ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
HOÀNG HÀ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SỐT RÉT
VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP
PHÒNG CHỐNG SỐT RÉT
TẠI MỘT SỐ XÃ BIÊN GIỚI
CỦA HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ
Chuyên ngành: Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số: 62 77 03 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Tại Việt Nam, theo số liệu báo cáo hàng năm của Chương trình phòng chống
sốt rét Quốc gia nhiều tỉnh có mức độ lưu hành sốt rét cao chủ yếu thuộc khu vực
Miền Trung - Tây Nguyên hầu hết các tỉnh có các xã, huyện có đường biên giới với
Lào hoặc Campuchia đều có tỷ lệ bệnh nhân mắc sốt rét cao hơn so với các địa
phương khác trong toàn quốc [28]. Bệnh sốt rét tuy đã giảm nhưng có nguy cơ quay
trở lại lớn; đối t
ượng dễ mắc bệnh là những người sống ở vùng sâu, vùng xa và đặc
biệt là những người dân sống ở vùng biên giới giữa Việt Nam với Lào và
Campuchia. Tại các vùng này nguy cơ lan truyền sốt rét tiếp diễn và phức tạp, việc
nhiễm bệnh sốt rét chủ yếu thông qua giao lưu tự do nên rất khó khăn trong việc
giám sát, phát hiện, điều trị và quản lý bệnh nhân sốt rét [42].
Quảng Trị là một tỉnh thu
ộc khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Tình hình sốt
rét của tỉnh tuy đã được cải thiện nhiều trong những năm qua nhưng tỷ lệ mắc và
nguy cơ sốt rét vẫn còn cao. Tỷ lệ bệnh nhân sốt rét, ký sinh trùng sốt rét/1.000 dân;
tỷ lệ tử vong do sốt rét/100.000 dân vẫn nằm trong số 6 tỉnh có tỷ lệ mắc sốt rét cao
nhất trong toàn quốc [74]. Tình hình dịch tễ sốt rét vùng biên giới giữa 2 tỉnh Quảng
Trị (Việt Nam) và Savanakhet (Lào) th
ường diễn biến phức tạp, ký sinh trùng
thường lây lan qua lại giữa các thôn ở 2 bên biên giới. Đặc biệt ở 12 xã thuộc vùng Lìa của huyện Hướng Hoá giáp biên giới với Lào có tỷ lệ mắc sốt rét cao, có nhiều
ổ sốt rét trọng điểm như: xã Xy, xã Thanh [13], [18].
Hướng Hoá là một huyện trọng điểm sốt rét của tỉnh Quảng Trị , toàn bộ 22 xã
đều nằm trong vùng sốt rét lưu hành nặng, có đường biên giới dài 156 km giáp với
tỉnh Savanakhet (Lào). Theo báo cáo của Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Quảng Trị
số bệnh nhân sốt rét hàng năm của huyệ
n Hướng Hoá thường chiếm trên 60% tổng
số bệnh nhân sốt rét của toàn tỉnh và số ký sinh trùng sốt rét luôn trên 50% tổng số
1.1.1. Tình hình mắc và chết do sốt rét trên thế giới
Theo số liệu thống kê của Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) đến năm 2009,
bệnh SR vẫn lưu hành ở 108 quốc gia. Ước tính có khoảng 225 triệu người mắc và
781 nghìn người chết do sốt rét (SR), riêng châu Phi chiếm 91%; Đông Nam Á 6%
[115]. Châu Mỹ có khoảng 1 triệu người mắc và khoảng 1 nghìn người chết. Khu
vực Đông Nam Á số
t rét lưu hành ở hầu hết các nước với 88% dân số trong tổng số
1.320 triệu người. Sốt rét trầm trọng hơn ở các nước tiểu vùng sông Mê Kông như
Trung Quốc, Lào, Myanmar, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam [30]; có khoảng 24
triệu người mắc và khoảng 40 nghìn người chết, tính trung bình có 3.000 trẻ chết do
sốt rét ở Châu Phi mỗi năm, ước tính 125 trẻ chết trong 1 giờ và 2 đứa trẻ chết trong
vòng 1 phút. Khu vực Tây Thái Bình Dương có khoảng 2 triệu người mắc và
khoảng 3 nghìn người chết do sốt rét [30].
