1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
DƯƠNG THỊ THANH HUYỀN
BÀI GIẢNG
LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
(Lưu hành nội bộ)
9, nước lũ sông Nin dâng lên làm tràn ngập cả khu đồng bằng rộng lớn và bồi đắp một lượng phù
sa khổng lồ, màu mỡ. Các loại thực vật chủ yếu như: đại mạch, tiểu mạch, chà là, sen, sinh sôi
nảy nở quanh năm. Ai Cập cũng có một quần thể động vật đa dạng và phong phú, mang đặc
điểm đồng bằng-sa mạc như voi, hươu cao cổ, sư tử, trâu, bò, cá sấu, các loài cá, chim,
Tất cả các điều kiện thiên nhiên ưu đãi đã góp phần hình thành nền văn minh Ai Cập sớm nhất.
Các ngành nghề như đánh bắt cá, nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp đều phát triển
ngay từ 3.000 năm trước Công nguyên. Đặc biệt, các di sản kiến trúc đồ sộ và đạt đến một trình
độ vươn lên tầm kỳ quan của thế giới như: các kim tự tháp, các kiệt tác về hội họa, điêu khắc và
nghệ thuật ướp xác
Theo cách phân định thời gian của Manetho (thế kỷ 3 TCN) thì lịch sử Ai Cập cổ đại được chia
ra thành Cổ, Trung và Tân Vương quốc với 30 vương triều kéo dài khoảng từ cuối thiên niên kỷ
thứ 4 trước Công nguyên đến năm 332 trước Công nguyên. Hoàng đế của toàn cõi Ai Cập
thường có các vua chư hầu dưới quyền, nên các tài liệu tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ
Đào Nha dùng danh từ Cổ, Trung và Tân Đế quốc thay vì Vương quốc. Danh từ pharaông bắt
đầu được các vua Ai Cập cổ dùng từ vương triều thứ 12 trở đi. Pharaông có nghĩa là ngôi nhà
3
lớn ám chỉ cung vua. Vẫn còn nhiều nghiên cứu về các vương triều Ai Cập đang được tiếp tục và
có thể các vương triều này sẽ còn thay đổi, bởi vì ngày nay các công tác khảo cổ vẫn tiếp tục
phát hiện thêm nhiều dữ liệu, chứng cứ khác nhau.
đô hộ, đưa đến sự mất đi chữ viết, ngôn ngữ và bản sắc dân tộc.
Các thời kỳ lịch sử
Thời kỳ Tiền triều đại (13.000 TCN - 3.200 TCN)
13.000 TCN: Dân miền nam Ai Cập đã bắt đầu trồng lúa mạch.
7.000 TCN: Dân cư đồng bằng sông Nin đã biết canh tác.
5.000 TCN: Có xứ Ombos, thủ đô là Ballas ở miền nam Ai Cập (cũng gọi là Thượng Ai Cập).
Miền bắc Ai Cập (Hạ Ai Cập) có xứ Balamun, thủ đô là Behedet.
4.500 TCN: Người Ai Cập đã biết dùng dương lịch mỗi năm có 365 ngày. Truyền thuyết cho
rằng người đặt ra lịch đó là Thoth. Thoth cũng được cho là người đã đặt ra mẫu tự Ai Cập, toán
học và thiên văn học
[cần dẫn nguồn]
đầu vào thời kì này, Djoser đã sai Tể tướng Imhotep xây dựng kim tự tháp có bậc thềm đầu tiên
ở Saqqara.
2700 - 2400 trước Công nguyên
Vương triều thứ 4: Do hoàng đế Sneferu sáng lập ra.
Thời kì này là một trang sử vàng son của Cổ vương quốc vì đã để lại rất nhiều di sản văn hoá.
Sneferu chuyển kim tự tháp có thềm ở Meidum của Huni thành kim tự tháp mặt phẳng. Sau đó,
ông cho xây Kim tự tháp Đỏ, Kim tự tháp Bent ở Dashur là kim tự tháp lớn nhất khi chưa có
Kim tự tháp Giza ở Ai Cập.
Các hoàng đế kế tiếp Khufu, Khafre và Menkaure là chủ nhân ba kim tự tháp lớn ở Giza. Theo
Herodotus, có 300.000 nhân công xây Kim tự tháp Khufu trong 20 năm, kim tự tháp lớn nhất
được xây dưới sự chỉ thị của Tể tướng Hemon, đây là một trong Bảy kỳ quan thế giới cổ đại.
Đằng trước kim tự tháp Kim tự tháp Khafre, là pho tượng nhân sư khổng lồ có mang đầu Khafre
được ông cho xây dựng. Vị vua cuối cùng Shepseskaf cho xây Kim tự tháp Shepseskaf kiểu
Mastaba ở Saqqara.
Vương triều thứ 5: Hoàng đế Sahure thờ thần mặt trời Rê, xưng là "Con của thần Rê". Các kim
tự tháp đầu tiên được xây dựng ở Abusir.
Vương triều thứ 6: Gồm các hoàng đế Teti, Pepi I Meryre và Pepi II Neferkare. Từ thời kì này,
quan lại Ai Cập chiếm nhiều quyền hành trong khi thực quyền của Hoàng đế ngày càng sa sút.
Pepi II ở ngôi 94 năm, nên triều đại ông được các sử gia Âu Mỹ xếp hạng là đời vua lâu dài nhất
thế giới nếu không tính các huyền thoại.
Thời kỳ chuyển tiếp thứ nhất (2.400 TCN - 2.046 TCN)
2400 - 2200 trước Công nguyên
Vương triều thứ 7 và Vương triều thứ 8 là thời kỳ Ai Cập bị phân chia thành nhiều tiểu vương
quốc. Vương triều thứ bảy loạn lớn: 70 hoàng đế cai trị 70 ngày.
