cần phải rõ ràng,
chính xác, đúng đắn dễ hiểu. Đồng thời vì ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp nên
phải lấy hoạt động giao tiếp là phương tiện để dạy Và học TV.
Ngôn ngữ luôn gắn bó chặt chẽ với tư duy. “ Ngôn ngữ là hiện thực trực
tiếp của tư tưởng” ( C. Mác ). Ngôn ngữ là phương tiện của nhận thức lôgic, lí
tính. Trong các đơn vị của dạng thức ngôn ngữ có sự khái quát hóa, trừu tưng
hóa. Tư duy của con người không thể phát triển nếu thiếu ngôn ngữ . Việc chiếm
lĩnh ngôn ngữ nhằm tạo ra những hình thức ngôn ngữ khác nhau.
1.1.4.2. Cơ sở tâm - sinh lý học
Sự chuyển đổi loại hình hoạt động của trẻ ở đầu lớp 1: các nhà nghiên
cứu tâm lí đã chỉ ra rằng : mỗi con người là một thực thể của xã hội . Con người
ấy sẽ trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau về tâm lý, nhận thức cũng
như thể chất. Trong đó giai đoạn từ 0 đến 6 tuổi có thể coi là nền tảng, tiền đề ;
giai đoạn từ 6 tuổi đến 11 tuổi là giai đoạn cơ sở mang tính quyết định trực tiếp
tới sự hình thành và phát triển nhân cách mỗi con người . Ở hai giai đoạn này có
sự chuyển đổi hoạt động : nếu như ở trường mầm non, vui chơi là hoạt động chủ

10
đạo, các em đưc vui chơi những gì mình thích thì bước sang giai đoạn sau, học
tập là chủ yếu, hoạt động vui chơi giảm dần.
Học lớp 1 là một bước ngoặt trong đời sng của trẻ. Tư đay hoạt động chủ
đạo của trẻ: hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo chuyển sang hoạt động mới:
hoạt động học học tập. Ở đây các em trở thành HS thực thụ và có địa vị mới
trong gia đình và xã hội. Các em đưc biết đến lớp học, bạn bè, thầy cô. Sự
chuyển đổi hoạt động chủ đạo này có tác động đến tâm, sinh lí của trẻ. Do đó
phải giúp trẻ thích ứng với hoạt động bằng nội dung vừa sức cùng với sự động
viên, khích lệ.

vận động của trẻ cũng đã đạt đưc những bước phát triển đáng kể. Các em có
thể chủ động điều khiển các hoạt động cuả cơ thể như tay, mặt, đầu, cổ có thể
phi hp nhiều động tác khác nhau. Đây là điều kiện cần thiết để các em có thể
học viết, một hoạt động đòi hỏi sự chủ động của cánh tay, ngón tay, bàn tay với
sự phi hộp của mắt nhìn, tai nghe, tay viết.
Ở thời kì này, ý thức về cấu trúc không gian của trẻ cũng hình thành. Sự
phân biệt bên trên, bên dưới, bên phải, bên trái… không còn khó khăn đi với
các em. Dựa vào những đặc điểm này, GV có thể hướng dẫn các em tập viết,
luyện phát âm tt hơn.
Từ những đặc điểm tâm – sinh lý trên đây ta thấy ở lứa tuổi 6 – 7 tuổi sự
phát triển tâm – sinh lý của trẻ đảm bảo đủ điều kiện để các em bước vào quá
trình học âm – chữ, học vần.
Trên cơ sở những điều kiện về tâm sinh lý của trẻ giai đoạn này, căn cứ
vào nhiệm vụ của GV trong dạy Học vần, cần tạo ra cho các em kĩ năng, thói
quen: nghe - nói - đọc - viết. GV cần tạo ra mục đích, động cơ học tập sao cho
nhẹ nhàng, sinh động sao cho thu hút hứng thú học tập của các em. Tuy nhiên,
mỗi HS là một cá thể và khả năng nhận thức của các em cũng khác nhau. Do vậy
để thực hiện tt nhiệm vụ dạy Học vần, GV cần nắm rõ những đặc điểm cũng
như những diễn biến tâm lý của trẻ. Từ đó có những biện pháp điều chỉnh, đổi
mới về nội dung, hình thức sao cho phù hp với đặc điểm tâm lý, tư duy, năng
lực của trẻ, đảm bảo tính vừa sức, hấp dẫn trẻ tham gia Học vần.
1.1.4.3. Cơ sở ngôn ngữ học
Những đặc điểm của ngữ âm tiếng Việt và dạy tiếng Việt ở lớp 1:

