Nghiên cứu quy trình chiết tách dầu từ hạt chè xanh Lâm Đồng - Pdf 25

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tên đề tài: Nghiên cứu quy trình chiết tách dầu từ hạt chè xanh Lâm Đồng
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Yến
Cơ quan chủ trì: Trung tâm Phát triển Khoa học và Công nghệ Trẻ
Thời gian thực hiện: từ tháng 12 năm 2012 đến tháng 12 năm 2013
Kinh phí được duyệt: 80.000.000 đồng
Kinh phí đã cấp: theo TB số: 296/2012/HĐ-SKHCN ngày 14 tháng 12 năm 2012
2. Mục tiêu
- Xác định thông số công nghệ trong quy trình chiết tách dầu từ hạt chè xanh
(Camellia sinensis) ở Lâm Đồng.
- Xác định chỉ tiêu hóa lý, thành phần acid béo của dầu thành phẩm và so sánh các
chỉ tiêu này với dầu mè thương mại Nakydaco.
3. Nội dung nghiên cứu
Công việc dự kiến
Thực hiện
Chuẩn bị và đánh giá chất lượng nguyên liệu
Đã hoàn tất
Chiết tách dầu từ hạt chè bằng phương pháp trích ly
Đã hoàn tất
Chiết tách dầu bằng phương pháp ép nguội
Đã hoàn tất
Chiết tách dầu từ hạt chè bằng phương pháp trích ly và ép nguội
có quá trình kết hợp tiền xử lý enzym Viscozyme bột hạt chè
Đã hoàn tất
Xác định các chỉ tiêu hóa lý dầu thô
Đã hoàn tất
Tinh sạch dầu, xác định cường độ màu, tỉ trọng, chỉ tiêu hóa lý
dầu tinh sạch và mẫu so sánh là dầu mè nguyên chất Nakydaco

ngành sản xuất dầu đáng được quan tâm nghiên cứu triển để triển khai ứng dụng ở
Việt Nam.
I
TÓM TẮT

Với mỗi phương pháp tách thu nhận dầu khác nhau thì hiệu suất thu hồi dầu
khác nhau. Đối với quy trình tách chiết dầu bằng phương pháp trích ly dung môi,
hàm lượng dầu hạt chè sau tinh sạch là 23,85% với hiệu suất đạt 83,25%, đối với
quy trình tách chiết dầu bằng phương pháp trích ly dung môi kết hợp tiền xử lý
enzym Viscozym bột nghiền 35,35% với hiệu suất đạt 87,39%, đối với quy trình
tách chiết dầu bằng phương pháp ép nguội trên máy ép thủy lực 15,76% với hiệu
suất đạt 55,01%, đối với quy trình tách chiết dầu bằng phương pháp ép nguội kết
hợp tiền xử lý enzym Viscozym bột nghiền 27,80% với hiệu suất đạt 68,73%. Tổng
hàm lượng acid béo bão hòa trong dầu hạt chè 16,03-16,72% thấp hơn so với dầu
mè Nakydaco (19,55%). Tổng hàm lượng acid béo chưa bão hòa trong dầu hạt chè
83,03-83,81% tương đương với mẫu dầu mè thương mại Nakydaco (83,35%). Tổng
acid béo chưa bão hòa đơn chủ yếu là oleic acid trong dầu hạt chè 70,38 – 75,66%
cao hơn so với mẫu dầu mè Nakydaco (40,79%). Tổng acid béo chưa bão hòa đa
chủ yếu là linoleic acid trong dầu hạt chè 8,03 – 12,65% thấp hơn so với mẫu dầu
mè Nakydaco (29,56%). Sau 3 tháng bảo quản, sự thay đổi chỉ số peroxyt giữa các
mẫu dầu hạt chè trong nghiên cứu ít hơn và chậm hơn (ép nguội 7,07 meq/kg, trích
ly bằng dung môi 7,25 meq/kg, ép nguội kết hợp xử lý enzym Viscozym 7,34
meq/kg, trích ly bằng dung môi kết hợp xử lý enzym 7,89 meq/kg) so với dầu mè
Nakydaco (11,19 meq/kg); khả năng chống oxy hóa các mẫu dầu hạt chè (IC
50
:
48,93 – 58,16 mg/ml) cao hơn mẫu dầu mè Nakydaco (IC

: 71,20
mg/ml).