Mặc dù bệnh sốt rét đã được thanh toán ở nhiều nơi trên thế giới như Châu Âu,
Bắc Mỹ, một số nước Bắc Á và bệnh SR cũng đã giảm nhiều ở một số nước trong
đó có cả Việt Nam. Tuy vậy cho đến năm 2010 vẫn có 216 triệu người mắc sốt rét,
655.000 người chết do bệnh sốt rét, đặc biệt ở châu Phi (91%), Đ
ông Nam Á (6%),
Địa Trung Hải (3%), khoảng 86% trẻ em dưới 5 tuổi chết do sốt rét [115]. Ở các
nước Châu Phi như Kenya, Uganda, Tanzania bệnh sốt rét luôn ở mức cao [88].
1.1.2. Tình hình nghiên cứu về sốt rét ở các dân tộc thiểu số vùng biên giới
Vấn đề sốt rét biên giới đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu.
Đã có nhiều vụ dịch sốt rét được ghi nhận ở các vùng biên giới như ở các huyện của
Uganda nơ
i có biên giới với Tanzania và Rwanda, vùng biên giới của các nước Ấn
Độ, Sri Lanka, Pakistan [30]. Trong khu vực, vùng biên giới giữa các nước Thái
Lan - Campuchia, Thái Lan - Myanmar luôn có tình hình sốt rét phức tạp, tỷ lệ mắc
sốt rét trong nhóm dân di cư và gia tăng tỷ lệ P. falciparum kháng thuốc khi họ trở
lại Campuchia để điều trị [112] và cũng đã có nhiều vụ dịch sốt rét xảy ra. Những
cần thiết [30] tuy nhiên hiện nay việc phối hợp PCSR tại vùng biên giới giữa các
nước gặp phải khó khăn do nhiều nguyên nhân: thủ
tục xuất nhập cảnh để thực hiện
các hoạt động chuyên môn về y tế; chính sách thực hiện các chương trình y tế,
mạng lưới y tế khác nhau ở mỗi nước; vấn đề kinh phí chi trả cho các hoạt động y tế
ở nước khác và nhiều khó khăn về chính trị, an ninh biên giới đã làm cho việc phối hợp điều tra, đặc biệt việc phối hợp phòng chống sốt rét tại vùng biên giới gần
như không thể thực hiện được. Việc phối hợp phòng chống sốt rét tại vùng biên giới
giữa các nước bị thất bại với các lý do nêu trên.
Vì vậy các nghiên cứu về sốt rét tại vùng biên giới phần lớn chỉ thực hiện ở
một một phía biên giới, các báo cáo cũng ch
ỉ ghi nhận ở một phía và một số ít sốt
rét nhập cư bên kia biên giới sang mà họ ghi nhận được.
Từ trước đến nay chưa có một mô hình hợp tác phòng chống sốt rét tại vùng
biên giới nào được thực hiện. Mô hình phòng chống sốt rét tại hộ gia đình ở vùng
biên giới của nghiên cứu này là mới, nó bao gồm nội dung phối hợp phòng chống
sốt rét cả 2 bên biên giới của 2 tỉnh Quảng Trị (Vi
ệt Nam) và Savannakhet (Lào).
1.1.3. Tình hình mắc và chết do sốt rét tại Việt Nam
Việt Nam được đánh giá là nước đang áp dụng và duy trì các biện pháp PCSR
một cách hiệu quả.
