I. MỞ DẦU.
1.Tính cấp thiết đề tài:
1.1: khí hậu toàn cầu có xu hướng biến đổi mạnh mẽ tác động mọi mặt đến
đời sống con người,đời sống tự nhiên trong đó tác động trực tiếp tới sự phát
triển và phân bố của sinh vật.Do vậy vấn đề nghiên cứu các nhân tố này trong sự
tác động đến lớp phủ tự nhiên càng được quan tâm.
1.2: Diện tích rừng tự nhiên trên trái đất ngày càng bị thu hẹp do sự tác
động của các nhân tố tự nhiên như sự thay đổi mực nước biển,xuất hiện của các
sinh vật ngoại lai,tác động của dòng hải lưu,nhiệt độ thay đổi gia tăng quá trình
hoang mạc hóa ,con người xả thải vào môi trường,mở rộng quá trình sản xuất
,sinh hoạt…
1.3: Hoạt động khai thác tài nguyên quá mức,đặc biệt là tài nguyên khoáng
sản,tài nguyên sinh vật làm tăng nguy cơ tuyệt diệt các giống loài sinh vật và thu
hẹp biên độ sinh thái.
1.3: Ý thức bảo vệ tự nhiên của một bộ phận lớn người trên trái đất còn
kém,do vậy cần nâng cao ý thức trách nhiêm của mọi người trước sự thu hẹp
dần của môi trường tự nhiên như hiện nay.Bằng cách làm cho con người hiểu
được nguyên nhân làm giảm diện tích lớp phủ tự nhiên để có cách bảo vệ tốt
môi trương tự nhiên.
1.4: Nhà nước ta và các tổ chức môi trường trên thế giới luôn thực hiện các
chương trình hành động như:trồng rừng ven biển,các nước có nguy cơ xâm thực
biển,các chươn trình hỗ trợ trồng rừng,bảo tồn gen các loài có nguy cơ bị tuyệt
chủng và phục hồi các sinh vật đã bị tuyệt chủng.tuy nhiên các chương trình này
còn mang tính cục bộ chưa đi sâu vào phạm vi toàn cầu,vấn đề suy giảm tài
nguyên sinh vật vẫn còn tái tiếp diễn.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
2.1: Nghiên cứu các ảnh hưởng của nhân tố tự nhiên và kt-xh đến sự phân
bố sinh vật,góp phần tìm hiểu kĩ nguyên nhân sâu xa của sự suy giảm sinh
vật.Để chúng ta có những giải pháp hiệu quả phát triển bền vững môi trường tự
nhiên thông qua việc tìm hiểu các nhân tố tác động đến chúng.
2.2: Thông qua việc tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến đời sống sinh
4.1: Nghiên cứu các mặt tác động trên cơ sở lí luận và thực tiễn của các nhân tố
ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố của sinh vật từ đó nêu lên nhân tố đóng
vai trò quan trọng trong sư tác động tổng thể của nhiều nhân tố.
4.2: Tìm hiểu thực trạng của sự tác động của các nhân tố đến lớp phủ sinh vật
trên trái đất và Việt Nam.
4.3: Tìm hiểu những giải pháp có tính khả thi của con người trong việc bảo vệ
tài nguyên sinh vật.
5. Đối tượng nghiên cứu:
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố sinh vật bao gồm các
nhân tố khí hậu,sinh vật ,đất đai,địa hình,con người, dòng hải lưu, sự thay đổi
mực nước biển.
6. Phạm vi nghiên cứu:
6.1: Do khả năng có hạn đề tài chỉ nghiên cứu các nhân tố khí hậu,sinh vật ,đất
đai,địa hình,con người, dòng hải lưu, sự thay đổi mực nước biển có tác động đến
sự phát triển và phân bố của sinh vật.
6.2: Đề tài nghiên cứu quy luật tác động chung của các nhan tố trên,trên phạm
vi toàn cầu và việt nam có chọn lọc phù hợp với tầng nội dung của đề tài.
7. Phương pháp nghiên cứu đề tài:
7.1: Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết.
7.1.1: Phương pháp phân tích tổng hợp
7.1.2: Phương pháp phân loại hệ thống hóa
7.1.3: Phương pháp giả thuyết
7.1.4: Phương pháp lịch sử
7.2: Nhóm phương pháp thực tiễn.