12
Đặc trưng loại hình của tiếng Việt thể hiện ở chỗ tiếng Việt là thứ ngôn
ngữ có nhiều thanh điệu và độc lập, mang nghĩa (xét từ góc độ ngữ âm). Vì thế
trong lời nói, ranh giới giữa các âm tiết đưc thể hiện rõ ràng, các âm tiết không
bị ni dính vào nhau như trong các ngôn ngữ biến hình. Đây là điều kiện thuận
li cho quá trình dạy âm, dạy chữ.

bản, nguyên tắc đảm bảo sự tương ứng 1 – 1 giữa âm và chữ, tức là mỗi âm chỉ
ghi bằng một chữ, mỗi chữ chỉ có một cách phát âm. Điều này tạo điều kiện
thuận li cho HS trong Học vần (học âm, học chữ). Tuy nhiên, trong quá trình
dạy Học vần, có ,một s khó khăn về chữ viết do các nguyên nhân:
+ Cấu tạo của hệ thng chữ viết tiếng Việt còn tộn tại một s bất hp lý
như: một âm ghi bằng nhiều con chữ (âm (k) ghi bằng 3 con chữ: c, k ,q) hoặc
một chữ dùng để ghi nhiều âm (chữ “g” trong tiếng “gì” và tiếng “gà”). Điều
này làm cho các em dễ bị nhầm lẫn khi đọc, khi viết.
+ Chữ viết phân biệt theo hệ thng ngữ âm chuẩn nhưng cách đọc của HS
laị thể hiện ngữ âm của phương ngôn: HS người miền Bắc thường không đánh
vần đưc các âm quặt lưỡi, HS người miền Trung không phân biệt đưc thanh
hỏi, thanh ngã…
Mặc dù vậy chữ viết tiếng Việt có cấu tạo đơn giản và tiếng Việt có tính
thng nhất cao tạo những điều kiện thuận li cho dạy Học vần ở Tiểu học nói
chung, chương trình lớp 1 nói riêng.
Chức năng của ngôn ngữ:
Ngôn ngữ vừa là công cụ của giao tiếp vừa là công cụ của tư duy. Khi
hoạt động giao tiếp diễn ra cũng có nghĩa là những nhận thức tư tưởng, tình cảm
đưc trao đổi giữa chủ thể giao tiếp với đi tưng giao tiếp. Ngôn ngữ là hiện
thực trực tiếp của tư tưởng. Không có từ, câu nào mà không biểu hiện khais
niệm của tư tưởng và ngưc lại, không có ý nghĩ, tư tưởng nào lại không tồn tại
dưới dạng ngôn ngữ. Ngôn ngữ trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tư
tưởng. Tất cả những ý nghĩ, tư tưởng chỉ rõ ràng khi đưc biểu hiện bằng ngôn
ngữ. Với một đứa trẻ 6 tuổi, dù vn từ còn nghèo nàn, khả năng tư duy chua cao
thì việc sử dụng ngôn ngữ trong học tập, giao tiếp, đặc biệt là khi luyện phát âm,
luyện nói trong giờ Học vần, các em đưa vào trong đó những suy nghĩ, định
hướng, mục đích ban đầu.
Ngôn ngữ là phương tiện để trao đổi tình cảm, tư tưởng giữa người giao
tiếp với người đưc giao tiếp, ngôn ngữ ở cả dạng viết và dạng nói. Vì vậy luyện


năng tri giác và đánh giá thời gian, không gian của học sinh tiểu học còn hạn chế.

