rèn phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 dân tộc mông - Pdf 18



1 ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Tổ chuyên môn Tiểu học
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
"RÈN PHÁT ÂM TIẾNG VIỆT
CHO HỌC SINH LỚP 1 DÂN TỘC MÔNG"
Họ và tên người thực hiện: Nguyễn Thị Lan
Chức vụ: Cán bộ chuyên môn

công cụ để học tập các môn học, đọc, nói tiếng Việt tạo ra hứng thú và
động cơ học tập, nó là khả năng không thể thiếu của con người thời đại
công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước. chính vì vậy trường học có nhiệm
vụ dạy đọc, nói tiếng Việt cho học sinh nhất là học sinh dân tộc thiểu số
một cách có kế hoạch, có hệ thống. Đây là vấn đề mà các nhà quản lý giáo
dục và các thầy, cô giáo trăn trở trong nhiều năm qua với mong muốn tìm
ra các biện pháp khắc phục hữu hiệu nhất, để đạt được mục đích giáo dục ở
bậc Tiểu học nói chung và ở môn Tiếng Việt nói riêng.
Trong năm học 2010-2011; 2011-2012 Phòng Giáo dục và Đào tạo
huyện Tân Uyên đã chỉ đạo 09 trường Tiểu học trong huyện thuộc các trường
vùng khó thực hiện chuyên đề “Rèn phát âm cho học sinh lớp 1 là người dân
tộc Thiểu số” đạt hiệu quả tốt đối với học sinh dân tộc Thái, Khơ mú, Dao
nhưng với học sinh dân tộc Mông thì hiệu quả chưa cao. Trong năm học
2012-2013, ngoài một số trường dọc theo quốc lộ 32, các trường có chất lượng
đại trà tương đối ổn định thì đa số các trường có số lượng học sinh là người
dân tộc thiểu số tương đối đông trường đó dân tộc Thái chiếm đa số tỷ lệ là
75,9 %, còn lại là học sinh dân tộc Mông và một số dân tộc khác. Trong số học
sinh các dân tộc thiểu số thì học sinh dân tộc Mông phát âm tiếng Việt là khó
khăn nhất, bởi học sinh dân tộc thiểu số ngôn ngữ tiếng Việt của các em còn
nhiều hạn chế, các em đến trường học phải thường xuyên được rèn bốn kỹ
năng: nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt. Tuy nhiên hạn chế lớn là các em thường
phát âm sai, đọc lệch chuẩn tiếng Việt. Học sinh dân tộc Mông việc phát âm
của các em theo âm gió, phát âm giống như khi ta phát âm tiếng Anh, chính vì 3

vậy khi phát âm tiếng Việt các em phát âm sai và đọc lệch chuẩn trầm trọng, từ
việc đọc sai, nói sai dẫn đến việc viết sai theo đọc, nói nên khi người khác đọc
văn bản do các em viết đã hiểu sai nội dung văn bản đó.

chính tả kết hợp với sử dụng khẩu hình để uốn nắn học sinh.
- Tính sáng tạo khắc phục được những lỗi mà học sinh thường mắc
phải để mỗi giáo viên có hướng rèn luyện, bồi dưỡng hiệu quả việc phát âm
sai tiếng Việt của học sinh dân tộc Mông khi bắt đầu bước vào lớp đầu cấp.
4

PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận
1. Cơ sở tâm sinh lí, đặc điểm tâm lí học sinh Tiểu học
Học sinh Tiểu học, con người với cấu tạo đầy đủ các bộ phận của
một cơ thể đang phát triển. Trong đó, cơ quan phát âm, ngôn ngữ phát triển
mạnh, phù hợp với sự tiếp nhận và thực hiện dễ dàng các hoạt động mới
theo chức năng của chúng: chức năng phát âm-tập đọc.
Khả năng nhận thức, tư duy, tưởng tượng, tình cảm, trí nhớ và nhân
cách học sinh đang được hình thành, tiềm tàng khả năng phát triển và đang
phát triển.
Học sinh Tiểu học hồn nhiên, ngây thơ, trong sáng, hiếu động, tò
mò, thích hoạt động, thích khám phá, thường độc lập, tự lực làm việc
theo hứng thú của mình.
Thầy cô là hình tượng mẫu mực nhất được trẻ tôn sùng nhất, mọi
điều trẻ đều nhất nhất nghe theo, sự phát triển nhân cách của học sinh Tiểu
học phụ thuộc phần lớn vào quá trình dạy học và giáo dục của thầy, cô
trong nhà trường.
Rèn phát âm cho học sinh Tiểu học bước đầu đem đến sự vận động
khoa học cho não bộ và các cơ quan phát âm, ngôn ngữ đem đến những
tinh hoa văn hoá, văn học nghệ thuật trong tâm hồn trẻ, rèn kĩ năng đọc,
hiểu, cảm thụ văn học, rèn luyện tình cảm đạo đức, ý chí, ý thức, hành