7.2.1: Phương pháp chuyên gia
7.2.2: Phương pháp bản đồ.
II. NỘI DUNG.
Chương 1 : Cơ sở lí luận và thực tiễn của các nhân tố ảnh hưởng đến quá
trình phát triển và phân bố của sinh vật:
1.1: Khái niệm chung:
Các khái niệm khí hậu:
- Theo Voaycop:Khí hậu là trạng thái thời tiết trung bình.
- Theo Phedorop:Khí hậu là tổng hợp của thời tiết
- Theo Bec: Khí hậu là một bộ phận của quá trình Địa Lí.
- Theo quan điểm hiện đại: Khí hậu đó là sự tiếp diễn có quy luật của
các quá trình khí quyển được tạo thành ở một nơi nhất định do kết quả tác động
qua lại của bức xạ mặt trời,hoàn lưu khí quyển và điều kiện Địa Lí địa
phương,nó chi phối chế độ thời tiết đặc trưng cho nơi dó.
- Theo Alixop: Khí hậu của một nơi nào đó là chế độ thời tiết đặc
trưng cho nhiều năm,được tạo nên bởi bức xạ mặt trời,đặc tính của mặt đệm và
hoàn lưu khí quyển.
Từ những khái niệm trên,về mặt định lượng khí hậu là chế độ trung
bình nhiều năm của thời tiết.
Khí hậu là nguồn lợi về ánh sáng,nhiệt,ẩm,mây,mưa,gió, khí áp Tác
động quan trọng trong việc hình thành và phát triển và phân bố sinh vật,ngoài ra
khí hậu còn được con người khai thác nhằm mục đích thúc đẩy sự sinh
trưởng,phát triển và tăng năng xuất cây trồng,vật nuôi hoặc phục vụ những mục
đích phát triển kinh tế- xã hội khác.Khí hậu là nhân tố tự nhiên quan trọng quyết
định đến đời sống của sinh vật trên Trái Đất,bao gồm cả loài người,mỗi nhân tố
của khí hậu đều có cách thức khác nhau trong sự tác động đến đời sống sinh
vật,nhưng các nhân tố này là một thể thống nhất,sự biến đổi của nhân tố này làm
thay đổi nhân tố khác điều này đồng nghĩa với thay đổi đặc điểm sinh trưởng và
phát triển sinh vật.Vì vậy nghiên cứu sinh vật trong việc nghiên cứu sự tác động
của yếu tố khí hậu đến lớp phủ sinh vật trên toàn cầu là một vấn đề quan trọng
cần được quan tâm.
1.2.1.2: Nhân tố ánh sáng:
Ánh sáng ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoặt động của sinh vật,đặc biệt là
sự quang hợp của cây xanh .Mỗi loài cây đều có những nhu cầu riêng về cường
độ và thời gian chiếu sáng ,nên trên cùng một khoảng không gian theo chiều
thẳng đứng có thể có nhiều loài thực vật cùng sinh sống,tạo nên nhiều tầng tán
6 Savan 40
7 Step ôn đới 16
8 Tundra 6
9 Sa mạc cây bụi 7
10 Sa mạc thực thụ,vùng cực 0,2
11 Hệ sinh thái nông nghiệp 10
12 Đầm Lầy 150
13 Hồ và sông 0,2
14 Đại dương 0,03
15 Vùng nước trồi 0,2
16 Cửa sông 10
Ánh sáng có ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống của thực vật từ khi hạt nảy
mầm, sinh trưởng, phát triển cho đến khi cây ra hoa kết trái rồi chết.
Ánh sáng có ảnh hưởng khác nhau đến sự nảy mầm của các loại hạt. Có
nhiều loại hạt nảy mầm trong đất không cần ánh sáng, nếu các hạt này bị bỏ ra
ngoài ánh sáng thì sự nảy mầm bị ức chế, hoặc không nảy mầm, như hạt cà độc
dược, hoặc hạt của một số loài trong họ Hành. Trái lại có một số hạt giống ở chỗ
tối không nảy mầm được tốt như hạt cây phi lao, thuốc lá, cà rốt và phần lớn các
cây thuộc họ Lúa.