III

MỤC LỤC
SỐ
NỘI DUNG
TRANG

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN

1.1
Sơ lược công nghiệp dầu thực vật tại Việt Nam
2
1.2
Các phương pháp tách chiết dầu
3
1.3
Cây chè và hạt chè xanh (Camellia sinensis)
12

CHƯƠNG II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.1
Vật liệu nghiên cứu
19
2.2
Nội dung nghiên cứu
20


3.1
Nội dung 1: Chuẩn bị và đánh giá chất lượng nguyên liệu
42
3.2
Nội dung 2: Kết quả khảo sát chiết tách dầu hạt chè bằng phương
pháp trích ly dung môi
44
3.3
Nội dung 3: Kết quả khảo sát chiết tách dầu bằng phương pháp
ép nguội
49

IV
3.4
Nội dung 4: Kết quả chiết tách dầu bằng phương pháp trích ly
dung môi và ép nguội kết hợp tiền xử lý enzym Vicozyme bột
hạt nghiền
54
3.5
Nội dung 5: Kết quả xác định các chỉ tiêu hóa lý dầu thô
60
3.6
Nội dung 6: Kết quả xác định chỉ tiêu hóa lý, hóa sinh dầu sau
tinh sạch và so sánh với dầu mè nguyên chất Nakydaco
63
3.7
Nội dung 7: Thành phần acid béo dầu thành phẩm và dầu mè
nguyên chất Nakydaco
66

Sản phẩm bài báo
108

V
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

VIẾT TẮT
THUẬT NGỮ
Trích ly + Vis
Phương pháp trích ly bằng dung môi kết hợp tiền xử lý
enzym bột nghiền
Ép nguội + Vis
Phương pháp ép nguội kết hợp tiền xử lý enzym bột
nghiền
Dầu mè
Dầu mè thương mại Nakydaco
IC
50

half maximal inhibitory concentration

VI
DANH SÁCH BẢNG

SỐ
TÊN BẢNG SỐ LIỆU
TRANG

bằng phương pháp ép nguội
49
3.8
Hàm lượng dầu thô thu được từ bột nghiền có kích thước khác
nhau bằng phương pháp ép nguội
50
3.9
Hàm lượng dầu thô thu được ở các áp lực ép khác nhau bằng
phương pháp ép nguội
51
3.10
Hàm lượng dầu thô thu được ở những thời gian khác nhau bằng
phương pháp ép nguội
52
3.11
Hàm lượng dầu thô thu được từ phương pháp trích ly và ép nguội
kết hợp tiền xử lý enzym ở pH khác nhau
54
3.12
Hàm lượng dầu thô thu được từ phương pháp trích ly và ép nguội
kết hợp tiền xử lý enzym ở nhiệt độ khác nhau
55
3.13
Hàm lượng dầu thô thu được từ phương pháp trích ly và ép nguội
kết hợp tiền xử lý enzym ở độ ẩm khác nhau
56
3.14
Hàm lượng dầu thô thu được từ phương pháp trích ly và ép
nguội kết hợp tiền xử lý enzym ở thời gian khác nhau
57

3.22
Chỉ số peroxyt các mẫu dầu nghiên cứu và dầu mè Nakydaco
theo thởi gian bảo quản
69
3.23
Sự thay đổi khả năng chống oxy hóa các dầu theo thời gian
70