Vần
Âm đầu
1
Âm đệm
2
Âm chính
3
Âm cuối
4
* Thành phần ở vị trí 1 là âm đầu do các phụ âm đảm nhiệm.
* Thành phần ở vị trí 2 là do âm đệm, đó là nguyên âm trong chữ viết,
được thể hiện bằng chữ o chẳng hạn (Loan); bằng chữ u (Xuân)…
* Thành phần ở vị trí 3 là âm chính do các nguyên âm đảm nhiệm. Âm
chính là hạt nhân của âm tiết.
* Thành phần ở vị trí 4 là âm cuối, do các phụ âm bán nguyên âm (i,
y, u, o) đảm nhiệm.
* Các thành phần ở vị trí 2, 3, 4 ghép lại với nhau thành một bộ phận
gọi là phần vần. Âm bao giờ cũng phải có âm chính và thanh điệu, vị trí
còn lại có thể có hoặc không.
- Âm tiết tiếng Việt có cấu trúc hai bậc: Bậc thứ nhất bao gồm các
thành tố của thành phần vần.
Âm tiết
Bậc 1: Thanh điệu Âm đầu Phần vần


- Phụ âm tắc: Hơi bị cản lại sau thoát ra đường miệng vào mũi: b, d, t,
s, k, m, p, ng.
- Phụ âm sát: Hơi đi qua kẽ hở miệng: p, v, s, z, l, x, y, h.
- Phụ âm vang: Hơi thoát ra đầu lưỡi và bên lưỡi: m, n, nh.
- Phụ âm ồn: Hơi thoát ra đường miệng có tiếng ồn: b, d, t, k, p, f, v, x,
z, y, h.
- Phụ âm hữu thanh, vô thanh trong các âm ồn: Căn cứ vào chỗ dây
thanh có rung hay không rung người ta chia ra:
+ Phụ âm hữu thanh: Dây thanh rung (d, v, y).
+ Phụ âm vô thanh: Dây thanh không rung (t, k, c, b, s, x, h).
- Về vị trí cấu âm ta phân phụ âm thành:
+ Phụ âm môi: p, b, m, f, v,
+ Phụ âm lưỡi: d, t, s, z, l, n 7

+ Phụ âm hầu: h
Trong các âm lưỡi sự đối lập nhau giữa đầu lưỡi hẹp: r, t, s, z, l, n; đầu
lưỡi quật: đ, a.
Phần vần là do thành phần của âm đệm, âm chính, âm cuối ghép với
nhau thành một bộ phận gọi là phần vần.
Ví dụ: Âm tiết Loan:
O là âm đệm
A là âm chính
N là âm cuối
Oan là phần vần.
Ngôn ngữ học đã chỉ rõ những nội dung cụ thể về các vấn đề của ngôn
ngữ như chữ viết, chính âm, chính tả, nghĩa của từ, câu, đoạn, văn bản, ngữ
điệu, nhịp điệu, tình cảm ngôn ngữ,… Đó là những vấn đề gắn bó trong