2200 - 2050 trước Công nguyên
Vương triều thứ 9, Vương triều thứ 10 và Vương triều thứ 11 là thời kỳ chiến tranh liên miên
giữa các tiểu vương quốc, và kết thúc bằng sự tái thống nhất do Mentuhotep II, một hoàng thân
Thebes.
Thời kỳ Trung vương quốc (2.046 TCN - 1.750 TCN)
2.046 trước Công nguyên - 1.800 trước Công nguyên
kỷ 20.
1.310 - 1.078 trước Công nguyên
Vương triều thứ 19: Hoàng đế cuối cùng của Vương triều thứ 18 là Horemheb băng hà khi không
có con. Vì vậy, quan tể tướng Pramesse lên ngôi (Ramesses I) và lập ra Vương triều thứ 19, còn
gọi là “nhà Tiền Ramesses”. Những người kế vị là Seti I, Ramesses II tiến đánh Libya, Syria,
Sudan, giao chiến với Đế quốc Hittite và không ngừng xây dựng các công trình đồ sộ, điển hình
như các ngôi đền từ [Abu Simbel]] đến Karnak. Năm 1275 TCN Ai Cập giao chiến với Đế quốc
6
Hittite và liên quân 20 dân tộc tại Kadesh ở Cận Đông. Tài liệu ghi lại, trong cuộc chiến này, vị
vua trẻ Ramesses II đã cứu vãn đạo quân của mình trước một chiến bại trông thấy. Cuộc chiến
kết thúc bế tắc, Hiệp ước Kadesh giữa Ai Cập và Hittite được kí kết. Ramesses nhường vùng
Kadesh cho Hoàng đế Hittite và cưới con gái của ông này. Nhiều người cho rằng Ramesses II
chính là pharaông trong khi dân Do Thái rời khỏi Ai Cập.
Ramesses II (1279-1213 TCN) là vị pharaông kiệt xuất của Ai Cập cổ đại. Ông cai trị tới 67 năm
(1279-1213 TCN)
Người kế vị Ramesses là Merneptah cũng khá tài giỏi, đánh đuổi được một liên quân xâm lược
gồm người Libya, Licy, Sardes, Tyrsene và Achean đến từ phương Tây.
Vương triều thứ 19 bị 1 người Syria tên là Bay soán ngôi làm quan cai trị. Được 5 năm,
Setnakhte giết được bạo chúa Bay, ông lên ngôi và lập ra vương triều mới, Vương triều thứ 20
còn được gọi là nhà “Nhà Hậu Ramesses”. Vương triều này thường xuyên bị dân Hải nhân (Sea
Peoples) tấn công. Các cuộc tấn công này kết thúc năm 1175 TCN khi Hải nhân bị Hoàng đế
Ramesses III đánh bại hoàn toàn. Triều đại này kết thúc sau khi Ramesses XI băng hà
Thời kỳ chuyển tiếp thứ ba (1.078 TCN - 663 TCN)
Vương triều thứ 21 do Smendes I lập lên Vương triều thứ 21 ở thành phố Tanis. Lúc ấy dòng dõi
của quan trấn thủ Herihor (hay thầy tế Amun) cai trị miền nam, đóng đô ở Thebes. Mặc dù họ
nói tiếng thần phục Tanis, nhưng thực chất họ là một nước độc lập.
Vương triều thứ 22 do Shoshenq I, một người Libya, lập ra. Ông thống nhất Ai Cập và cưới một
công chúa Ai Cập để được dân bản xứ công nhận là chính thống. Sau khi Hoàng đế Solomon của
Do Thái băng hà, Shoshenq (được cho là Shishaq trong Kinh Thánh) đánh Do Thái vào khoảng
Ahmose II lên ngôi, trị vì lâu dài và thịnh vượng, Ai Cập cổ lấy lại được thế lực ở phương Đông.
Từ năm 551 đến năm 529 TCN, có Cyrus Đại đế của nhà Achaemenid dấy lên lập Đế quốc Ba
Tư (Persia), gồm thâu cả Media, Lydia và Babylon. Cyrus đã cưới một người con gái của
Apries. Năm 525 TCN, con của Cyrus Đại đế là Cambyses II vào chiếm Ai Cập. Hoàng đế cuối
cùng Vương triều 26 là Psammetichus III chỉ lên ngôi được 6 tháng thì bị bắt giải về Ba Tư, sau
đó ông bị giết. Vương triều Achaemenid, tuy không đóng đô trên đất Ai Cập, nhưng được coi là
Vương triều thứ 27 của Ai Cập. Vào năm 485 TCN, người Ai Cập khởi nghĩa nhưng bị đàn áp
trong biển máu dưới bàn tay của hoàng đế Ba Tư Xerxes I.
Trong thời Ba Tư thuộc, người Ai Cập nổi lên độc lập được hơn 60 năm, thành được 3 vương
triều chót của danh sách Manetho:
Vương triều thứ 28, Amyrtaeus lên ngôi và ngự trị 6 năm (404-399 TCN)
Vuơng triều thứ 29, Nepherites I của Mendes thắng Hoàng đế Amyrtaeus, giữ Ai Cập được 18
năm (399 - 380 TCN).
Vương triều thứ 30, do Hoàng đế Nectanebo I kiến lập ra sau khi lật đổ và giết được Nepherites
II của Vương triều thứ 29, độc lập được 37 năm (380 - 343 TCN).
Năm 343 TCN, hoàng đế Ba Tư Artaxerxes III xâm lược Ai Cập, đánh bại và bắt giữ Nectanebo
II. Nhà Achaemenid đã chiếm lại được Ai Cập.
Năm 332 TCN, vua Macedonia Alexandros Đại đế tiêu diệt được Đế quốc Ba Tư, rồi chiếm luôn
Ai Cập. Ông đóng đô ở Alexandria, Ai Cập.