VIII
DANH SÁCH HÌNH

SỐ
TÊN HÌNH ẢNH
TRANG
1.1
Cấu trúc hạt có dầu (Rosenthal và cộng sự, 1996)
3
1.2
Cấu trúc thành tế bào của hạt có dầu ( Keegstra và cộng sự,
1973)
3
1.3
Hoa, quả, cành chè
12
1.4
Phân bổ địa lý các tỉnh trồng chè trên bản đồ Việt Nam
12
1.5
Mô phỏng quá trình hình thành nụ, ra hoa, kết quả tạo hạt chè
14

44
3.4
Ảnh hưởng thời gian trích ly của dung môi n-hexan đến hàm
lượng dầu thô thu được
45
3.5
Ảnh hưởng kích thước hạt bột nghiền đến hàm lượng dầu thô
thu được phương pháp trích ly bằng dung môi n-hexan
46
3.6
Ảnh hưởng tỉ lệ nguyên liệu : dung môi đến hàm lượng dầu thô
thu được phương pháp trích ly bằng dung môi n-hexan
48
3.7
Ảnh hưởng độ ẩm bột nghiền đến hàm lượng dầu thô thu được
49

IX
bằng phương pháp ép nguội
3.8
Ảnh hưởng kích thước hạt bột nghiền đến hàm lượng dầu thô
thu được phương pháp ép nguội
50
3.9
Ảnh hưởng áp suất ép đến hàm lượng dầu thô thu được bằng
phương pháp ép nguội
51
3.10
Ảnh hưởng thời gian ép đến hàm lượng dầu thô thu được
phương pháp ép nguội

Sự thay đổi chỉ số peroxyt các loại dầu theo thởi gian bảo quản
69
3.19
Sự thay đổi giá trị IC
50
các loại dầu theo thời gian
71

3

1.2 Các phƣơng pháp chiết tách dầu
1.2.1 Cấu trúc hạt có dầu

(%)

Dừa
a

(%)

Đậu tƣơng
b

(%)

Cellulose
22
39
13
20
Hemicellulose
-
-
-
50
Pectic substances
39
< 1
-
30
Mannan
-
-

Mustakas (1980)
5 1.2.2 Chiết tách dầu bằng phƣơng pháp ép
Khởi đầu của quá trình chiết tách dầu được tiến hành bằng phương pháp thủ công
sử dụng hơi nước, gián đoạn. Đến năm 1092, quá trình chiết tách dầu liên tục bằng
thiết bị ép trục vít đã được Anderson phát minh và đưa vào ứng dụng. Cơ chế ép tách
dầu bằng máy ép trục vít dựa trên thiết kế thể tích giảm dần của vít trong lòng ống,
dầu được giải phóng ra khỏi bột nghiền do sự tạo thành áp lực trong máy ép, do sự nén
nguyên liệu và sức phản kháng của nguyên liệu. Cơ chế này được ứng dụng phổ biến
cho quá trình chiết tách dầu của hầu hết nguyên liệu. Sự thay đổi áp lực lớn hay nhỏ
phụ thuộc vào cấu tạo lòng ép, trục vít và đặc tính cơ ủa bột ép. Hiệu suất thu hồi
dầu phụ thuộc một số yếu tố sau:
- Mức độ nghiền hạt: kích thước hạt bột không đồng nhất, lượng ẩm phân phối
không đồng đều ở toàn khối bột; kích thước hạt bột lớn, đường đi của dầu dài, dầu khó
thoát ra bề mặt hạt bột nghiền dẫn đến hiệu suất chiết tách dầu giảm.
- Số lượng vỏ lẫn trong khối bột nghiền: vỏ có thành phần chủ yếu là cellulose
khả năng hút dầu cao làm giảm hiệu suất chiết tách .
- Mức độ làm ẩm và nhiệt độ chưng sấy (đối với phương pháp ép nóng): Nếu bột
quá khô, khi ép bột rời rạc, dầu không thoát ra được. Nếu bột quá nhão, dầu được giữ
lại trong các khe vách tế bào, các tế bào lại liên kết chặt chẽ với nhau làm tắc các
đường thoát dầu. Ngoài ra, cấu tạo thiết bị cũng ảnh hưởng đến hiệu suất chiết tách
dầu.
Tùy thuộc vào tính chất nguyên liệu, việc chiết tách dầu được thực hiện theo 2
giai đoạn (ép sơ bộ trước khi ép kiệt hay trích ly) hoặc ép trực tiếp (1 giai đoạn).
- Ép sơ bộ: sử dụng thiết bị ép dầu có áp suất tạo thành thấp, lượng dầu còn sót
lại trong bánh dầu khoảng 15-25%. Lượng dầu còn lại được chiết tách bằng biện pháp
trích ly hay phương pháp ép kiệt.
- Ép trực tiếp: máy ép được thiết kế với áp suất tạo thành trong lòng ép cao hơn,