chính là đã nghiên cứu vận dụng tốt những thành tựu của ngôn ngữ văn
học để chuyển thành văn bản viết tiếng Việt đúng, chính xác.
3. Cơ sở giáo dục và phát triển
Rèn phát âm tiếng Việt cho học sinh lớp 1 dân tộc Mông là một
phần thực hành trong các giờ học (đặc biệt là dạy học Tiếng Việt).
Nhiệm vụ quan trọng của nó là hình thành năng lực đọc, nói cho học
sinh. Năng lực đó thể hiện ở 4 yêu cầu: Đọc đúng, đọc nhanh, đọc có ý
thức (đọc hiểu) và đọc hay (đọc diễn cảm), nói đúng chuẩn. Cần phải
hiểu kĩ năng đọc, nói có nhiều mức độ, nhiều tầng bậc khác nhau.
Đầu tiên là giải mã chữ - âm tiếng Việt một cách sơ bộ, đọc, nói
đúng âm, vần, tiếng, từ tiếp theo đọc, nói là phải hiểu được nghĩa của từ,
tìm được các từ, câu “chìa khoá” (chốt, trọng yếu) trong bài, biết tóm tắt
nội dung của đoạn. Với những bài văn biết phát hiện ra yếu tố “văn” và
đánh giá được giá trị của chúng trong việc biểu đạt nội dung. Như vậy, biết
đọc tiếng Việt đồng nghĩa với kĩ năng làm việc với văn bản tiếng Việt,
chiếm lĩnh được văn bản tiếng Việt ở các tầng bậc khác nhau. Người giáo
viên dạy cho học sinh học nói thông qua một số hoạt động kể lại, hỏi-đáp,
đối thoại ; học đọc thông qua các hoạt động luyện tập, phát âm, đọc theo
người lớn, đọc theo tranh có sự hướng dẫn của người lớn,
II. Thực trạng của vấn đề
1. Thực trạng của việc rèn phát âm tiếng Việt cho học sinh dân
tộc thiểu số nói chung
Rèn phát âm tiếng Việt là nhiệm vụ rất quan trọng đối với giáo viên
Tiểu học. Do đó, vấn đề dạy rèn phát âm tiếng Việt hiện nay đang được
quan tâm, chú trọng. Có nhiều chuyên đề, phương pháp đặt ra nhằm nâng
cao chất lượng phát âm tiếng Việt, chất lượng đọc cho sinh lớp 1.
Đối với học sinh dân tộc thiểu số, tiếng Việt không phải là
ngôn ngữ duy nhất để các em tiếp thu kiến thức và nhận biết thế giới
xung quanh, các em đến trường với một ngôn ngữ hoàn toàn khác
ngôn ngữ thường sử dụng tiếng mẹ đẻ, bởi vậy tiếng mẹ đẻ ảnh hưởng

dân tộc Mông của hai trường như sau:
Khi học các em thường phát âm sai:
+ 73 em khi phát âm (nói, đọc) bị khuyết âm ví dụ: thuồng luồng
thường phát âm thành thuồn luồn, chín điểm thành chí đỉa
+ 39 em khi phát âm (nói, đọc) thay đổi âm cuối: xà beng biến đổi
thành xà bem, vần em lẫn sang vần eng, nhầm eo/oe, ưu/ươu, eng/anh,
ua/ươ, êch/êc,…
+ 27 em khi phát âm (nói, đọc) lẫn các thanh điệu, nhầm thanh điệu.
+ 24 em khi phát âm (nói, đọc) bị bỏ đi mất nguyên âm o, ơ, ư, e …
+ 31 em khi phát âm (nói, đọc) sai l thành đ, b thành v, t thành th
Từ kết quả trên tôi nhận thấy các nguyên nhân chủ yếu:
* Nguyên nhân về phía học sinh:
Thứ nhất khác với học sinh người kinh, trước khi đến trường, đa số
học sinh dân tộc Mông chưa biết sử dụng tiếng Việt. Thực tế các em cũng
được trải qua sự chăm sóc của lớp Mầm non, nhưng vốn kiến thức ban đầu
về tiếng Việt, như những mẫu hội thoại đơn giản mang tính bắt đầu, những
kỹ năng cơ bản như nghe, nói mà trường Mầm non đã trang bị cho các em,
vì những lý do khách quan khác nhau đã không còn theo các em bước vào
lớp1. Bởi trong sinh hoạt gia đình, cộng đồng, người dân ở đây, cũng như
các em chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ nên khi bước ra thế giới bên ngoài, vào
môi trường giáo dục phổ thông, tiếng Việt lúc bấy giờ là ngôn ngữ thứ hai
của các em. Việc giao tiếp thông thường với thầy cô giáo đã khó khăn và
cũng có khi là không thể, việc nghe giảng những kiến thức về các môn học
khác nhau bằng tiếng Việt lại càng khó khăn hơn đối với các em. Đến
trường, đến lớp là các em bước đến một môi trường sinh hoạt hoàn toàn xa 10

lạ, tâm lý rụt rè, e sợ luôn thường trực trong các em, làm giảm tốc độ bước

thốn. Các em phát âm sai nhiều do tiếng mẹ đẻ với tiếng Việt phát âm
khác nhau, người dân tộc Mông khi phát âm chủ yếu là âm gió nên việc
phát âm các nguyên âm tiếng Việt thì dễ dàng, nhưng phát âm phụ âm
tiếng Việt rất khó khăn và hạn chế, từ việc đọc sai tiếng Việt các em
nói sai tiếng Việt và viết văn bản tiếng Việt cũng sai theo đọc, nói nên
khi người khác đọc văn bản tiếng Việt của các em viết sẽ hiểu sai nội
dung văn bản.
* Nguyên nhân về phía giáo viên
- Một số giáo viên chưa biết vận dụng các nguyên tắc dạy học môn
Tiếng Việt trong thực hành giảng dạy. 11