Bảng 1.1. Tình hình sốt rét tại Việt Nam trong 5 năm từ 2006-2010
Chỉ số 2006 2007 2008 2009 2010
% giảm
2006/2010
Số BNSR 91635 70910 60547 60867 54296 - 40,75
Tỷ lệ mắc
Trị còn có đặc thù riêng khác biệt so với các tỉnh trong toàn quốc và khu vực đó là
dọc theo đường biên giới của huyện Hướng Hoá và 2 huyện Sê Pôn, Nòng của tỉnh
Savannakhet (CHDCND Lào) có rất nhiều bản của cả 2 bên ở rất gần nhau, giao lưu
qua lại để buôn bán thường xuyên, nhiều người mắc sốt rét do qua lại biên giới,
hàng trăm BNSR từ Lào sang điều trị tại các xã biên giới của huyện Hướng Hoá.
1.1.4. Tình hình nghiên cứu và phòng ch
ống sốt rét tại vùng biên giới Việt Nam
Việt Nam hiện nay có 25 tỉnh có biên giới đất liền với 3 nước là Trung Quốc,
Lào và Campuchia. Hàng năm, số bệnh nhân mắc và chết do sốt rét tại các tỉnh có
biên giới đều cao hơn so với các tỉnh khác trong toàn quốc, trong đó tỷ lệ mắc sốt
rét ở các tỉnh giáp Campuchia là cao, sau đó đến các tỉnh giáp Lào [28]. Theo số
liệu thống kê năm 2007 của chương trình Quốc gia PCSR cho thấy số BNSR của
các tỉnh biên giới tỷ lệ 63,7% tổng số BNSR của toàn quốc (45.191/70.910). Số
bệnh nhân chết do sốt rét ở các tỉnh này khoảng 70% tổng số chết do sốt rét toàn
quốc (14/20).
Một nghiên cứu của Lê Xuân Hùng (2007) về thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng
và biện pháp can thiệp sốt rét ở biên giới Việt Nam từ năm 2002 đến 2006 cho thấy
tỷ lệ mắc sốt rét hàng năm ở các tỉnh biên giớ
i cao hơn so với các tỉnh không có biên giới và so với cả nước, tỷ lệ hiểu biết của người dân về bệnh sốt rét chỉ từ 63,3
đến 64,5% và số hộ dân có đủ màn nằm còn thấp từ 57% đến 65% [28]. Tại các
vùng biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia, giao lưu biên giới làm cho
nguy cơ lan truyền sốt rét tiếp diễn và phức tạp, việc kiểm dịch biên giới tập trung
tại các cửa khẩu, nhưng sự giao lưu và nhiễm bệ
nh lại chủ yếu thông qua nhiều
đường tiểu ngạch dọc theo biên giới nên rất khó khăn trong việc quản lý BNSR.
Hoàng Hà (2004) trong một điều tra cắt ngang tại xã Thanh cho thấy tỷ lệ mắc
sốt rét chung là 4,0% [16] và một điều tra khác tại 2 xã biên giới của huyện Hướng
1.2.2. Đặc điểm chung về sốt rét
Bệnh sốt rét lưu hành chủ y
ếu ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ký sinh
trùng sốt rét (KSTSR) có thể gây nên bệnh sốt rét cho con người ở tất cả các nhóm
tuổi và được truyền từ người này sang người khác qua trung gian truyền bệnh là
muỗi Anopheles (An) [31].
Có 4 loài KSTSR gây bệnh ở người gồm: Plasmodium falciparum; Plasmodium
vivax; Plasmodium malariae và Plasmodium ovale, trong số đó P. falciparum và P.