8
Lúc ấy, những trang sử Ai Cập thời cổ đại chính thức khép lại. Khi đó, các kim tự tháp và tượng
nhân sư đã đứng sừng sững trong khoảng hơn 2200 năm. Ngoại trừ châu Á
[1]
và các vùng đất
quanh Địa Trung Hải
[2]
, những nơi khác lịch sử vẫn chưa bắt đầu.
Đất nước của các Pharaông bước sang thời kì Ai Cập thuộc Hy Lạp.
Thuật ướp xác của người Ai Cập ra đời từ năm 2700 TCN. và kéo dài đến tận thế kỷ thứ 5. Quan
9
Tác phẩm văn học cổ xưa nhất của Ai Cập có lẽ là Câu chuyện của Sinuhe và tác phẩm sách giấy
papyrus (chỉ thảo) Ipuwer, có niên đại 1800 TCN. Hiện nay bộ sưu tập về các tác phẩm cổ đại Ai
cập còn có:
Sách giấy papyrus Westcar (1600 TCN)
Sách giấy papyrus Tulli (1400 TCN)
Sách giấy papyrus Ebers (1300 TCN)
Sách giấy papyrus Harris I (1180 TCN)
Chuyện của Wenamun (1000 TCN)
Nghệ thuật hội họa Ai Cập cổ đáng để chúng ta kinh ngạc bởi những tranh vẽ trên tường trong
các khu hầm mộ của các pharaông, trên các chất liệu gốm cổ Các bức tranh mô tả cảnh sinh
họat và sản xuất cũng như tín ngưỡng tập tục của các cư dân và vua chúa Ai Cập. Các tác phẩm
hội họa và các hoa văn trên gốm và đất nung đã cung cấp cho các nhà Ai Cập học các tư liệu
phong phú và sinh động.
Việc tồn tại cho đến ngày nay các tác phẩm hội họa Ai Cập cổ có thể do khí hậu khô của sa mạc
và điều kiện thiếu ánh sáng của các hầm mộ. Những bức vẽ của Ai Cập cổ miêu tả về một thế
giới vui tươi cho những người chết ở cõi vĩnh hằng. Nhiều bức họa vẽ cảnh đi vào cõi âm nhằm
che chở người chết đi về với Chúa trời vì người Ai Cập tin rằng sự chết chỉ là sự chuyển chỗ ở
sang một thế giới các vị thần và điều này sẽ phù hộ cho những vị pharaÔng và các triều đại đang
trị vì nước Ai Cập.
Nghệ thuật gốm cổ Ai Cập cũng rất phong phú và tinh xảo. Người Ai Cập cổ đã khám phá ra
chất liệu men gốm khá sớm; trên các bề mặt của gốm cổ Ai Cập có chạm khắc tinh xảo các hình
nhỏ mô tả nhiều chủ đề. Đồ gốm thường được chôn theo người chết và để dùng vào các nghi lễ
thần bí.
Giấy papyrus là một loại giấy do người Ai Cập cổ sáng chế ra, được làm từ cây papyrus mọc ở
châu thổ sông Nin. Công nghệ làm giấy papyrus không được ghi lại và bị thất truyền theo thời
gian, tuy vậy, vào năm 1940, các nhà Ai Cập học đã phục hồi được công nghệ này. Người ta đã
tìm thấy những tấm giấy có kích thước khá lớn, dài hàng mét. Giấy papyrus được người Ai Cập
cổ dùng vào các việc ghi chép lại các cảnh sinh họat bao gồm văn học, tôn giáo, lịch sử và các
công việc hành chính.
(mặt đất). Con người được tạo ra khi thần Shu và thần Tefnut sơ ý bị lạc trong hoang mạc đen
tối, thần Rê dùng đôi mắt của mình đi tìm họ và trong khi xúc động về sự đoàn tụ, nước mắt sung
sướng của thần Rê đã tạo nên loài người. Con trai của thần Geb là Osiris được cử làm vua của Ai
Cập cổ đại. Người em trai của Osiris là Seth được xem là kẻ xấu xa trong vũ trụ. Seth đã giết
Osiris và tự lên ngôi là vua Ai Cập. Sau khi giết Osiris, Seth thách đấu với con trai của Osiris
(Horus) và bị thua, Seth bị đày đến sa mạc và biến thành thần bão cát khủng khiếp . Osiris được
ướp xác bởi Anubis và biến thành thần của sự chết. Horus bắt đầu lên ngôi vua và trở thành
pharaong.
Còn rất nhiều truyền thuyết xung quanh các triều đại Ai Cập. Nhưng thế giới của người Ai Cập
luôn xoay quanh các điều thần bí về con sông Nin và sa mạc, tạo nên một đức tin về các thế lực
thần bí, luôn lôi kéo con người phải thần phục các pharaong và các pharaong như một vị thần
hiện hữu, thay mặt các vị thần khác có nhiệm vụ trông coi dân Ai Cập và dung hòa các thế lực
11
thiên nhiên khắc nghiệt để đưa đến cho thần dân Ai Cập một cuộc sống yên lành bên cạnh
pharaong và dòng sông Nin giàu có và thần bí.