- Việc chuẩn bị bài và lập kế hoạch bài dạy chưa cụ thể, vận dụng
phương pháp dạy học chưa linh hoạt, chưa đảm bảo quy trình và đặc trưng
bộ môn.
- Việc hướng dẫn học sinh sửa sai chưa kịp thời, chưa tỉ mỉ, chưa
quan tâm đến việc học tập và sử dụng tiếng phổ thông cho các em ở tại gia
đình và trong cộng đồng.
- Việc sử dụng đồ dùng, thiết bị trong quá trình dạy của thầy và học
của trò chưa hiệu quả.
- Một số giáo viên chưa đầu tư về chuyên môn.
- Giáo viên chưa thật sự đầu tư vào khâu chuẩn bị bài và lập kế
hoạch bài dạy.
- Một số giáo viên chưa coi trọng việc đọc mẫu nên phát âm (đọc
mẫu) chưa đúng với chuẩn. Một số giáo viên còn phát âm theo ngôn ngữ
địa phương các vùng miền của mình nên rất khó khăn khi rèn đọc tiếng
Việt cho học sinh.
- Một số giáo viên khi dạy học còn lạm dụng việc sử dụng tiếng dân

- Ban Giám hiệu các đơn vị trường đã quan tâm tới chất lượng giảng
dạy, nhưng chưa thực sự làm tốt công tác tuyên truyền và chưa thật sự
quan tâm chỉ đạo việc rèn phát âm, rèn đọc tiếng Việt cho học sinh lớp 1 là
dân tộc thiểu số.
- Một số ít các đồng chí quản lí chưa thực sự quan tâm đến việc tổ
chức sinh hoạt chuyên môn theo cụm, chưa tích cực tạo điều kiện cho giáo
viên đi giao lưu học hỏi về chuyên môn.
- Số lượng giáo viên mới quá đông cùng với số lượng giáo viên
nữ trong độ tuổi sinh đẻ nhiều dẫn đến việc lựa chọn giáo viên dạy lớp
1 còn gặp nhiều khó khăn.
* Nguyên nhân về phía Tổ chuyên môn
- Chưa thực sự quan tâm đến việc rèn phát âm tiếng Việt cho học
sinh dân tộc Mông dẫn đến chưa đưa vấn đề thuộc chuyên đề này vào
các buổi sinh hoạt chuyên môn.
Sau thực tế đã tiến hành phân tích, tìm hiểu nguyên nhân và để
khắc phục chất lượng phát âm (đọc, nói) tiếng Việt của học sinh dân tộc
thiểu số nói chung và của học sinh lớp 1 dân tộc Mông, tôi đã mạnh dạn
trình bày hệ thống biện pháp sau.
III. Các biện pháp rèn phát âm tiếng Việt cho học sinh lớp 1 dân
tộc Mông
1. Đối với Ban Giám hiệu các trường
- Tập trung tuyên truyền bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ về
phẩm chất đạo đức, về kiến thức và kỹ năng sư phạm. Tích cực xây dựng
tập thể sư phạm đoàn kết, lớn mạnh về mọi mặt. Tổ chức tuyên truyền rộng
rãi trong cộng đồng và hướng dẫn gia đình biết phối hợp hỗ trợ sử dụng
tiếng phổ thông (tiếng Việt) làm công cụ giao tiếp và sinh hoạt hàng ngày.
- Xây dựng kế hoạch chỉ đạo thực hiện chuyên môn phù hợp. Xây
dựng kế hoạch bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ đồng thời thực hiện
tốt hoạt động dạy học và sinh hoạt chuyên môn; tăng cường sự chỉ đạo,
hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn kết hợp với đánh giá xếp loại giáo viên