vivax là 2 loài thường gặp nhất. Từ năm 1965 ở Malaysia lần đầu tiên đã phát hiện
thêm loài thứ 5 là Plasmodium knowlesi lây từ khỉ sang người [31], [118] sau đó cũng
được phát hiện ở Thái Lan [99] và các khu rừng ở Đông Nam Á [121]. Loài KSTSR
này hiện nay là một vấn đê quan trọng cho sức khoẻ cộng đồng [90], [118]. Như vậy
cho đến nay đã khẳng định là có 5 loài KSTSR gây bệnh ở người [120]
Bệnh sốt rét tồn tại và lan truyền được phải có hội tụ của 3 yếu tố: mầm bệnh
(ký sinh trùng); trung gian truyền bệ
nh (muỗi sốt rét); khối cảm thụ (con người). Sự
lan truyền bệnh sốt rét khác nhau về cường độ và mức độ thường xuyên phụ thuộc
vào các yếu tố tự nhiên tại chỗ như: lượng mưa, khu vực sinh sản của muỗi và sự có
mặt của loài muỗi truyền bệnh. Ngoài ra yếu tố xã hội cũng là một trong những yếu
tố có tác động quan trọng tới quá trình lan truy
ền bệnh. Có những vùng bệnh sốt rét
lưu hành quanh năm với số lượng BNSR được phát hiện tương đối ổn định các
tháng trong năm. Trong khi đó, ở một số vùng bệnh nhân mắc SR theo mùa và
thường vào mùa mưa [56].
1.2.3. Tác nhân gây bệnh sốt rét
1.2.3.1. Chủng loài ký sinh trùng sốt rét trên thế giới và ở Việt Nam
Tác nhân gây bệnh sốt rét hay còn gọi là mầm bệnh sốt rét được xác định là ký
hiện ở cơ thể người (vật chủ phụ) [72] gây ra những hiện tượng bệnh lý. Gian đoạn sinh sản vô tính trong cơ thể người: Ký sinh trùng từ tuyến nước bọt
của muỗi vào máu người, lưu thông trong máu. Sau 30 phút toàn bộ thoa trùng xâm
nhập tế bào gan và phát triển ở đó tạo thành thể phân liệt, thể phân liệt vỡ ra giải
phóng ký sinh trùng non từ gan xâm nhập vào hồng cầu, lúc đầu là thể tư dưỡng
(sporozoites) rồi phát triển thành ký sinh trùng non, thể phân liệt (schizont) non rồi
thể phân liệt già, phá vỡ hồng cầu giải phóng ký sinh trùng non, lúc này tương
ứng
với cơn sốt rét lâm sàng. Hầu hết những mảnh trùng này quay lại ký sinh trong hồng
cầu mới, một số biệt hoá thành thể hữu tính là giao bào đực và cái, những giao bào
này nếu được muỗi hút vào dạ dày sẽ tiếp tục phát triển trong cơ thể muỗi, nếu
không được muỗi hút, giao bào ở lại trong máu rồi bị tiêu đi.
Hình 1.1. Chu kỳ của ký sinh trùng sốt rét trong cơ thể người và muỗi
Nguồn. Bruce - Chwatt’s Esential Malariology.
Th
ời gian phát triển ký sinh trùng ở người từ khi muỗi đốt (giai đoạn ủ bệnh):
tuỳ thuộc vào loại ký sinh trùng sốt rét: P.falciparum từ 8-12 ngày; P.vivax, P.ovale
từ 11-21 ngày; P.malariae từ 21-42 ngày. Ngi mang ký sinh trựng st rột cú th cú biu hin nhng triu chng lõm
sng in hỡnh: rột run, núng, ra m hụi v khỏt nc. Cng cú th biu hin bng
nhng triu chng khụng in hỡnh: St cao, nhc u, n lnh, au ton thõn,
nhng cng cú th khụng biu hin gỡ c ú l trng hp ngi mang ký sinh trựng
lnh. Tu theo loi ký sinh trựng st rột mang trong ngi m bnh nhõn st mi
ngy mt cn (P.falciparum
), hai ngy mt cn (P.vivax), ba ngy mt cn
bệnh; bệnh nhân khi có thể hữu tính của ký sinh trùng ở máu ngoại vi mới là nguồn
lây bệnh sang người [35].
1.2.4. Tác nhân truyền bệnh sốt rét
1.2.4.1. Véc tơ truyền bệnh sốt rét trên thế giới và ở Việt Nam
Véc tơ truyền bệnh sốt rét đã được xác định là muỗi Anopheles, họ muỗi
Culicidae. Trên thế giới, có khoảng trên 420 loài muỗi thuộc giống Anopheles, trong
đó khoảng 70 loài là véc tơ truyền sốt rét cho người trong điều kiện tự nhiên [59].