Quan niệm về cái chết của người Ai Cập cổ như một sự chuyển tiếp một cuộc sống khác ở thế
giới bên kia, thế giới cõi âm. Nghi lễ về cái chết là một sự kiện quan trọng và tỉ mỉ nhằm tiễn đưa
người chết về với cõi vĩnh hằng. Người Ai Cập cổ quan niệm con người có cả phần thể xác và
phần linh hồn, chính vì vậy, các nghi lễ là thể hiện sự chuẩn bị cho thể xác và linh hồn có được
sự hòa hợp khi về cõi âm, họ tin tưởng rằng, nếu thi thể được bảo quản tốt nhất thì linh hồn sẽ tái
hòa nhập sau một thời gian nào đó. Điều kiện để linh hồn mau chóng trở lại hòa nhập vào thể xác
là xác phải được một người thầy tu lành nghề bảo quản nguyên vẹn cơ thể, khuôn mặt được như
lúc còn sống và cơ thể phải được ướp hương thơm. Đầu tiên, cơ thể người chết sau khi đã được
lấy đi nội tạng, sẽ được cho vào một quan tài nhỏ bằng sậy vùi vào cát nóng nhằm làm khô xác
để cho cơ thể không thể phân hủy sau này, sau đó thì mới mai táng trong hầm mộ.
Nhằm quản lý hiệu quả, Ai Cập cổ đại đã chia vương quốc thành các vùng, được gọi là nome.
Vết tích về các nome có lẽ được bắt đầu từ thời kỳ Tiền triều đại (Predynastic - trước 3100
TCN), khi đó các vùng được tự trị như các tiểu đô thị. Hệ thống cai trị này rất phổ viến dưới
nhiều triều đại của các pharaong Ai Cập cổ, vương quốc đã được chia thành 42 nome. Thời kỳ
suy yếu, Ai Cập cũng được chia thành 22 nome. Trong mỗi vùng này, việc cai trị được trao cho
giếng hình tròn hoặc hình vuông, sâu đến khoảng 30 m. Đáy giếng thông sang một hành lang rồi
đến phòng mai táng (nơi để quan tài). Sau khi chôn người chết, giếng được lấp kín. Ở Ai Cập
còn tìm thấy nhiều nơi có dấu vết của các khu vực có Masataba như khu lăng mộ vua chúa ở
Memphis, xây dựng ở vương triều thứ ba, khoảng thế kỷ 18 trước Công nguyên. Loại hình kiến
trúc này là nguồn gốc ban đầu của các Kim tự tháp.
Một trong những Kim tự tháp lớn xuất hiện đầu tiên là Kim tự tháp Djoser. Nó có đáy hình chữ
nhật, hai cạnh dài 126 m và 106 m, cao 60 m, có 6 bậc, các tầng thu nhỏ về phía trên. Công trình
này do Imhotep chỉ đạo xây dựng. Ông là một vị quan đầu triều của nhà vua vương triều thứ 3,
năm 2770 trước Công nguyên. Ngoài Kim tự tháp này còn có Kim tự tháp ở Meidum và ở
Dashur là những loại có ba bậc cấp. Sau này, chúng được nghiên cứu và phát triển thành Kim tự
tháp trơn, tiêu biểu nhất là quần thể Kim tự tháp ở Giza. Quần thể này bao gồm ba Kim tự tháp
lớn, một con nhân sư Sphinx, 6 Kim tự tháp nhỏ, một số đền đài và 400 Mastaba. Ba Kim tự tháp
trên là: Kim tự tháp Kheops (hay Kim tự tháp lớn tại Giza), Kim tự tháp Khephren và Kim tự
tháp Mykerinos. Các Kim tự tháp này mang tên các nhà vua của Vương triều thứ 4; các kim tự
tháp nhỏ hơn là của các hoàng hậu cùng thời. Vật liệu xây dựng tháp là đá vôi được khai thác tại
chỗ, bên ngoài được phủ lớp đá vôi trắng nhẵn bóng, lấy từ các mỏ đá ở Tourah, trên hữu ngạn
sông Nin, lớp phủ này ngày nay đã bị tróc mất.
Đền thờ
Những đền thờ Hy Lạp cổ đại dùng để thờ thần Mặt Trời. Thờ thần Mặt Trời cũng chính là thờ
vua. Đền thờ thường có một cái cửa lớn, đường bệ và phù hợp với tính chất của các nghi lễ tôn
giáo. Phần quan trọng thứ hai của đền là khu vực nội bộ của đại điện. Đây là nơi vua tiếp nhận sự
sùng bái của một số người nên không gian được tổ chức sao cho u uẩn, kín đáo, mang tính thần
bí. Đôi khi, đền còn được bao quanh bởi bức tường thành, ở đây có trổ một cửa gọi là tiền tháp
môn (propylon), sau đó là một con đường lát đá, rộng 34 m, dài khoảng 140 m, hai bên đặt
những con Sphinx, tiếp đến là các tháp bia, tượng vua và tháp môn.
Nhà ở
13
Vào khoảng thế kỷ 17 TCN, nhiều loại hình nhà ở được thấy ở thành Telel Amarna. Có ba loại
nhà chính sau :
Nhà ở ba gian, vật liệu xây dựng là lau sậy và đất sét, mái bằng.
Về tài nguyên, Lưỡng Hà hiếm đá quý và kim loại, nhưng lại có một loại đất sét rất tốt, vì vậy,
đất sét đã trở thành vật liệu chủ yếu của ngành kiến trúc, chất liệu để viết, thậm chí đất sét còn
được đưa vào các truyện huyền thoại.
14
Cư dân xưa nhất ở Lưỡng Hà là người Xume. Họ từ Trung Á di cư đến miền Nam Lưỡng Hà vào
khoảng thiên kỉ IV TCN. Tại đây, họ đã lập nên nhiều thành bang như Ua, Êriđu, Lagát, Urúc
Đến thiên kỉ III TCN, người Accát thuộc tộc Xêmit từ vùng thảo nguyên Xyri đến định cư ở
miền Trung Lưỡng Hà. Tại đây họ đã lập nên quốc gia Accát nổi tiếng một thời. Cuối thiên kỉ III
TCN, người Amôrít, một chi nhánh của người Xêmít cũng từ phía Tây tràn vào Lưỡng Hà.