khắc phục, sau đó đề xuất với nhà trường để được giúp đỡ.
- Tổ chức sinh hoạt chuyên đề “Rèn phát âm tiếng Việt cho HS lớp 1
dân tộc Mông” và thực hành để nâng cao chất lượng đọc, nói đúng tiếng
Việt ở học sinh dân tộc Mông tại các trường có học sinh chủ yếu là người
dân tộc Mông.
- Giao trách nhiệm và thường xuyên đôn đốc, kiểm tra cách khắc
phục tình trạng học sinh đọc yếu, đọc sai ở từng lớp và báo cáo trực tiếp
lên Ban Giám hiệu nhà trường.
3. Đối với giáo viên
Từ khi học trong các trường sư phạm giáo viên đã được biết đến các
nguyên tắc dạy học môn Tiếng Việt, giáo viên phải tư duy lại nắm chắc và
nhớ kỹ các nguyên tắc dạy học môn Tiếng Việt để vận dụng giảng dạy
môn Tiếng Việt trong trường Tiểu học. Các nguyên tắc đó như sau:

14

* Nguyên tắc thứ nhất: Nguyên tắc phát triển tư duy
Ngôn ngữ và tư duy của con người là hai phạm trù có mối liên hệ
mật thiết, có sự tác động và hỗ trợ lẫn nhau. Ngôn ngữ là công cụ để tư
duy và tư duy là hiện thực trực tiếp của ngôn ngữ. Ngôn ngữ là tiền đề
và là điều kiện để tư duy phát triển và ngược lại. Mối quan hệ này có
ảnh hưởng rất lớn đến quá trình dạy Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học.
Mục tiêu đầu tiên của việc dạy Tiếng Việt ở tiểu học là góp phần hình
thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt, phát triển
tư duy cho học sinh. Điều này được thực hiện thông qua quá trình dạy
học Tiếng Việt, quá trình học sinh từng bước chiếm lĩnh tiếng Việt văn
hoá. Nói cách khác, cùng với quá trình dạy học Tiếng Việt, đồng thời ở


- Xem xét các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động hành chức, tức là đưa
chúng vào các đơn vị lớn hơn. Ví dụ xem xét từ hoạt động trong câu như
thế nào, câu ở trong đoạn trong bài ra sao.
- Phải tổ chức hoạt động nói năng của học sinh để dạy tiếng Việt,
nghĩa là phải sử dụng giao tiếp như một phương pháp dạy học chủ đạo ở
tiểu học.
* Nguyên tắc thứ ba: Nguyên tắc chú ý tâm lí và trình độ tiếng Việt
vốn có của học sinh
Nguyên tắc này yêu cầu :
- Dạy Tiếng Việt phải chú ý đặc điểm tâm lí học sinh, đặc biệt là bước
chuyển khó khăn từ hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi sang hoạt
động học tập.
- Việc học Tiếng Việt phải dựa trên sự hiểu biết chắc chắn về trình độ
tiếng mẹ đẻ vốn có của học sinh.
Khác với học các môn học khác, học môn Tiếng Việt, học sinh tiếp
xúc với một đối tượng quen thuộc gắn bó với cuộc sống hàng ngày của các
em. Trước khi vào học ở nhà trường, học sinh đã sử dụng tiếng Việt với hai
loại hoạt động nói và nghe, các em đã có một vốn từ nhất định, làm quen
với một số quy luật tạo lập lời nói tiếng Việt một cách tự phát.
Do vậy, yêu cầu thứ nhất khi dạy học Tiếng Việt là phải chú ý đến
trình độ vốn có của học sinh từng lớp, từng vùng miền khác nhau để định
nội dung, kế hoạch và phương pháp dạy học. Yêu cầu thứ hai là phải phát
huy tính chủ động của học sinh trong giờ học Tiếng Việt. Giáo viên cần
phải tạo điều kiện để học sinh hình thành lời nói hoàn chỉnh của mình
trong các cuộc hội thoại, trong các hình thức học tập khác nhau: cá nhân,
nhóm, lớp
* Nguyên tắc thứ tư:Nguyên tắc kết hợp rèn luyện cả hai hình thức
lời nói dạng viết và dạng nói
Nói và viết là hai dạng lời nói có quan hệ chặt chẽ trong việc hoàn