trong nguyên liệu làm chậm quá trình khuếch tán phân tử và đối lưu.
7

- Kích thước và hình dạng hạt: Kích thước và hình dạng hạt ảnh hưởng đến vận
tốc chuyển động của dung môi qua lớp nguyên liệu. Nguyên liệu trích ly bền, không bị
vỡ vụn, trong quá trình trích ly sẽ tạo các hạt mịn lắng đọng trên những phần nguyên
liệu chưa bị phá vỡ cấu trúc, làm tắt các ống mao dẫn, dung môi sẽ lưu thông trên toàn
bề mặt lớp nguyên liệu. Mặt khác, các hạt mịn này sẽ bị dòng dung môi cuốn vào
mixen, làm cho mixen ra khỏi thiết bị có nhiều thành phần phân tán, gây phức tạp cho
quá trình làm sạch mixen.
- Vận tốc chuyển động của dung môi: Tăng vận tốc chuyển động của dung môi
tức làm tăng nồng độ mixen, tăng tốc độ khuếch tán, rút ngắn thời gian trích ly. Tuy
nhiên, nồng độ mixen thu được loãng, hao tốn nhiều dung môi.
- Tỷ lệ dung môi và nguyên liệu: Lượng nguyên liệu trích ly tỷ lệ thuận với lượng
dung môi, tùy thuộc vào đặc tính hòa tan dầu của từng loại dung môi. Tỷ lệ phù hợp
xúc tiến nhanh quá trình trích ly, tách kiệt dầu trong nguyên liệu, giảm thấp hàm lượng
dầu trong bã.
1.2.4 Chiết tách dầu bằng phƣơng pháp trích ly hoặc ép kết hợp tiền xử lý enzym
bột hạt nghiền
Enzym là một loại protein sinh học được sinh vật sống tổng hợp nên và tham gia
vào các phản ứng sinh học. Chiết tách dầu bằng phương pháp ép hoặc trích ly kết hợp
tiền xử lý enzym được xem là một kỹ thuật mới trong công nghiệp chiết tách dầu.
Trong phương pháp chiết tách dầu kết hợp tiền xử lý enzym, người ta thường sử dụng
các enzym cellulasse, hemicellulase hay pectinase, … nhằm phá vỡ cấu trúc của vách
tế bào làm tăng hiệu suất tách chiết dầu (Robert J. Whitehurst Barry A. Law, 2002).
1.2.4.1 Một số kết quả nghiên cứu chiết tách dầu bằng phƣơng kết hợp tiền xử lý
enzym bột hạt nghiền
Năm 1975, Lanzani và cộng sự đã nghiên cứu sử dụng các enzym thủy phân
trong công nghệ chiết xuất dầu hạt hướng dương bằng nước, kết quả là hiệu suất thu
nhận dầu từ 30% đối với mẩu không xử dụng enzym thủy phân tăng lên 44% đối với