Ánh sáng có ảnh hưởng nhất định đến hình thái và cấu tạo của cây. Những
cây mọc riêng lẽ ngoài rừng hay những cây mọc trong rừng có thân phát triển
đều, thẳng, có tán cân đối. Những cây mọc ở bìa rừng hoặc trên đường phố có
tường nhà cao tầng, do có tác dụng không đồng đều của ánh sáng ở 4 phía nên
tán cây lệch về phía có nhiều ánh sáng. Đặc tính này gọi là tính hướng ánh sáng
của cây.
Ánh sáng còn ảnh hưởng đến hệ rễ của cây. Đối với một số loài cây có rễ
trong không khí (rễ khí sinh) thì ánh sáng giúp cho quá trình tạo diệp lục trong
rễ nên rễ có thể quang hợp như một số loài phong lan trong họ Lan . Còn hệ rễ ở
dưới đất chịu sự tác động của ánh sáng, rễ của các cây ưa sáng phát triển hơn rễ
của cây ưa bóng.
Tương quan này không giống nhau trong các thời kỳ khác nhau trong năm cũng
như trên các vĩ tuyến khác nhau. Quang chu kỳ đã được Garner và Alland phát
hiện năm 1920. Liên quan đến độ dài chiếu sáng, thực vật còn được chia thành
nhóm cây ngày dài và cây ngày ngắn. Cây ngày dài là cây ra hoa kết trái cần pha
sáng nhiều hơn pha tối, còn ngược lại, cây ngày ngắn đòi hỏi độ dài chiếu sáng
khi ra hoa kết trái ngắn hơn.
1.2.1.2.2: Ảnh hưởng của ánh sáng đến sự phát triển và phân bố của động vật:
Ánh sáng ảnh hưởng đến khả năng thích nghi của nhiều loài động vật bao
gồm khả năng định hướng,sinh sản và sinh trưởng của các loài.
Ở một số loài động vật có khả năng tiếp nhận những tia sáng khác nhau
của quang phổ ánh sáng mặt trời mà mắt người không tiếp thu được. Một số loài
động vật thâm mềm dưới nước sâu và Rắn mai gầm có thể tiếp thu tia hồng
ngoại. Ong và một số loài chim có thể phân biệt được mặt phẳng phân cực ánh
sáng mà con người hoàn toàn không nhận biết, ngoài ra chúng còn có thể nhìn
thấy được quang phổ vùng sóng ngắn trong đó có cả tia tử ngoại nhưng không
nhận biết được tia sáng màu đỏ (có độ dài sóng lớn). Ong chính nhờ tiếp thu
được mặt phẳng phân cực ánh sáng nên xác định được vị trí của mình mà định
hướng được địa phương thậm chí cả khi Mặt Trời bị mây che lấp.
Nhiều loài động vật định hướng nhờ thị giác trong thời gian di cư. Đặc biệt
nhất là chim, những loài chim trú đông bay vượt qua hàng ngàn kilômét đến nơi
có khí hậu ấm hơn nhưng không bị chệch hướng.Qua nhiều công trình nghiên
cứu đã chứng minh rằng ánh sáng sau khi kích thích cơ quan thị giác, thông qua
trung khu thần kinh gây nên hoạt động nội tiết ở tuyến não thùy, từ đó ảnh
hưởng tới sự sinh trưởng và phát dục ở động vật.
Ví dụ: Để rút ngắn thời gian phát triển ở cá hồi , người ta tăng cường độ chiếu
sáng. Hoặc như cá chép nuôi ở những ruộng lúa vùng Quế Lâm (Trung Quốc)
do ảnh hưởng của ánh sáng mạnh, nhiệt độ cao, nên tuy cơ thể cá còn nhỏ (150-
250 gam) nhưng đã thành thục sinh dục sớm (1 tuổi). Dựa vào hiện tượng đó,
ngư dân vùng Quảng Đông (Trung Quốc) đã thúc đẩy cá chép đẻ sớm bằng cách
hạ mực nước trong ao nuôi vào mùa xuân để tăng cường độ ánh sáng và nhiệt độ
cơ quan xúc giác và cơ quan phát sáng.
1.2.1.2.3 : Ảnh hưởng của ánh sáng đối với vi sinh vật:
Ảnh hưởng mặt trời chiếu rọi xuống đất, những vi sinh vật phát triển
trên bề mặt đất đều bị tiêu diệt, trừ những vi khuẩn tự dưỡng quang năng.