15
Chú ý: ở lứa tuổi HS tiểu học, chú ý có chủ định của các em còn yếu, khả
năng điều chỉnh một cách có ý chí chưa mạnh dạn. Sự chú ý của HS đòi hỏi một
động cơ gần thúc đẩy. Nếu ở HS các lớp cui bậc Tiểu học, chú ý có chủ định
đưc duy trì ngay cả khi chỉ có động cơ xa thì học sinh các lớp đầu bậc học
thường bắt mình chú ý khi có những động cơ gần. Ở lứa tuổi này, chú ý không
chủ định đưc phát triển. Những gì mang tính mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác
thường dễ dàng lôi cun sự chú ý của các em.
Sự tập trung chú ý của các em lớp 1, lớp 2 thiếu bền vững, khả năng phát
triển chú ý có chủ định, bền vững tập trung ở học sinh tiểu học là rất cao. Bản
thân của quá trình học tập đòi hỏi các em phải rèn luyện thường xuyên sự chú ý
có chủ định , rèn luyện ý chí. Sự chú ý có chủ định đưc phát triển cùng với sự
phát triẻn động cơ học tập mang tính xã hội cao, cùng với sự trưởng thành ấy về
ý thức trách nhiệm với kết quả học tập. Vì vậy, trong quá trình dạy học GV cần
tạo điều kiện cho HS tham gia học tập bằng các đồ dùng trực quan,nhiều màu
sắc sinh động để thu hút sự chú ý của HS.
Trí nhớ: do hoạt động hệ thng tín hiệu thứ nhất của HS ở lứa tuổi này
tương đi chiếm nên trí nhớ trực quan - hình tưng đưc phát triển hơn trí nhớ
từ ngữ - lôgic. Các em nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tưng cụ thể
nhanh hơn và tt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng. HS ở lớp
1 và lớp 2 có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần,
có khi chưa hiểu đưc mi quan hệ, ý nghĩa của tài liệu học tập đó. Các em
thường học thuộc lóng tài liệu học tập theo đúng tứng câu, từng chữ và không
sắp xếp lại, sửa đổi lại, diễn đạt bằng những lời lẽ của mình.
Trong quá trình dạy học, GV cần giúp HS biết cách khái quát hóa, đơn
giản mọi vấn đề, xác định đâu là nội dung cần ghi nhớ, hình thành các em tâm lý
hứng thú, vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức .
Ngôn ngữ: hầu hết HS tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo, khi trẻ vào

Xác định đưc kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết.
* Kĩ năng nghe
- Nghe trong hội thoại:
+Nhận biết sự khác nhau của các âm, các thanh và các kết hp của
chúng ; nhận biết sự thay dổi về độ cao , ngắt, nghỉ hơi.

17
+Nghe hiểu câu kể, cau hỏi đơn giản.
+ Nghe lời hướng dẫn hoặc yêu cầu.
- Nghe hiểu văn bản: nghe hiểu câu chuyện nội dung thích hp với HS lớp 1.
* Kĩ năng nói
- Nói trong hội thoại:
+ Nói đủ to, rõ ràng, thành câu.
+Biết đặt và trả lời câu hỏi lựa chọn về đi tưng .
+Biết chào hỏi chia tay trong gia đình, trường học .
- Nói thành bài: kể lại một câu chuỵen đã đưc nghe.
* Kĩ năng đọc
- Đọc thành tiếng:
+ Biết cầm sách đọc đúng tư thế.
+ Đọc đúng và trơn tiếng, đọc liền từ, đọc cụm từ và câu; tập ngắt,
nghỉ (hơi) đúng chỗ.
- Đọc hiểu: hiẻu nghĩa các từ thông thường, hiểu ý đưc diễn đạt trong
câu đã đọc ( độ dài câu khoảng 10 tiếng ).
- Học thuộc lòng một s bài văn vần ( thơ, ca dao, …) trong SGK.
* Kĩ năng viết
- Viết chữ: tập viết đúng tư thế, hp vệ sinh; viết các chữ cái cỡ vừa và cỡ
nhỏ; tập ghi dấu thanh đúng vị trí; làm quen với chữ hoa cỡ lớn và cỡ vừa theo
mẫu chữ quy định; tập viết các s đã học.
- Viết chính tả:
+ Hình thức chính tả: tập chép, bước đầu tập nghe, đọc để viết

1.1.6.2. Sách giáo khoa
* Cấu trúc sách:
TV 1 phần Học vần gồm 103 bài chia làm 3 phần:
- Phần thứ nhất gồm 6 bài đầu, dành cho việc làm quen với chữ cái e, b,
các dấu thanh và cấu trúc tiếng dạng đơn giản nhất.
- Phần thứ hai gồm 25 bài tiếp theo dành cho việc học chữ cái và âm,
cấu trục tiếng có vần và một nguyên âm.

19
- Phần thứ 3 gồm 72 bài còn lại dành cho việc học các vần thườn gặp,
cấu trúc tiếng có phần phức tạp dần.
Phần Học vần của sách TV 1 đưc in ở hai tập. Tập một gồm 83 bài , tập
hai gồm 20 bài, cụ thể như sau:
Phần
Nội dung
S bài
Làm quen chữ cái và
âm, vần thường gặp
Chữ cái e, b và các dấu thanh
Các con chữ đơn, kép thể hiện phụ
âm, nguyên âm.
Các kết hp con chữ thể hiện vần
thường gặp.
6 bài
25 bài

72 bài

Tổng
103 bài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status