trong công nghệ chiết tách dầu bằng phương pháp ép nguội trên máy ép trục vít.
9

Kết quả trong cùng điều kiện ép, hiệu suất thu hồi dầu tăng từ 30-50% đối với mẫu
không sử dụng enzym tăng lên 90-93% đối với mẫu có xử lý enzym, hàm lượng dầu
dư trong bánh dầu giảm còn 7,4%, chất lượng dầu kém hơn đối với dầu không xử lý
enzym nhưng cao hơn so với dầu thu nhận từ phương pháp trích ly bằng dung môi.
Năm 1993, Dominguez và cộng sự đã nghiên cứu sử dụng enzym thủy phân
trong công nghệ ép nguội dầu hạt đậu nành và hạt hướng dương. Hiệu suất thu nhận
dầu tăng hơn 35% đối với hạt đậu nành và tăng hơn 50% đối với hạt hướng dương.
Năm 1998, J. Sineiro và các cộng sự, nghiên cứu sử dụng enzym Celluclast 1,5L
(Novo Nordisk A/S) trong phương pháp chiết xuất dầu hạt hướng dương bằng nước
cho hiệu suất thu nhận dầu cao hơn 30% so với mẫu không sử dụng enzym.
Năm 2003, Beatriz P.M và cộng sự đã nghiên cứu kết hợp xử lý nguyên liệu với
enzym (Celluclast, Termamyl, Viscozyme, Neutrase và Protease) để đánh giá hiệu suất
thu nhận dầu và protein từ cơm dừa. Các thí nghiệm lần lượt được thực hiện nhằm lựa
chọn loại enzym phù hợp, nồng độ enzym và thời gian ủ. Để xác định ảnh hưởng của
yếu tố pH và tỷ lệ nước/cơ chất, nhóm tác giả sử dụng phương pháp đáp ứng bề mặt để
tối ưu hóa. Kết quả pH là thông số ĩa quan trọng nhất tới hiệu suất thu nhận
dầu và protein. Xử ằng enzym Viscozyme L nồng độ 0,6% (w/w) và Neutrase 1,5
MG nồng độ 0,3% (w/w), tổng thời gian thủy phân là 60 phút, tỷ lệ cơ chất/nước =
1/6, pH khoảng 7 cho hiệu suất thu nhận dầu và protein cao nhất, đạt 83%.
Năm 2007, M. C. Kashyap và cộng sự, nghiên cứu sử dụng enzym để thủy phân
đậu nành trước khi trích ly dầu bằng dung môi hexan. Phương pháp này không những
làm tăng hiệu suất chiết tách dầu mà còn có tác dụng rút ngắn thời gian trích ly.
Năm 2008, Hilaire Macaire Womeni và cộng sự nghiên cứu thu nhận dầu từ nhân
hạt Irvingia gabonensis bằng phương pháp enzym trong môi trường nước. Bột hạt
nghiền được xử ới các enzym Alcalase, Pectinex và Viscozyme. Kết quả là
phương pháp chiết xuất bằng nước cho hiệu suất thu nhận dầu khoảng 27,4%; khi xử
lý với enzym thì hiệu suất thu nhận dầu tăng, như enzym Alcalase (35,0%); Pectinex

Pectinase (Irgazyme) + alpha-amylase (Tanase) +
protease (HT-proteolytic)
89.3
Barrios (1990)
Pectinase (Petcimex) + pectinase (Clarex) +
alphaamylase
(Tanase) + protease (HT-proteolytic)
87.6
Barrios (1990)
Pectinase (Clearzyme) + pectinase (Clarex) + alpha-
amylase (Tanase) + protease (HT-proteolytic)
89.4
Barrios (1990)
Pectinase (Rohapec) + alpha-amylase (Tanase) +
protease (HT-proteolytic)
83.5
Barrios (1990)
Beta-glucanase (brew-n-zyme)
14.4
Barrios (1990)
Beta-Glucanase (brew-n-zyme) + pectinase Clarex) +
alpha-amylase (Tanase) + protease (HT-proteolytic)
93.8
Barrios (1990)
11 Avocado
Control (aqueous without enzyme)
2.0