Thường thường chúng bị tiêu diệt rất nhanh trong vài phút đến 1 giờ. Các vi sinh
vật gây bệnh thường nhạy cảm với ánh sáng hơn những vi sinh vật gây thối.
Tác dụng thiếu sáng phụ thuộc vào bước sóng của tia sáng. Bước sóng
càng ngắn, khả năng tác dụng quang hoá càng mạnh càng làm vi sinh vật dễ bị
tiêu diệt.
Lợi dụng đặc tính này mà người ta thường phơi nắng các dụng cụ cần
bảo quản, một mặt làm giảm độ ẩm, một mặt tiêu diệt những vi sinh vật trên bề
mặt. Hai nữa, nhiều người tắm nắng, một trong những yêu cầu là làm hệ vi sinh
vật trên da bị tiêu diệt.
1.2.1.3: Nhiệt độ:
Nhiệt độ tác động trực tiếp đến sự phát triển và phân bố sinh vật,mỗi loài sinh
vật thích nghi với một chế độ nhiệt nhất định,phân bố ở nơi thích hợp với nó.Ví
dụ:Gấu Bắc Cực, hải cẩu, chim cánh cụt, thích nghi với điều kiện lạnh,phân bố ở
vùng cực;Các loài cây ưa nhiệt như dừa nước,cafe Thường phân bố ở vùng
nhiệt đới và xích đạo,ngoài ra nhiệt độ môi trường đã tạo ra những nhóm sinh
vật có khả năng thích nghi khác nhau,sự khác nhau này thể hiện ở hình thái cấu
tạo,hoạt động sinh lí và cả tập tính của sinh vật.
1.2.1.3.1:Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển và phân bố của thực vật:
Đối với thực vật, nhiệt độ có ảnh hưởng đến hình thái, chức năng sinh lý và
khả năng sinh sản.
Nhiệt độ thấp có ảnh hưởng đến hình thái của cây. G.I Parlovscaia (1948) đã
làm thí nghiệm với cây Cốc-xa-ghi thấy rằng trong điều kiện ánh sáng và độ ẩm
giống nhau, nếu để cây ở nhiệt độ 6
0
C thì lá xẻ thuỳ sâu, ở nhiệt độ 15 -18
0
0
C. Quá trình thoát hơi nước của thực vật cũng chịu
ảnh hưởng của nhiệt độ. Khi nhiệt độ không khí càng cao, độ ẩm không khí càng
xa độ bảo hòa; cây thoát hơi nước mạnh. Khi nhiệt độ thấp, độ nhớt của nguyên
sinh chất tăng lên, áp suất thấm lọc giảm nên rễ hút nước khó khăn không đủ
cung cấp cho cây, để thích nghi trong điều kiện này cây tiến hành rụng lá.
Nhiệt độ có ảnh hưởng của đến quá trình sống thực vật. Trong những giai
đoạn phát triển cá thể khác nhau, nhu cầu nhiệt độ cũng khác nhau. Chẳng hạn
như ở giai đoạn nảy mầm, hạt cần nhiệt độ thấp hơn thời kỳ nở hoa, vào thời kỳ
quả chín đòi hỏi nhiệt độ cao hơn cả. Khả năng chịu đựng nhiệt độ bất lợi ở các
bộ phận của thực vật không giống nhau. Lá là cơ quan tiếp xúc nhiều và trực
tiếp với không khí, do đó chịu đựng được sự thay đổi về nhiệt độ thấp.
Nhiệt độ còn là nhân tố quyết định đến sự phân bố của các loài thực vật trên
Trái Đất:
Nhóm cây ưa lạnh ( hàn đới,ôn đới ):Đối với thực vật nhóm cây hàn
đới,trong điều kiện nhiệt độ thấp và thời gian sinh trưởng ngắn nên thực bì
nghèo về loài và ít đa dạng,cây cối thường thấp bé.Thống trị chủ yếu là rêu và
địa y ngoài ra còn có một số loài cỏ và cây bụi lá cứng;Đối với nhóm thực vật
ôn đới thì nhiệt độ ở khu vực này có cao hơn so với hàn đới,tuy nhiên do sự
phân hó lãnh thổ nên dần đến sự phân hóa về chế độ nhiệt giữa khu vực bờ
đông,bờ tây,trung tâm lục địa nên thực vật phát triển phong phú với nhiều thảm
thực vật khác nhau:Rừng taiga,rừng lá rộng,thảo nguyên rừng,thảo
nguyên,hoang mạc và bán hoang mạc.