Về bản chất, kết hợp dạy Tiếng Việt với dạy văn hoá và văn học là
một phương hướng tích hợp trong dạy Tiếng Việt ở tiểu học. Vận dụng
nguyên tắc này, việc dạy Tiếng Việt ở tiểu học được định hướng như sau:
- Ngoài những ngữ liệu khác, ngữ liệu để dạy Tiếng Việt (các văn bản
dạy Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu ) được lựa chọn từ
những tác phẩm văn học. Trong số các bài có ngữ liệu là văn bản văn học,
tỉ lệ bài thuộc thể loại văn xuôi cao hơn các thể loại khác. Đó là các bài có
nội dung văn học, văn hoá Việt Nam và thế giới.
- Trong quá trình dạy Tiếng Việt cần từng bước cho học sinh nhận biết
cái chân, cái thiện, cái mĩ của văn học thông qua việc nhận biết giá trị thẩm
mĩ của các yếu tố ngôn ngữ trong bài văn. Những nhận biết và cảm xúc đó
sẽ là cơ sở ban đầu của việc học văn ở bậc trung học sau này của học sinh.
- Nhờ dạy Tiếng Việt tích hợp với dạy văn, học sinh được làm quen
với một số thuật ngữ (như tác phẩm, tác giả, nhân vật; thể loại tục ngữ,
câu đố, ca dao, thơ, truyện ), được rèn luyện các kĩ năng cơ bản (như kể
chuyện, tóm tắt chuyện, tìm đại ý, bố cục, nhận xét về nhân vật, về tác
giả, tác phẩm, nêu cảm nghĩ, liên tưởng, phát hiện các biện pháp tu từ,
phát hiện các chi tiết nghệ thuật ).
* Nguyên tắc thứ bảy: Nguyên tắc hướng tới những phương pháp và
hình thức dạy học tích cực
Nguyên tắc này thể hiện: 17

- Kế thừa và phát huy những phương pháp và hình thức dạy học phát
huy tính tích cực của người học đã được vận dụng trong dạy học Tiếng Việt
từ lâu nay.
- Đưa vào những yếu tố mới (những phương pháp, kĩ thuật dạy học
mới) để giúp người học phát huy được tính tích cực trong học tập.
18

dụng một cách linh hoạt, mềm dẻo, không cứng nhắc, vận dụng phải phù
hợp đối tượng, vùng miền.
Giáo viên phải biết tiếng dân tộc thiểu số để thuận lợi trong việc giao
tiếp và giúp đỡ học sinh nhất là tiếng dân tộc Mông. Tuy nhiên trong giảng
dạy giáo viên không nên quá lạm dụng việc sử dụng tiếng dân tộc mà chỉ
sử dụng nó để làm công cụ hỗ trợ giải nghĩa tiếng, từ tiếng Việt cho học
sinh hiểu thực chất của từ tiếng Việt khi đọc, nói tiếng Việt.
Sau khi nhận lớp phải tiến hành khảo sát, đánh giá, phân loại đối
tượng học sinh, lập danh sách học sinh đọc yếu, đọc sai để tiện theo dõi và
báo cáo cấp trên.
Tìm hiểu nguyên nhân và có biện pháp khắc phục, rèn luyện học sinh hợp
lý, hiệu quả, đề xuất, báo cáo Tổ trưởng, nhà trường để được giúp đỡ thêm.
Lập kế hoạch và thực hiện rèn phát âm tiếng Việt cho học sinh, bồi
dưỡng ngay trong các tiết học chính khóa, giờ hoạt động tập thể, ngay
cả ở nhà và chủ động gặp gỡ trao đổi với phụ huynh học sinh để thống
nhất biện pháp và phối hợp giúp đỡ học sinh.
Tích cực tự học tự bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng và
phương pháp giảng dạy. Tích cực tham gia các phong trào thi đua dạy tốt
nhằm nâng cao năng lực chuyên môn và phương pháp giảng dạy.
Về chuyên môn giáo viên phải thực hiện tốt các khâu sau:
3.1. Khâu chuẩn bị của giáo viên
- Trong thực tế một số giáo viên khi đi công tác vẫn còn phát âm
theo phương ngữ ví dụ giáo viên miền Nam, miền Trung đi giảng dạy ở
miền bắc hoặc giáo viên vùng đồng bằng bắc bộ như ở một số nơi phát âm
âm ch/tr giống nhau, phát âm nhầm lẫn giữa l/n; ui/ôi; uyên/uên Để đạt
được năng lực tốt trong quá trình rèn phát âm tiếng Việt cho học sinh thì