Mỗi vùng, mỗi nước có các loại truyền bệnh sốt rét chính khác nhau [55].
Tại Việt Nam cho đến nay phát hiện được 59 loài Anopheles trong đó có 3 loài
truyền bệnh chính là An. minimus, An. dirus và An. sundaicus (nay là An. epiroticus)
[31], [35]. Sự phân bố của An. minimus chủ yếu là ở miền Bắc trong khi đó An. dirus
chủ
yếu ở miền Trung và Tây Nguyên [56].
1.2.4.2. Véc tơ truyền bệnh sốt rét tại Quảng Trị
Tại Quảng Trị qua điều tra số loài muỗi Anopheles giai đoạn năm 2000 là 18
loài [54], hiện nay sau nhiều năm phun hóa chất, tẩm màn điều tra hàng năm có 15
loài Anopheles; Véc tơ chính là An. minimus với mật độ 1,25 con/đèn/đêm; các địa
phương có SRLH nặng như xã Thanh, xã Xy đều có mặt 2 loại véc tơ này tuy nhiên
mật độ vào nhà
đốt người thấp sau khi phun hóa chất [6]. Thời tiết khí hậu của Miền
Trung-Tây Nguyên, trong đó có tỉnh Quảng Trị với nhiệt độ trung bình trong năm là
32,2
0
C rất phù hợp cho muỗi Anopheles phát triển.
Lượng mưa trung bình hàng năm ở huyện Hướng Hóa và tỉnh Quảng Trị đo
được thường trên 2065,5 mm rất thuận lợi cho muỗi sốt rét sinh sản [63]. Mùa mưa
có ảnh hưởng đến việc lan truyền bệnh sốt rét, bệnh sốt rét có 2 mùa truyền bệnh là
đầu và cuối mùa mưa, mùa có điều kiện cho muỗi SR phát triển từ tháng 4-10 [6].
Về độ ẩm: ả
nh hưởng đến tuổi thọ của muỗi Anopheles, muỗi Anopheles sống
Sơ đồ 1.1. Các yếu tố dịch tễ học sốt rét. Vật chủ, tác nhân và môi trường [31].
1.2.6.2. Đối tượng mắc
M
ọi đối tượng từ trẻ em tới người già đều có thể bị mắc sốt rét. Tuy nhiên, trẻ
em đối tượng có tỷ lệ nhiễm bệnh cao hơn hơn người lớn. Bệnh sốt rét không có
miễn dịch sốt rét đặc hiệu [31], tuy nhiên có mối liên quan của mức độ có miễn dịch
Người bệnh
Ng−êi cã
ký sinh trïng
Cơ thể
cảm thụ
Ký sinh trùng
Véctơ
Tự nhiên Sinh học
Môi trường
Kinh tế-xã h
ộ
ithấp với những người đã từng nhiễm sốt rét [88].
1.2.6.3. Phân bố địa lý theo vùng sốt rét lưu hành
Theo thống kê của TCYTTG, hiện nay bệnh sốt rét lưu hành ở các nước nhiệt
đới và cận nhiệt đới với trên 100 nước và khoảng 40% dân số thế giới với 2,2 tỷ
người có nguy cơ nhiễm sốt rét [30].
1.2.6.4. Phân vùng sốt rét ở một số nước khu vực
Về mục đích, tiêu chí phân vùng của các n
ước trong khu vực thường đơn giản,
a Việt Nam định nghĩa dịch sốt rét: “Dịch sốt rét
là khi ở một nơi có mức bệnh sốt rét (ca mắc mới) tăng đột ngột so với diễn biến
bình thường trong một quần thể dân cư (tối thiểu một thôn bản, cụm dân cư) và có
lan truyền bệnh tại chỗ” [2], [45].
Sử dụng phương pháp của Cullent. Sử dụng mô hình toán thống kê, 95%
khoảng tin cậy của phân phối thườ
ng (mean + 2SD của 5 năm). Phương pháp này
áp dụng trước đây ở Thái Lan, hiện nay ở Việt Nam [2].