Nhóm cây chiệu nóng ( nhiệt đới và xích đạo ):Đặc điểm chung của nhóm
cây này là thích nghi với điều kiện nhiệt độ cao trên 25
0
C,hệ thựu vật phát tiển
nhiều tầng tán,phong phú về số lượng loài thực vật phân bố trong các khu rừng
xích đạo,cận xích đạo,nhiệt đới.Trong các vùng nằm sâu trong lục địa khí hậu
khô hạn hình thành cảnh quang hoang mạc và bán hoang mạc điển hình là các
Hình:1.2.1.2.3: Loài gấu bắc cực có khả năng giữ nhiệt tốt.
- Hình thành các tập tính để giữ thăng bằng nhiệt. Trong quá trình sống, động
vật đã hình thành những tập tính giữ cân bằng nhiệt có hiệu quả nhất để thích
nghi với nhiệt độ của môi trường. Các động vật biến nhiệt tìm kiếm những môi
trường thích hợp bằng cách đào hang, xây tổ để tạo ra nơi ở có khí hậu thuận
lợi cho chúng hoặc tránh các điều kiện khắc nghiệt của môi trường như độ chiếu
sáng, nhiệt độ, độ ẩm Hoặc nhờ thay đổi tư thể, động vật có thể làm tăng hoặc
giảm sự đốt nóng cơ thể do bức xạ mặt trời, đó chính là những đặc tính của
chúng. Hiện tượng này gặp rất nhiều ở một số sâu bọ, bò sát, cá Ngoài ra tập
tính của một số loài côn trùng sống thành xã hội như kiến, mối, ong phức tạp
hơn. Chúng xây dựng tổ và có các hoạt động để điều hòa nhiệt trong tổ. Ở động
vật đẳng nhiệt, nhờ sự phát triển và hoàn chỉnh cơ chế điều hòa nhiệt và sự hình
thành trung tâm điều khiển nhiệt ở não bộ và giữ cho nhiệt độ cơ thể ổn định, ít
phụ thuộc vào môi trường ngoài. Đó là đặc điểm tiến hóa của động vật. Ngoài
ra, một đặc điểm thích nghi khá độc đáo để điều hòa nhiệt độ ở động vật đẳng
nhiệt là tập tính tụ hợp lại thành đám. Ví dụ chim cánh cụt ở vùng gió và bảo
tuyết đã biết tập trung lại thành một khối dày đặc. Những con chim đứng ở vòng
ngoài cùng sau một thời gian chịu rét đã chui vào giữa đám và cả đàn chuyển
động chậm chạp vòng quanh, do đó ở ngoài môi trường nhiệt nhiệt độ rất thấp
nhưng bên trong nhiệt độ vẫn cao.
Nhiệt độ môi trường ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh sản của động
vật:Khi nhiệt độ xuống thấp quá hoặc lên cao quá,vượt khỏi mức giới hạn sinh
trưởng bình thường thì động vật không phát triển được,sự sinh sản bị ngừng
trệ.Ví dụ,loài hà mã bám thân cây nước lợ ven biển ở ôn đới có mức ngưỡng
nhiệt là 2
0
C-18
0
C,cá chép chỉ đẻ trứng khi nhiệt độ không thấp dưới 15
0
Escherichia coli 10 37 45
Neisseria gonorrhoeae 30 35-36 38
Thermoplasna acidophilum 45 59 62
Bacillus stearothermophilus 30 60-65 75
Thermus aquaticus 40 70-72 79
Sulfolobus acidocaldarius 60 80 85
Pyrococcus abyssi 67 96 102
Pyrodictium occultum 82 105 110
Pyrolobus fumarii 90 106 113
Vi khuẩn quang hợp và vi khuẩn lam
Rhodospirillum rubrum - 30-35 -
Anabaena variabilis - 35 -
Osillatoria tenuis - - 45-47
Synechococcus eximius 70 79 84
Tảo nhân thật
Chlamydomonas nivalis -36 0 4
Fragilaria sublinearis -2 5-6 8-9
Chlorella pyrenoidosa - 25-26 29
Euglena gracilis - 23 -
Skeletonema costatum 6 16-26 >28
Cyanidium caldarium 30-34 45-50 56
Nấm
Candida scottii 0 4-15 15
Saccharomyces cerevisiae 1-3 28 40
Mucor pusillus 21-23 45-50 50-58
Động vật nguyên sinh
Amoeba proteus 4-6 22 35
Naegleria fowleri 20-25 35 40
Trichomonas vaginalis 25 32-39 42
Paramecium caudatum 25 28-30
0
C, nhiệt độ cao
nhất là cao hơn 35
0
C, nhưng chúng vẫn có thể sinh trưởng trong điều kiện 0-
7
0
C.Chúng thuộc về nhóm ưa lạnh không bắt buộc (Psychrotrophs hay
facultative psychrophiles). Những vi khuẩn và nấm thuộc nhóm này là nguyên
nhân chính làm hư hỏng thực phẩm giữ lạnh.