- Giáo viên cần chú ý đến việc sử dụng đồ dùng trong tiết dạy: Sử
dụng đồ dùng phải phù hợp về góc quan sát (để ở vị trí dễ quan sát, tất cả
học sinh đều được quan sát), thời gian quan sát (không để trong thời gian
quá ngắn học sinh không kịp quan sát, cũng không để trong thời gian quá
dài học sinh sẽ không tập trung vào những việc làm tiếp theo), mục đích
quan sát.
- Giáo viên cần chú trọng hoạt động đọc mẫu (phát âm mẫu), khâu
rèn kỹ năng đọc (kỹ năng phát âm) cho học sinh trong mỗi giờ dạy Tiếng
Việt. Chú ý lắng nghe, quan sát và kịp thời hướng dẫn sửa sai cho học sinh,
vì đọc mẫu và rèn không tốt dẫn đến học sinh bắt chước đọc sai, đọc ngọng
lâu dần thành quen rất khó sửa.
- Học sinh các dân tộc khác nhau thì cách phát âm cũng khác nhau: Ví
dụ học sinh dân tộc Thái khi phát âm tiếng Việt phát âm không khác nhiều so
với dân tộc kinh; dân tộc Lào khi phát âm các âm lưỡi đều uốn cong và bật
mạnh dẫn đến các âm phát ra gần như đều có thêm dấu nặng. Riêng học sinh
dân tộc Mông khi phát âm, âm phát ra rất nhẹ, như khi ta phát âm tiếng Anh.
Vì vậy khi giáo viên dạy phát âm cần chú ý làm mẫu để học sinh quan sát
được các cơ quan phát âm bên ngoài như môi, răng, lưỡi
- Giáo viên chú ý rèn học sinh bắt đầu từ phần âm tiếng Việt nhất là
các phụ âm tiếng Việt: rèn kỹ việc phát âm khi học ở phần âm như sau:
+ Đối với các âm học sinh phát âm sai nhiều như âm: b/v, l/đ,
t/th, Thì giáo viên phải phân loại đưa về nhóm âm có đặc điểm phát
âm giống nhau, sau đó mô tả và dùng các bộ phận cấu âm để phát âm
mẫu một cách tỉ mỉ. (Ví dụ phụ âm b là phụ âm tắc: Hơi bị cản lại sau
thoát ra đường miệng vào mũi như phụ âm v lại là phụ âm hữu thanh: Dây
thanh rung) hay (phụ âm l là phụ âm sát: Hơi đi qua kẽ hở miệng, nhưng
phụ âm đ lại là phụ âm tắc: Hơi bị cản lại sau thoát ra đường miệng vào 20

- Đối với những em đọc sai chính âm tiếng Việt, giáo viên phải
rèn luyện để học sinh đọc đúng, đọc đủ, không đọc thừa, đọc sót âm,
tiếng, từ,…Đọc với tốc độ vừa phải, giọng đọc phải phù hợp với yêu
cầu và nội dung từng bài.
- Đối với các em phát âm bị khuyết âm trong tiếng tiếng Việt chú
ý rèn khi phát âm học nghe và quan sát giáo viên đọc: khi học sinh
đọc "thuồng luồng" thường phát âm thành "thuồn luồn", "chín điểm"
thành "chí đỉa" học sinh đọc, nói sai vì khi phát âm các tiếng thuồn
luồn, chí đỉa luồng hơi đi ra không bị chặn các em phát âm sai do 21

không làm được một trong ba yếu tố sau: một là đặt đúng của các vị trí
của các cơ quan phát âm tham gia tạo nên tiếng đó, hai là tạo luồng
hơi chính xác, ba là phối hợp được đặt vị trí đúng và đẩy hơi để phát
tiếng. Nếu phát âm đúng "thuồng luồng" và "chín điểm" hơi sẽ bị chặn
lại ở một vị trí trong khoang miệng, vì vậy khi hướng dẫn giáo viên
cần nắm chắc cách phát âm của các tiếng đó để hướng dẫn học sinh
nắm về cách phát âm học sinh quan sát kĩ khi giáo viên phát âm, vị trí
các cơ quan phát âm và phối hợp giữa các cơ quan đó.
* Một số tiết dạy minh họa

Tiết 111 - 112: Học vần

Bài 56:
uông- ương

I. Mục đích yêu cầu:
- Học sinh đọc được uông, ương, quả chuông, con đường ; từ và câu ứng dụng

lớp.