Chính họ đã thành lập quốc gia cổ Babilon nổi tiếng nhất trong lịch sử Lưỡng Hà cổ đại.
Ngoài ra còn có nhiều tộc người khác ở vùng lân cận cũng tràn vào Lưỡng Hà. Các tộc người
trước sau tới Lưỡng Hã lại đồng hóa với nhau làm cho thành phần cư dân ở đây hết sức phức tạp.
Các quốc gia ở Lưỡng Hà cổ đại
1. Những nhà nước của người Xume
Vào khoảng đầu thiên kỉ III TCN, ở miền Nam Lưỡng Hà, nơi cư trú của người Xume, do sự
phát triển của lực lượng sản xuất, do sự phân hóa giàu nghèo, đã xuất hiện nhiều nhà nước nhỏ
lấy một thành thị làm trung tâm gọi là những thành bang. Giữa các thành bang ấy thường diễn ra
những cuộc đấu tranh để tranh giành đất đai và nguồn nước. Đến giữa thiên kỉ III, trong số các
thành bang ở miền Nam Lưỡng Hà, nổi bật nhất là Lagát, nhưng sau đó không lâu, thành bang
Umma ở phía Bắc đã đánh bại Lagát. Tiếp đó, Umma còn chinh phục được nhiều thành bang
khác và thống nhất miền Nam Lưỡng Hà (cũng gọi là vùng Xume).
2. Accat
Thành bang Accat do một chi nhánh người Xêmit thành lập ở phía Bắc vùng Xume. Đến thời
vua Xacgôn (2369-2314 TCN), Accat trở thành một quốc gia hùng mạnh. Xacgôn đã tấn công và
chinh phục được toàn bộ vùng Xume và như vậy lần đầu tiên đã thống nhất cả vùng Lưỡng Hà.
Tiếp đó, Accat còn chiếm được các khu vực xung quanh thành lập một quốc gia lớn mạnh ở Tây
Á. Xacgôn tự xưng là “vua của bốn phương”. Tuy vậy, sự hùng mạnh của Accat cũng không duy
trì được lâu. Đến cuối thế kỉ XXIII TCN, Accat bị người Guti ở Đông Bắc chinh phục và thống
trị trong một thời gian khá dài.
605, Atxiri diệt vong. Đất đai của Atxiri bị chia làm hai phần: nửa phía Bắc thuộc về Mêđi, nửa
phía Nam thuộc về Babilon. Để tăng thêm tình hữu nghị giữa hai nước đồng minh, Nabôpôlaxa
đã hỏi công chúa Mêđi cho con trai của mình là Nabusôđênôxo. Năm 604 TCN, Nabôpôlaxa
chết, Nabuxôđônôxo lên nối ngôi. Đây là thời ki cường thịnh nhất của Tân Babilon. Chính
Nabusôđônôxo đã ra lệnh xây vườn hoa trên không nổi tiếng.
Năm 562 TCN, Nabusôđônôxo chết. Từ đó tình hình nội bộ Tân Babilon không được ổn định.
Trong khi đó, ở Iran bắt đầu xuất hiện nước Ba Tư hùng mạnh. Năm 550 TCN, Ba Tư đánh bại
Mêđi, Babilon cũng trở thành mục tiêu chinh phục của Ba Tư. Năm 538 TCN, quân Ba Tư tấn
công và chiếm được thành Babilon. Tân Babilon cũng trở thành một bộ phận của đế quốc Ba Tư.
Năm 328 TCN, đế quốc Ba Tư bị Alêchxăngđrơ Makêđônia tiêu diệt. Cả Tây Á bị nhập vào đế
quốc Makêđônia. Sau khi Alêchxăngđrơ chết, đế quốc Makêđônia bị phân chia, Babilon nằm
trong vương quốc của Xêlơcut, một tướng của Alêchxăngđrơ.
Những thành tựu chủ yếu của văn minh Lưỡng Hà cổ đại
1. Chữ viết, văn học
Chữ viết Từ cuối thiên niên kỉ IV đầu thiên niên kỉ III TCN, người Lưỡng Hà đã sáng tạo ra chữ
tượng hình. Đầu tiên chữ viết của họ là những hình vẽ, về sau họ đơn giản thành những nét vạch
16
có ý nghĩa tượng trưng cho một hình vẽ nào đó. Họ thường dùng đầu cây sậy vót nhọn vạch lên
những tấm đất sét còn mềm để lại dấu vết như hình những chiếc đinh. Vì vậy người ta hay gọi là
chữ hình đinh, chữ hình góc, hay chữ tiết hình. Ngày nay, người ta còn lưu giữ được khoảng
2200 tấm sách bằng đất sét ở nhà bảo tàng của thành phố Ninivơ (kinh đô của đế quốc Atxiri xưa
kia). Chữ tiết hình do người Sumer phát minh ra đầu tiên, về sau nhiều dân tộc ở Lưỡng Hà đều
sử dụng và có biến đổi. Chữ tiết hình trở thành thứ chữ để giao tiếp giữa các dân tộc ở Tây Á
thời cổ đại. Về sau, người Phênixi, một dân tộc chuyên buôn bán quanh Địa Trung Hải thời đó
đã dựa vào chữ hình góc của người Lưỡng Hà, một phần chữ tượng hình của người Ai Cập cổ đã
đặt ra hệ thống chữ cái A, B Từ chữ Phênixi đã hình thành ra chữ Hy Lạp cổ. Từ chữ Hy Lạp
cổ đã hình thành ra chữ Latinh và chữ Slavơ và từ đó hình thành nên chữ viết của nhiều dân tộc
trên thế giới ngày nay.
Văn học Các thể loại văn học chính ở Lưỡng Hà thời cổ thường là các thần thoại, anh hùng ca.