Vi sinh vật ưa ấm : Đó là các vi sinh vật sinh trưởng tốt nhất ở 20-45
0
C,
nhiệt độ sinh trưởng thấp nhất là 15-20
0
C. Nhiệt độ sinh trưởng cao nhất là
khoảng 45
0
C hoặc thấp hơn. Phần lớn vi sinh vật là thuộc về nhóm này. Hầu
như mọi vi khuẩn gây bệnh cho người đều là vi sinh vật ưa ấm, bởi vì thân nhiệt
của người là 37
0
C.
Hình 1.2.1.3.3 c :Phạm vi nhiệt độ sinh trưởng của vi sinh vật
Vi sinh vật ưa nhiệt : Đó là các vi sinh vật sinh trưởng được ở nhiệt độ
55
0
C hay cao hơn nữa. Nhiệt độ sinh trưởng tốt nhất đối với chúng là 33-65
0
C.
98% như ở một số cây mọng nước, ở ruột khoang (ví dụ: thủy tức).Nước là
nguyên liệu cho cây trong quá trình quang hợp tạo ra các chất hữu cơ. Nước là
môi trường hoà tan chất vô cơ và phương tiện vận chuyển chất vô cơ và hữu cơ
trong cây, vận chuyển máu và các chất dinh dưỡng ở động vật.Nước tham gia
vào quá trình trao đổi năng lượng và điều hòa nhiệt độ cơ thể.Cuối cùng nước
giữ vai trò tích cực trong việc phát tán nòi giống của các sinh vật, nước còn là
môi trường sống của nhiều loài sinh vật.
Độ ẩm không khí có ảnh hưởng nhiều đến các sinh vật, nhất là các sinh vật ở
trên cạn. Một số loài sinh vật để đảm bảo cho hoạt động sống bình thường cần
độ ẩm tương đối. Đối với thực vật, khi độ ẩm thấp, cường độ thoát hơi nước
tăng, cây bị héo. Còn nếu độ ẩm cao quá mức thì thời gian ra hoa, kết quả của
cây bị chậm lại. Yêu cầu về độ ẩm của các loài thực vật không giống nhau, ví dụ
như cây samu sinh trưởng tốt ở nơi có độ ẩm cao, cây phi lao chịu được độ ẩm
tương đối thấp. Ngoài ra độ ẩm còn ảnh hưởng đến sự phân bố của thực vật, ví
dụ cây mỡ đòi hỏi không khí ẩm hơn cây chè, nên sự phân bố tự nhiên của cây
mỡ thu hẹp trong một khu vực nhất định. Tuy vậy, khi nghiên cứu sự phân bố
của sinh vật không nên dựa vào chỉ số độ ẩm mà phải dựa vào chỉ số khô hạn.
1.2.1.4.1:Ảnh hưởng của nước và độ ẩm trong không khí đến sự phát triển và
phân bố thực vật:
Sự thoát hơi nước của cây phụ thuộc rất nhiều vào độ ẩm không khí,độ ẩm
cao sự thoát hơi nước bị hạn chế ngược lại độ ẩm thấp cây thoát hơi nước nhiều
dẫn đến khô vì vậy đây là nhân tố quan trọng quyết định đến sự sống và phát
triển sinh vật.Các nhóm thực vật liên quan đến chế độ nước: Theo độ tập trung
đến các nơi ở có chế độ nước khác nhau mà người ta chia thực vật trên cạn ra 4
nhóm sinh thái cơ bản : nhóm cây ngập nước định kỳ, nhóm cây ưa ẩm, nhóm
cây chịu hạn và nhóm cây trung sinh.