Trong 5 năm (2006-2010) cả nước chỉ có 4 vụ dịch ở qui mô nhỏ [74].
1.2.6.8. Lan truyền bệnh sốt rét
Sự lan truyền bệnh sốt rét được quyết định bởi 3 yếu tố gồm: tác nhân gây
bệnh, véc tơ truyền bệnh và con người [32].
Một số yếu tố khác cũng có tác động đến sự lan truyền bệnh nh
ư: di biến động
dân cư ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc lan truyền bệnh sốt rét, tỉnh
Quảng Trị có đường biên giới giáp nước bạn Lào dài 206 km, có 2 cửa khẩu Quốc tế và quốc gia và nhiều cửa khẩu phụ nên vấn đề sốt rét do giao lưu biên giới ngày
càng nhiều và phát hiện bệnh nhân chỉ theo phương thức thụ động [61], [62].
Theo đánh giá của TCYTTG bệnh sốt rét còn phổ biến trên nhiều vùng, các
nguyên nhân chính được xác nhận bao gồm:
Tăng kháng thuốc. Biến động dân cư. Tăng phạm vi các vùng lưu hành bệnh.
Du lịch và buôn bán ngày một nhiều. Giảm các nỗ lực phòng chống muỗi
(phun hoá chấ
t). Khai thác lâm sản và hầm mỏ. Điều kiện thời tiết thay đổi.
1.3. CHIẾN LƯỢC PHÒNG CHỐNG BỆNH SỐT RÉT
Chiến lược phòng chống bệnh sốt rét trên qui mô toàn cầu, với 4 nguyên tắc:
- Phát hiện sớm và điều trị có hiệu quả.
- Dự phòng, bao gồm phòng chống véc tơ.
bệnh sốt rét dưới 0,02/100.000 dân; không còn tỉnh nào trong giai đoạn PCSR tích
cực; 40 tỉnh trong giai đoạn đề phòng bệnh sốt rét quay trở lại; 15 tỉnh trong giai
đoạn loại trừ sốt rét và 8 tỉnh trong giai đoạn tiền loại trừ sốt rét vào năm 2020 [53].
Mục tiêu cụ thể:
Tăng cường quản lý chương trình, nâng cao chất lượng hoạt động và tính bền
vững của chương trình qu
ốc gia phòng chống và loại trừ sốt rét. Tỷ lệ mắc sốt rét
(ca sốt rét lâm sàng và ca sốt rét xác định có ký sinh trùng) xuống dưới 0,33 /1.000
dân vào năm 2015 [53]. Tỷ lệ ca xác định giảm xuống dưới 0,08/1.000 dân. Tỷ lệ ca
xác định được chẩn đoán bằng kính hiển vi và tét chẩn đoán nhanh 70% so với tổng
số ca sốt rét. Tỷ lệ ca sốt rét ác tính giảm xuống dưới 100 ca và tỷ lệ chết do sốt rét
toàn quốc giảm xuống d
ưới 0,02/100.000 dân vào năm 2015 [53].
1.3.3. Những khó khăn thách thức hiện nay đối với chương trình PCSR
Dân số sống trong vùng có nguy cơ sốt rét lớn với khoảng 37 triệu người hơn
40% dân số của cả nước, trong khi đó độ bao phủ và chất lượng PCSR còn hạn chế.
Số người mắc sốt rét và mang KSTSR còn cao ở một số cộng đồng dân cư ở
vùng vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa
Di biến động dân cư, số người ng
ủ trong rừng, rẫy; qua lại biên giới còn lớn.
Kinh tế, tập quán, nhận thức, hành vi PCSR của người dân còn thấp.
Màng lưới YTCS còn thiếu, yếu; quản lý y, dược tư nhân còn chưa đầy đủ.
Nguồn lực cho hoạt động PCSR không ổn định.