Toán học Ban đầu người Sumer sử dụng hệ đếm cơ số 5, về sau nhiều tộc người ở Lưỡng Hà sử
dụng đồng thời cả cơ số 10 và cơ số 60. Ngày nay, chúng ta còn chịu ảnh hưởng của họ qua việc
chia độ trên vòng tròn và chia thời gian.
Hình học Người Lưỡng Hà cổ đã biết tính diện tích các hình hình học đơn giản, đã biết về quan
hệ giữa 3 cạnh trong một tam giác vuông. Họ đã biết tính phân số, lũy thừa, khai căn bậc 2 và
căn bậc 3; đặc biệt là họ đã giải được phương trình 3 ẩn số.
Thiên văn học Người Lưỡng Hà cổ lập ra khá nhiều đài để quan sát thiên văn, các nhà thiên văn
hồi đó còn là các nhà chiêm tinh học. Họ cũng chia bầu trời làm 12 cung hoàng đạo, đã tính
trước được nhật thực và nguyệt thực. Họ làm ra lịch dựa vào Mặt Trăng, một năm của họ cứ một
tháng 29 ngày lại một tháng 30 ngày. Như vậy sau 12 tháng chỉ có 354 ngày, còn thiếu so với
năm dương lịch. Để khắc phục hạn chế này, người ta đã biết thêm vào tháng nhuận.
Y học Người Lưỡng Hà đã biết cách chữa trị các bệnh khác nhau về tiêu hóa, thần kinh, hô hấp
và đặc biệt là bệnh về mắt. Y học đã chia thành nội khoa, ngoại khoa, họ cũng đã biết giải phẫu.
Thần bảo trợ cho Y học là thần Ninghizita với hình tượng con rắn quấn quanh cây gậy mà ngày
nay ngành y ở một số nước vẫn lấy làm biểu tượng.
Lưỡng Hà là vùng thung lũng giữa hai con sông Tigre và sông Euphrate. Vùng này nổi tiếng là
vùng đất phì nhiêu, thuận lợi cho nền sản xuất nông nghiệp như trồng nho, ôliu, đại mạch và
nhiều loại sản vật nông nghiệp khác. Những cư dân đầu tiên sinh sống ở vùng này bắt đầu từ rất
sớm. Vùng Lưỡng Hà có khí hậu nóng ẩm, thực vật phong phú đa dạng. Hàng năm, vào tháng 5,
nước lũ của hai con sông tràn ngập, sau khi nước rút, một lượng phù sa dày trải dài trên đồng
bằng rộng lớn và bằng phẳng. Yếu tố môi trường thuận lợi cho các cư dân khác nhau đổ về và sự
đa dạng về nguồn gốc cũng là yếu tố khiến cho vùng này rất khó thống nhất về mặt lãnh thổ.
Chính nơi đây, những cư dân đầu tiên, di cư từ phương Đông, từ thiên niên kỷ IV trước Công
Nguyên sinh sống và sáng lập nên nền văn minh cổ đại đầu tiên ở lưu vực này. Những cư dân
này được gọi là người Sumer.
Sự phát triển của sản xuất nông nghiệp, kéo theo sự phân hóa xã hội Sumer. Vào đầu thiên niên
kỷ thứ III trước Công Nguyên, trên vùng đồng bằng phía Nam của Lưỡng Hà đã xuất hiện các đô
thị. Những đô thị kết hợp với các vùng sản xuất nông nghiệp phụ cận xung quanh hình thành các
quốc gia độc lập vào buổi ban đầu. Người đứng đầu các quốc gia là Patêsi. Hội đồng bô lão và
đồng nhất mình với việc kế vị các vị thần cho nên vương quyền và thần quyền hòa quyện với
nhau, tạo thành một chế độ độc đoán chuyên chế và thần bí.
Văn hoá của Babylon cổ là sự giao hòa giữa hai yếu tố Sumer và Akkad. Sự ra đời bộ luật
Hammorabi và được khắc trên một tấm đá bazan cao 2,25 mét, đường kính đáy gần 2 mét. Phía
trên mặt trước của tấm đá được khắc hình thần Mặt Trời ngồi trên ngai trao bộ luật cho vua
Hammorabi đứng đón một cách trịnh trọng. Phiến đá này được người Pháp tìm thấy ở kinh đo
của xứ Elam cổ, hiện nay đang được lưu giữ ở bảo tàng Louvre.
19
Nghệ thuật của Babylon cổ đạt đến trình độ điêu luyện trên nền tảng của hai yếu tố Sumer và
Akkad. Nghệ thuật hội họa gắn chặt với nghệ thuật kiến trúc.
Kiến trúc Của người Ả Rập có nhiều thành tựu đáng trọng. Huyền thoại các cung điện nguy nga
tráng lệ và những câu chuyện cổ tích thần tiên đã tô điểm cho thế giới Ả Rập thần bí và là những
tuyệt tác của nhân loại.
Kiến trúc Ả Rập là tinh hoa pha trộn và sáng tạo của các luồng kiến trúc Địa Trung Hải và văn
minh sông Hằng xa xội. Thành phố Babylon được bao quanh bởi một bức tường màu vàng dài
13 km và có 300 tháp canh.
Đỉnh cao và chiếm về mức độ vĩ đại là một trong bảy kỳ quan cổ của người Babylon: Vườn treo
Babylon.
Văn minh cổ Assyria và Tân Babylone
Assyria là vùng đất có lịch sử xa xưa ở phía thượng nguồn sông Tigris, tên gọi lúc đầu của thủ
đô chính là thành phố cổ Assur. Về sau, giống như vương quốc, đế chế tiến lên khai phá một
phần phía Bắc Lưỡng Hà (một phần phía Nam Babylonia. Thủ đô là Nineveh.