(1975)
Alpha I,4 galacturonide glicano-hydrolase (Ultrazym)
74.0
Lanzani
(1975) Protease (pepsin-Merck) + cellulase (CGA)
78.0
Lanzani
(1975)

Protease (pepsin-Merck) + alpha I,4 galacturonide
glicano-hydrolase (Ultrazym)

76.0
Lanzani
(1975)

Cellulase (CGA) + alpha 1,4 galacturonide glicano-
hydrolase (Ultrazym)

74.0
Lanzani
(1975)

Protease (pepsin-Merck) + cellulase (CGA) + alpha

71.3
Deng (1992)
Pectinase (Novozyme 249)
70.0
Deng (1992)
Cellulase (Novozyme 465)
54.2
Deng (1992)
Pectinase (Novozyme 249) + Cellulase (Novozyme 465)
80.2
Deng (1992)
Hạt đậu nành
Control (aqueous without enzyme)
62.0
Yoon (1991)
Protease (Alcalase)
84.0
Yoon (1991)
Protease (Sigma)
86.0
Yoon (1991)

12

1.3. Cây chè và hạt chè xanh (Camellia sinensis)
1.3.1 Cây chè xanh
Vị trí phân loại thực vật như sau:


- Vùng chè Đông Bắc gồm các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Giang. Tổng
diện tích hơn 2.000 ha.
- Vùng chè Trung Du miền núi phía Bắc gồm các tỉnh Thái Nguyên, Phú Thọ,
Hòa Bình, Hà Tây, Hà Nội, Vĩnh Phúc. Tổng diện tích hơn 35.000 ha.
- Vùng chè Bắc Trung Bộ gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh. Tổng
diện tích hơn 11.000 ha.
- Vùng chè Tây Nguyên gồm các tỉnh Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum. Tổng diện
tích hơn 26.000 ha.
Lâm Đồng, vùng đất Nam Tây Nguyên, nằm ở độ cao trung bình 800 – 1000m so
với mặt nước biển; diện tích tự nhiên 9772,19km
2
; địa hình chủ yếu là bình sơn
nguyên, núi cao; nhiệt độ trung bình năm dao động từ 18 – 25
0
C, thời tiết ôn hòa và
mát mẻ quanh năm. Lâm Đồng có điều kiện địa hình và khí hậu như vậy nên ngành
trồng chè đã phát triển rất tốt từ hơn 80 năm qua. Kế hoạch đến năm 2015, tỉnh Lâm
Đồng sẽ có thêm 800 ha chè chất lượng cao được trồng mới tại huyện Bảo Lâm, Di
Linh, thành phố Đà Lạt và Bảo Lộc.
Thu hoạch chính của cây chè hiện nay chủ yếu là lá chè, lá chè được chế biến
thành sản phẩm thương mại như chè xanh, chè đen, chè đỏ, chè vàng, …chúng vừa là
dòng thức uống có giá trị vừa là mặt hàng mang lại kim ngạch xuất khẩu rất cao. Bên
cạnh đó, một bộ phận khác của cây chè cũng rất có giá trị mà, đó là hạt chè.
1.3.2 Hạt chè xanh
Hạt chè có chứa nhiều hợp chất có giá trị sử dụng như saponin, protein, lipid, …
trong đó lipid chiếm khoảng 29–34% (Kohata và cộng sự, 2004).
Sau khi gieo hạt khoảng 2 năm, cây chè cho hoa quả lần thứ nhất, từ 3 đến 5 năm
cây chè phát triển hoàn chỉnh về đặc tính phát dục. Trên mỗi nách lá chè thường có
một mầm dinh dưỡng ở giữa và hai hoặc nhiều mầm sinh thực ở hai bên. Hoa chè