1.3.4. Các giải pháp của chương trình phòng chống SR trên thế giới, Việt Nam Để PCSR có hiệu quả và có tính bền vững cần nắm vững các chiến lược và
giải pháp PCSR của chương trình PCSR trên thế giới và Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay và một số giải pháp bổ sung tuỳ thuộc vào đặc điểm riêng của từng vùng.
Nắm vững quá trình lây truyền bệnh sốt rét và thực hiện đầy đủ có hiệu quả 7
tẩm màn những năm 80-90 của thế kỷ 20 là Permethrine thuộc nhóm Pyrethroite,
sau đó người ta sử dụng sang I Con hoặc Fendona cho đến ngày nay [73].
Tuy nhiên cũng cần đánh giá mức độ nhạy, kháng của Anopheles đối với hoá
chất sau một thời gian sử dụng. Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quang và cs ở khu
vực Miền Trung-Tây Nguyên giai đoạn 2006-2010 cho thấy một số loài Anopheles
như An. Maculatus có thể đã kháng (tỷ lệ chết 73 và 78%) với Fendona và Icon
ở
Bình Định và Quảng Trị [47].
1.4.2. Bảo vệ người lành (khối cảm thụ)
Song song với việc diệt muỗi sốt rét vốn chỉ được sử dụng trong nhà và khi đi
ngủ, thì việc bảo vệ khối cảm thụ là rất cần thiết cả khi ở trong nhà cũng như khi ở
trong rừng [31].
Trong giai đoạn tiêu diệt hoặc thanh toán bệnh sốt rét các thập kỷ trước đây,
với việc phát hiện ra thuốc Chloroquine, Mefloquine người ta cho uống thuốc dự
phòng những đối tượng ở trong vùng sốt rét hoặc đi vào vùng sốt rét lưu hành.
Sau đó với việc bệnh sốt rét đã giảm, việc uống thuốc không đủ liều góp phần
đưa đến việc KSTSR kháng thuốc ngày càng gia tăng, các chương trình PCSR các
quốc gia (trong đó có Việt Nam) không sử dụng uống thuốc phòng SR mà chuyển
sang cấp thuốc tự điề
u trị đối với đối tượng có nguy cơ mắc SR cao [3], [4].
1.4.3. Chẩn đoán và điều trị bệnh sốt rét
1.4.3.1. Chiến lược chẩn đoán của bệnh sốt rét
Có triệu chứng điển hình của bệnh sốt rét với 3 giai đoạn: sốt, rét run, vã mồ
hôi. và có chu kỳ [40]. Hoặc có triệu chứng không điển hình của cơn sốt rét: Sốt
không thành cơn, hoặc sốt cao liên tục, số
t dao động. Nếu không được điều trị kịp
thời có thể có một hoặc nhiều biến chứng đe doạ tính mạng người bệnh [3], [4].
Các phương pháp chẩn đoán sốt rét
t rét lâm sàng và
các ca P.falciparum (bao gồm cả các ca ký sinh trùng lạnh) ở các tỉnh khu vực miền
Trung - Tây Nguyên, Nam bộ và 100% các ca P.falciparum ở các tỉnh phía Bắc
được điều trị bằng thuốc phối hợp có dẫn xuất của Artemisinin ACT (Arterakine;
CV artecan hoặc Coaterm ). Điều trị chống lây lan của P.falciparum bằng
Primaquine [3], [4] và mới nhất phác đồ 2013 [4] đã có điều trị P. knowlesi.
Các ca P.vivax được điều trị bằng Chlorquine ở nhữ
ng vùng còn hiệu quả,
vùng P.vivax đã kháng Chlorquine sử dụng ACT [117], [123]. Kết hợp với điều trị
chống tái phát bằng Primaquine [119]. Phác đồ này hiện vẫn đáp ứng tốt tại tỉnh
Quảng Trị [57]. Duy trì và phát triển hoạt động có hiệu quả của các điểm kính hiển vi tuyến xã,
tăng cường phát hiện bệnh ở tuyến thôn bản và xã bằng lấy lam máu xét nghiệm
kính hiển vi [7] và bằng test chẩn đoán nhanh tại các trọng điểm SR, vùng sâu.