Thực chất Assyria là một vùng nhiều đồi núi, trải dài theo sông Tigris cho đến tận cao nguyên
Gordiaean hoặc ngọn núi Carduchian của Armenia, có một thời được gọi là "Vùng núi của
Ashur".
Các vị vua của Assyria cai trị một vương quốc rộng lớn trong ba giai đoạn lịch sử, được gọi theo
cổ xưa, giữa và vương quốc Assyria mới (Neo-Assyrian). Nhưng phát triển rực rỡ nhất của
Assyria chính là thời kỳ Tân Assyria, niên đại: 911 - 12 TCN.
Ngôn ngữ
của mình. Cuối cùng, vào năm 627 TCN, với việc triều đại cuối, Ashurbanipal bị chết, Babylonia
đã dành lại được sự thống trị của mình với Nabopolazzar, cuối cùng vương quốc Babylonia được
phục hồi mở ra thời kỳ Tân Babylonia, năm 612 TCN.
Các thời kỳ của Tân Babylonia
Thời kỳ 11 của Babylon (Tân Babylonia hay Chaldean)
Nabu-apla-usur (Nabopolassar) 626 - 605 TCN
Nabu-kudurri-usur (Nebuchadnezzar) II 605 - 562 TCN
Amel-Marduk 562 TCN - 560 TCN
Nergal-šar-usur (Nergal-sharezer) 560 TCN - 556 TCN
Labaši-Marduk 556 TCN
Nabu-na'id (Nabonidus) 556 TCN - 539 TCN
Thời kỳ Tân Babylonia có những thành tựu nổi bật cùng với thành tích của Nabopolassar, ông đã
tích cực tái thiết lại Babylon do bị tàn phá bởi các thời kỳ dưới sự cai trị trước đó của người
Assyria. Mục đích của Nabopolassar là xây dựng thủ đô của đế chế mới trở nên lộng lẫy hơn và
tham vọng để trở thành kỳ quan trên thế giới. Các đền đài cũ được xây dựng lại, các cung điện
với vẻ tráng lệ, nguy nga kinh ngạc đượng xây dựng lên dưới thời ông cùng với rất nhiều đền thờ
các vị thần của Babylon được dựng lên (theo sử Hy Lạp viết bởi Diodorus của Sicilia và
Herodotus). Cung điện của Nabopolassar được xây dựng bởi các chất liệu cực kỳ quý hiếm và
21
rộng lớn. Bên cạnh thành phố có những công trình lộng lẫy như Vườn treo Babylon, Tháp Babel
huyền thoại với đường kính chân tháp đến 91 mét.
Năm 539 TCN Tân Babylonia bị Đế quốc Ba Tư xâm lược và nền văn minh Babylonia sụp đổ.
3. Văn minh A rập
Văn minh Phoenicia và Palestine
Phoenicia là một nền văn minh ở phía Bắc của Canaan cổ xưa, với trung tâm kéo dài suốt bờ
biển của Liban và Syria ngày nay. Văn minh Phoenicia có một nền kinh tế buôn bán hàng hải
dọc bờ biển Địa Trung Hải phát triển sớm từ thiên niên kỷ thứ 3 trước Công Nguyên. Người
TCN, bởi triều đại Hyksos. Sự cai trị của người Ai Cập cổ đã dẫn đến sự kiện người Do Thái rời
bỏ đất Israel của người Ai Cập (còn gọi là sự kiện Exodus). Sự kiện này hiện đang gây nhiều
tranh cãi về niên đại nghiên cứu.
Tiếp theo là thời kỳ vô định của người Do Thái mà nhiều tài liệu cổ có nhắc đến cho đến năm
1500 TCN. Người Do Thái (Hebrews) di cư đến Canaan vào khoảng 1200 TCN và trải qua nhiều
khó khăn, xung đột, người Do Thái đã xác lập được một lãnh thổ rộng lớn ở vùng Syria, Liban
và Judar.
Năm 922 TCN Vương quốc Israel bị chia cắt, Judar ở về phía Nam của vương quốc. Về sau
Vương quốc Israel bị sụp đổ bởi người Assyria vào năm 721 TCN.
Văn minh cổ Babylon ( – 2024 đến – 1595)
- Cuối TNK III TCN, hai tộc người Elam và người Amorites xâm lược tàn phá và cướp bóc
Lưỡng Hà.
- Vào khoảng đầu TK 19 TCN, người Amorites thống nhất Bắc Lưỡng Hà và hình thành quốc
gia cổ Babylon (khác với Tân Babylon sau này) và họ đã thống nhất được khu vực Lưỡng Hà.
Quốc gia Babylon cổ nằm trên đường giao lưu quan trọng nối châu Á rộng lớn sang Địa Trung
Hải, châu Phi và châu Âu.
- Sự cường thịnh và hùng mạnh đạt đến cao điểm vào thời kỳ 1792-1750 TCN, dưới triều đại vua
Hammourabi.
- Nhà nước cổ Babylon thống nhất trên một diện tích lãnh thổ toàn bộ Lưỡng Hà.
- Khoảng cuối TNK II TCN bởi người Catsites nổi dậy và làm chủ hầu hết lãnh thổ của Babylon.
- 1595 thành Babylon bị người Hittite phá huỷ.
Di sản, nổi tiếng:
- Bộ luật Hammorabi (-1728), bộ luật thành văn cổ nhất thế giới. Bộ luật có ảnh hưởng tới pháp
chế của những dân tộc phương Đông cổ.
(Chia cư dân thành ba hạng người: dân tự do, tiện dân và nô lệ. Nguồn nô lệ chủ yếu được cấp từ
nguồn tù binh chiến tranh, mua bán.)