1.3.3 Một số kết quả nghiên cứu về dầu hạt chè trong và ngoài nƣớc
1.3.3.1 Kết quả nghiên cứu chiết tách dầu hạt chè
Năm 2006, 2007, Lee và cộng sự đã nghiên cứu thu nhận dầu từ hạt chè
C.sinensis bằng phương pháp ép. Đầu tiên, hạt chè được sấy 120
o
C, 20 phút và sau đó
ép bằng máy ép trục vít.
Năm 2007, Yang-Lin và cộng sự; 1009, Aijun và cộng sự đã nghiên cứu trích ly
dầu hạt chè C. oleifera với thời gian trích ly 16 phút, nhiệt độ trích ly 40
o
C, các dung
môi khảo sát là nước, methyl alcohol, ligraine. Kết quả khảo sát: tỷ lệ nước/ nguyên
liệu là 0.9/1; tỷ lệ methyl alcohol/ nguyên liệu là 5/1; tỷ lệ ligarine nguyên liệu là 5/1.
Năm 2008, Fazel và cộng sự; 2010, Zarringhalami và cộng sự đã nghiên cứu
trích ly hỗn hợp dung môi bằng phương pháp khuấy từ. Hạt chè được sấy 103
o
C,
nghiền hạt với kích thước 40 mesh, thời gian khuấy từ 4 giờ, nhiệt độ trích ly của
petroleum 40 – 60
o
C, hỗn hợp n – hexane, petroleum, benzen 50 – 70
o
C. Hỗn hợp sau
trích ly được được ly tâm 2500 vòng/phút và lọc bằng vải lọc mịn.
Năm 2008, Rajaei và cộng sự; năm 2009, Aijun và cộng sự đã nghiên cứu chiết
tách dầu hạt chè bằng phương pháp trích ly dung môi kết hợp kỹ thuật siêu âm với
nhiệt độ trích ly 40
o
C, tỷ lệ dung môi/nguyên liệu là 6/1, thời gian trích ly 30 phút,

Chất lỏng CO
2
siêu tới hạn có biến đổi có thể giúp trích ly các hợp chất có tính
chống oxy hóa phân cực trong hạt chè. Tùy vào mục đích là hiệu suất trích ly dầu hay
hoạt tính chống oxy hóa mà sử dụng phương pháp trích ly bằng CO
2
siêu tới hạn hày
chất lỏng CO
2
siêu tới hạn có biến đổi. Màu của dầu hạt chè được trích ly bằng CO
2

siêu tới hạn tương đối nhạt. Chất lượng của của dầu hạt chè được trích ly bằng CO
2

siêu tới hạn ở mức độ II trong GB11765 và không có chứa saponin (Haiyan và cộng
sự, 2001). Điều này cho thấy trích ly dầu hạt chè bằng phương pháp SC-CO
2
là một
phương pháp tốt. Hiệu suất trích ly dầu hạt chè C. sinensis bằng kỹ thuật trích ly bằng
chất lỏng siêu tới hạn (SFE) là 31,6% cao hơn các phương pháp khác. Hiệu suất trích
ly của Soxhlet, siêu âm và phương pháp B-I 5 theo chuẩn DGF (Deutsche Gesellschaft
fur Fettwissenschaft) là 30,3; 21,0 và 23,3% (Rajaei và cộng sự, 2005, 2008).
1.3.3.2 Kết quả nghiên cứu thành phần dầu hạt chè
Từ những năm 1948, Bakhơtaze đã xác định được một số thành phần cơ bản
tương đối trong hạt chè như lipid 22,9%, anbumin 8,5%, glucid 32,5%, xenlulose
3,8%, saponin 9,1%, khoáng 3,3%. Cũng theo Bakhơtaze, tùy theo giống và điều
kiện sinh trưởng mà đặc tính của hạt chè ở mỗi giống, mỗi vùng miền có sự khác
nhau, ví dụ: trọng lượng 1000 hạt giống chè Nhật Bản: 1.100g; giống chè Trung
Quốc: 1.250g; giống lai Trung An: 1.400g; giống chè Ấn Độ: 1.700g; và giống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status