Khi thấy có dấu hiệu sốt rét cần phải điều trị ngay [48]. Điều trị BNSR nhằm
ngăn ngừa diễn biến nặng của bệnh và phòng t
ử vong đồng thời làm giảm nguồn
bệnh và sự lây lan của bệnh, Bộ Y tế đã ban hành phác đồ điều trị sốt rét năm 2009,
mới nhất là phác đồ năm 2013 [3], [4]. Đối tượng được điều trị bao gồm:
+ Bệnh nhân sốt rét có ký sinh trùng (KSTSR +)
+ Bệnh nhân sốt rét lâm sàng
Nguyên tắc.
Điều trị sớm, đủ liều;
Điều trị cắt cơn sốt kết hợp chống lây lan (P.f), tiệt căn (P.v);
Điều trị sốt rét thể thông thường; Thuốc điều trị ưu tiên (first line)
Sốt rét do P.falciparum, đây là loại sốt rét nặng nhất nếu không được điều trị
sẽ dẫn đến shock, suy gan, suy thận, hôn mê hoặc tử vong [49]: dihydroartemisinin
+ piperaquin uống 3 ngày + primaquin 0,5 mg bazơ/kg liều duy nhất cho tất cả các
ủa huyện Hướng
Hóa, tỉnh Quảng Trị, diện tích 11.148 km2, dải Trường Sơn chạy ở phía tây của
tỉnh, với nhiều núi đồi có độ cao phổ biến từ 200-800m, mạng lưới sông suối khá
dày đặc rừng trải đều theo chiều dọc của tỉnh. Hướng Hoá là huyện nằm trong khu
vực này, là vùng cao, biên giới nằm về phía tây của tỉnh Quảng Trị, là một trong 10
đơn vị hành chính của tỉnh. Phía bắ
c giáp tỉnh Quảng Bình, phía Nam và Tây giáp
Lào, phía Đông giáp với huyện Gio Linh, Vĩnh Linh và Đakrông [63].
Huyện Hướng Hóa có 22 đơn vị hành chính gồm: 20 xã và 02 thị trấn, 202
thôn bản; trong đó có 13 xã đặc biệt khó khăn, 12 xã giáp biên giới với Lào; dân số
73.069 người. Người Kinh 52%, Vân Kiều 23% và PaKô 22%.
Huyện có cửa khẩu quốc tế Lao Bảo nằm trên trục đường quốc lộ số 9 nối liền
với các nước trong khu vực: Lào, Thái Lan, Myanmar. Phía tây có đường biên giới
dài 156 km tiếp giáp với 2 huyện Sê Pôn và Nòng của tỉnh Savannakhet (CHDCND
Lào), có sông Sê Pôn (là đường biên giới tự nhiên giữa 2 nước) và nhiều khe suối
nhỏ, rừng rậm rất thuận lợi cho bệnh sốt rét phát triển [63].
Địa thế núi rừng của huyện Hướng Hoá rất đa dạng. Núi và sông xen kẻ nhau,
tạo thành địa hình chia cắt, sông suối đều bắt nguồn từ núi cao. Khí hậu mang
những nét điển hình của khí hậu nhiệt đới - gió mùa, quanh năm nóng ẩm, nhiệt độ trung bình năm 22
0
C, lượng mưa bình quân 2.262 mm/năm, rất thuận lợi cho muỗi
sốt rét và ký sinh trùng sốt rét phát triển. Riêng huyện Hướng Hoá có 12 xã giáp
tỉnh Savannakhet giữa các bản của Lào sang các bản của Quảng Trị là rất gần và
giao lưu qua lại biên giới nhiều là ở các xã Xy, Thanh, Thuận, A Xing, Pa Tầng.
1.5.2. Đặc điểm kinh tế, văn hoá xã hội
Huyện Hướng Hoá được phân thành 2 vùng kinh tế, văn hoá xã hội rõ rệt.
- Vùng trung tâm của huyện gồm 7 xã nằm dọc