Nhóm cây ngập nước định kỳ: Bao gồm những loài thực vật sống trên đất
bùn dọc bờ sông, cửa sông, cửa biển chịu tác động định kỳ của thủy triều. Đây là
môi trường không thuận lợi đối với nhiều loài thực vật trên cạn. Chỉ có một số
loài có khả năng thích nghi. Đặc biệt là ở các bãi lầy ven biển, cửa sông vùng
Thầu dầu, họ Xương rồng , họ Rau muối, họ Dứa , họ Thuốc bỏng , họ Hành
Chúng sống ở các vùng sa mạc và những nơi khô hạn kéo dài. Lá cây mọng
nước có đặc điểm lá dày, có tầng cutin dày, trên mặt lá có một lớp sáp hoặc
được phủ lông dày, lỗ khí nằm sát biểu bì, có nhiều tế bào lớn chứa nước trong
phần thịt lá. Ngoài ra nhiều cây có lá tiêu giảm thành dạng vảy nhỏ, hoặc biến
thành gai như cây xương rồng, lúc đó thân làm nhiệm vụ quang hợp vì có chứa
nhiều diệp lục, hệ rễ ăn nông và rộng.
Hoạt động sinh lý của cây mọng nước yếu là do trao đổi chất với môi trường
ngoài ít nên sinh trưởng rất chậm. Cây mọng nước chịu đựng được nhiệt độ cao
rất tốt, chúng có thể chịu được nhiệt độ 60 - 65
0
C, đó là do chúng giữ được
lượng nước liên kết lớn, lượng nước liên kết trong cơ thể chúng có thể đạt tới 60
- 65% tổng lượng nước trong cơ thể (cây mọng nước chứa từ 90-98% nước so
với khối lượng cơ thể)
+ Cây lá cứng: bao gồm phần lớn thuộc họ Lúa , họ Cói , một số loài cây gỗ
thuộc họ Thông , họ Phi lao , họ Sổ chúng thường sống ở những vùng có khí
hậu khô theo mùa, savan, thảo nguyên,
Cây lá cứng có lá hẹp, nhỏ. Lá được phủ nhiều lông trắng bạc có tác dụng
cách nhiệt. Tế bào biểu bì có thành dày, tầng cutin dày, gân lá phát triển. Ở một
số loài cây, mặt trên lá có tế bào cơ có tác dụng làm cho lá có thể cuộn lại để
hạn chế sự tiếp xúc của lỗ khí với khí hậu nóng. Một số loài có lá biến thành gai
hoặc thùy lá biến thành gai Cây lá cứng có chất nguyên sinh có khả năng chịu
hạn cao, lực hút của rễ mạnh; nhờ vậy mà khi gặp khô hạn chúng có thể hút
được nước. Cường độ thoát hơi nước cao có tác dụng chống nóng cho cây.
Nhóm cây trung sinh: Nhóm cây này có những tính chất trung gian giữa
cây hạn sinh và cây ẩm sinh. Chúng phân bố rất rộng từ vùng ông đới đến vùng
nhiệt đới chẳng hạn như những loài cây gỗ thường xanh ở vùng nhiệt đới, rừng
thường xanh ẩm á nhiệt đới, cây lá rộng xanh mùa hè ở rừng ôn đới Phần lớn
cây nông nghiệp là cây trung sinh.Lá của cây trung sinh có kích thước trung
sống ở hoang mạc có các tuyến mồ hôi kém phát triển. Chúng có nhu cầu nước
thấp, lấy nước từ thức ăn, thải phân khô, bài tiết ít nước tiểu, một số (lạc đà) sử
dụng cả nước nội bào (ô xy hoá mỡ dự trữ). Ngoài ra còn có nhiều loài động vật
tránh khô nóng bằng cách ngủ hè hay đào hang trong đất. Sên có thể sống 4
năm liền bằng cách ngủ hè khi khí hậu quá khô. Các động vật sa mạc như các
loài bò sát đất cát; sâu bọ cánh cứng, châu chấu sa mạc thuộc nhóm này.
Hình 1.2.1.4.2: Lạc đà loài động vật đặc trưng cho miền khô hạn
.