- Học sinh quan sát giáo viên làm
mẫu sau đó thực hiện theo: học
sinh đọc cá nhân, đồng thanh:
uông 22

khoang miệng, môi tròn, mở, lưỡi
thẳng. Trong lúc học sinh đọc giáo
viên quan sát, hướng dẫn và uốn nắn tỉ
mỉ cho những em bị sai, cho các em
được đọc lại nhiều lần.
- Vần uông tạo bởi mấy âm?
- Hướng dẫn học sinh gài vần uông
- Hướng dẫn học sinh phân tích vần
uông.
- So sánh vần uông và vần uôn. (giáo
viên nhắc lại cách phát âm vần uôn và
so sánh cách phát âm của vần uông)
? Muốn có tiếng chuông thêm âm gì
* Từ: Hướng dẫn học sinh quan sát
tranh và nêu từ: quả chuông
*Tổng hợp: đọc mẫu
*Vần ương (tương tự vần uông)
- So sánh uông, ương
- Giáo viên hướng dẫn học sinh luyện
đọc tổng hợp

nhóm, lớp.
- Học sinh nêu từ và gài từ. Đọc cá
nhân, cả lớp, phân tích từ, đọc lại
- Đọc cá nhân, nhóm, lớp.
- uông : uô + ng
- ương: ươ + ng
- Học sinh đọc cá nhân, nhóm, lớp.

- Học sinh đọc thầm
- 3 học sinh đọc, tìm tiếng mới và
phân tích.
- Luyện đọc cá nhân, nhóm, lớp.
- Học sinh đọc trơn các từ cá nhân,
nhóm, lớp

23

- Giáo viên hướng dẫn học sinh viết
- Viết mẫu và hướng dẫn qui trình.

- GV bao quát học sinh viết.

- Hướng dẫn học sinh nêu yêu cầu và
tư thế ngồi viết

- Học sinh viết -báo cáo kết quả - Học sinh đọc lại bài cá nhân,
nhóm, lớp. - Học sinh luyện đọc vần, từ ứng
dụng. Cá nhân, nhóm, lớp.

- Quan sát tranh nêu câu ứng
dụng, 3 học sinh đọc
- Tìm và phân tích tiếng mới
- Luyện đọc cá nhân, nhóm, lớp. - Học sinh quan sát tranh nêu chủ
đề: đồng ruộng
- Cảnh cấy, cầy trên đồng ruộng
- Bác nông dân
- Gieo mạ, tát nước, làm cỏ.
- Học sinh trả lời
- Học sinh nghe và tự sửa câu cho
nhau.

- Học sinh đọc cá nhân, nhóm, lớp.


A. Mục đích yêu cầu
:
- Học sinh:
+ Đọc trơn cả bài, phát âm được tiếng, từ khó trong bài.
+ Ôn vần : iêng, yêng
+ Hiểu được nội dung của bài.
+ Học thuộc lòng bài thơ.
B. Đồ dùng
:
-Tranh minh hoạ bài học, viết sẵn bài lên bảng.
C. Hoạt động dạy học
:
TG

Hoạt động dạy Hoạt động học

5’
35’
2’
20’
TIẾT 1
I. Bài cũ
:
- Đọc bài" Hồ Gươm và trả lời câu
hỏi 1 ở sách giáo khoa.
- Nhận xét, ghi điểm.
II. Bài mới:
13’

a. Đọc mẫu:
Đọc toàn bài ở bảng (1 lượt):
Chậm rãi, nhẹ nhàng.
Chia câu bài thơ.
b.Hướng dẫn luyện đọc :
Hướng dẫn học sinh cách đọc
+ Luyện đọc từ khó:
Nêu yêu cầu tìm từ khó
Gạch chân từ khó trong bài
+ Giải thích từ khó:
- Gọng vó (Vật làm bằng tre để
móc vó vào kéo khi đánh cá). Với
các từ mà học sinh dễ lẫn giáo viên
cần phân tích kỹ cách đọc, đọc mẫu

tiếp, vài học sinh một từ.
Đọc lại toàn bộ các từ khó (cá
nhân, cả lớp)
Học sinh theo câu (nối tiếp) cho
đến hết bài.

Học sinh đọc theo khổ thơ.
1 học sinh đọc lại toàn bài.
Nhận xét
Cả lớp đọc đồng thanh toàn bài. Tìm nhanh (nêu miệng)

Đọc lại vần, so sánh vần.
3 tổ thi đua tìm tiếng.
Nhận xét.

Trích đoạn Một lần nữa giúp những người làm công tác giáo dục cùng nhau nhìn lại và đánh giá chất lượng công tác quản lý chỉ đạo, công tác giảng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status