- Có tổ chức các tam ca (đại lý buôn bán)
- TNK II TCN, đã phân biệt 5 hành tinh của Mặt trời: Kim, Thủy, Hoả, Thổ, Mộc. Phân biệt 12
chòm sao. Có những nghiên cứu về sao chổi, sao băng, động đất. Tính trước được nhật thực,
nguyệt thực. Đặt ra âm lịch, tuần trăng. Lấy lịch thành phố Ur làm lịch chung cho toàn xứ
- Trong lịch sử, đế quốc Assyria là đế quốc đầu tiên có lãnh thổ rộng nhất, tập trung nhiều trung
tâm văn hoá cổ đại.
- Vua Assourbanibal, người Assyria lập thư viện lớn ở Nineveh có tới 22.000 bảng gạch khắc
chữ.
- Đền thờ lớn nhất là đền thờ thần Mardouk (Mộc tinh)
- 600 TCN, thành Babylon rất xinh đẹp giữa vùng hoang mạc với Tháp Babel (Cổng thần) cao
ngất ngưỡng, vườn treo Babylon xanh mát, cổng thành trang trí gạch tráng men.
Văn minh Phoenicia và Palestine (TNK III TCN - 586 TCN)
Các sự kiện lớn
24
1. Người Phoenicia thuộc tộc người Semite ở vùng đất thuộc Liban ngày nay. TNK III TCN họ
sống thành thành thị, phân hoá giai cấp, làm nghề đánh cá biển, trồng ngũ cốc, chăn nuôi.
2. Cuối TNK II TCN, người Hebreux (Do Thái) thuộc tộc Semite xâm nhập vào Canaan.
Ba thời kỳ chính của người Do Thái:
+ Giai đoạn từ năm 1800 TCN, gọi là thời kỳ tộc trưởng Abraham và đóng lại bởi con trai của
Shem. Kết thúc thời kỳ 12 bộ lạc của Israel.
+ Thời kỳ Ai Cập cổ đại thống trị từ năm 1630 TCN, bởi triều đại Hyksos. Sự cai trị của người
Ai Cập cổ đã dẫn đến sự kiện người Do Thái rời bỏ đất Israel.
+ Thời kỳ vô định của người Do Thái. Người Do Thái (Hebrews) từ Ai Cập được Moise đưa trở
lại Canaan vào khoảng 1255 TCN và trải qua nhiều khó khăn, xung đột, người Do Thái đã xác
lập được một lãnh thổ rộng lớn ở vùng Syria, Liban và Judar.
- TK 12 và 11 TCN, chiến đấu chống lại sự xâm nhập của người Philistine.
- Năm 1028 TCN – 932 TCN, Saoul thành lập vương quốc hùng mạnh, đặt kinh đô ở Jerusalem.
Nổi tiếng với đền Jerusalem thờ thần Yahveh. Kinh Cựu ước bắt đầu ra đời trong khoảng thời
gian này. Vương quốc phát triển cự thịnh đưới triều vua Solomon, nhờ phát triển thương mại
thủy, bộ ra các vùng chung quanh
- Năm 932 TCN Vương quốc bị chia cắt thành 2, vương quốc Israel ở phía Bắc và Judar ở về
phía Nam của vương quốc.
- Năm 722 TCN người Assyria thôn tính Vương quốc Israel, dân Do Thái phải sống lưu vong.
- Năm 586 TCN, người Babylon chinh phục Judah và phá huỷ đền thờ Do Thái.
2. Sự thành lập và diệt vong của nhà nước Arập
Nhà nước Arập mãi đến thế kỉ VII mới thành lập. Quá trình thành lập nhà nước Arập gắn liền với
quá trình thành lập đạo Hồi do Môhamet (còn đọc là Muhamat) truyền bá.
Môhamet xuất thân từ một bộ lạc có thế lực ở Mecca. Năm 610 ông bắt đầu truyền bá đạo Hồi.
Năm 622, bị tầng lớp quý tộc Mecca phản đối và hãm hại, Môhamet cùng tín đồ của mình phải
chạy lên thành phố Yatơríp ở phía Bắc (cách Mecca 400km).
Năm xẩy ra sự kiện này (622) được coi là năm thứ nhất của kỉ nguyên Hồi giáo. Môhamet tự
xưng là tiên tri, nên từ đó thành phố Yatơríp đổi tên thành Mêdina nghĩa là “thành phố của Tiên
tri”. Tại đây, Môhamet dần dần thành lập được một lực lượng chính trị kết hợp với tôn giáo do
ông cầm đầu. Để duy trì lực lượng, Môhamet thường xuyên tập kích các đội buôn của Mecca, do
đó chiến tranh giữa Mêdina và Mecca đã diễn ra nhiều lần. Năm 628, Môhamet kí hòa ước
ngừng chiến 10 năm với Mecca. Năm 629, Môhamet dẫn 2000 tín đồ ở Mêdina đến Mecca và
đến thăm đền Caaba. Nhiều người ở Mecca và vung xung quanh cũng theo Hồi giáo.
Năm 630, nhận thấy mình đã đủ thế lực để chiếm Mecca, Môhamet đem 10.000 người tiến
xuống thành phố này. Mecca không dám chống cự. Môhamet trở thành người đứng đầu nhà nước
Arập mới thành lập. Các tượng thần bộ lạc trong đền Caaba bị vứt bỏ. Đền Caaba trở thành thánh
thất chính của Hồi giáo và Mecca trở thành thánh địa chủ yếu của tôn giáo này.
Năm 632, Môhamet chết. Từ đó, người đứng đầu nhà nước và tôn giáo ở Arập gọi là Calipha
(nghĩa là người kế thừa của tiên tri).
Để mở rộng đất đai và truyền bá đạo Hồi, Arập tích cực thi hành chính sách xâm lược bên ngoài.
Kết quả Arập đã lần lượt chinh phục được Xiri (636), Palextin (638), Ai Cập (642), Ba Tư (651).