Động vật trung sinh: Bao gồm các loài động vật trung gian giữa hai
nhóm trên, có yêu cầu vừa phải về nước hoặc độ ẩm. Nhóm này có đặc tính là
chịu được sự thay đổi luân phiên của độ ẩm giữa mùa mưa và mùa khô. Phần
lớn các loài động vật ở vùng ôn đới và nhiệt đới gió mùa thuộc nhóm này.
1.2.1.4.3: Ảnh hưởng của độ ẩm đến vi sinh vật.
Độ ẩm không khí, độ ẩm vật liệu hay độ ẩm môi trường cũng ảnh hưởng
rất lớn đến sự phát triển và sinh sản của vi sinh vật. Đa số vi sinh vật phát triển
tốt ở độ ẩm >80% và độ ẩm môi trường > 20%.
Nếu hạ thấp độ ẩm sẽ làm rối loạn quá trình sinh lý bình thường của vi sinh
vật. Độ ẩm là một trong những yếu tố làm cho vi sinh vật tiếp nhận thức ăn dễ
dàng. Nhờ có độ ẩm tốt mà các chất dinh dưỡng dễ thâm nhập vào cơ thể, các hệ
enzym thuỷ phân mới hoạt động được. Nếu độ ẩm quá thấp xảy ra hiện tượng
thay đổi trạng thái của nguyên sinh chất. Từ thay đổi trạng thái như vậy dẫn tới
vi sinh vật không phát triển được.
Lợi dụng đặc điểm này người ta tiến hành những phương pháp sấy khô,
phơi khô để làm giảm độ ẩm nguyên liệu. Làm khô không khí để hạn chế sự
phát triển của vi sinh vật hay để những vật liệu cần bảo quản ở những điều kiện
khô ráo cho vi sinh vật ít phá hoại.
1.2.1.5: Khí áp và gió.
Khí áp và gió có tác động trực tiếp lên đời sống sinh vật,ảnh hưởng đến quá
trình sinh trưởng và phân bố của các loài sinh vật.
1.2.1.5.1: Ảnh hưởng của khí áp và gió đến sự phát triển và phân bố thực vật.
Đới xích đạo ẩm ướt với sự thống trị của áp thấp xích đạo nóng ẩm,chế độ
gió mùa ổn định trong năm,chế độ nhiệt ẩm thuận lơi cho quá trình sinh trưởng
và sinh sản của động vật.Điển hình như rừng Amazon có khí hú, heo vòi, tà
tu,hổ Nam Mĩ,cá sấu ;Rừng châu Ắ có đười ươi,gấu Mã Lai, ;Rừng xích đạo
châu Phi có Hà mã,tinh tinh,tắc kè Châu Phi ngoài ra giới côn trùng,sâu bọ
cũng nhiều,các loài chim đông đảo,điều nầy chứng minh cho vai trò phát triển
động vật mà một trong những nhân tố quan trọng là khí áp và gió.
Ngoài ra gió còn giữ vai trò quan trọng trong việc phát tán côn trùng;chim
báo bảo lợi dụng gió trong việc di chuyển,gió còn ảnh hưởng đến cấu tạo,hình
thái của động vật.Ở các đảo ngoài đại dương,trải qua quá trình thích nghi lâu dài
nhiều sâu bọ có cánh tiêu biến dần để tránh bị gió mang ra biển
1.2.1.6: Sự phân bố của các kiểu thảm thực vật trên thế giới tùy thuộc vào
sự phân bố của điều kiện khí hậu khu vực.
Sự lặp lại có quy luật của các chỉ số tương quan nhiệt ẩm ở các vành đai
địa lí khác nhau thể hiện quy luật tuần hoàn của tính địa đới địa lí và là cơ sở
cấu trúc của vỏ cảnh quan Trái Đất.Cán cân bức xạ nhiệt (R ) là cơ sở cho sự
phân chia các đới cảnh quan:
+ R nhỏ hơn 50 kcal/cm2/năm: Vành đai cực,cận cực và ôn hòa.
+ R Khoảng từ 50-75 kcal/cm2/năm:Vành đai cận nhiệt đới.
+ R trên 75 kcal/cm2/năm: vòng đai nhiệt đới.
Các vòng đai nhiệt khác nhau quy định đới cảnh quan khác nhau.