Luận án tiến sĩ y tế công cộng nghiên cứu thực trạng sốt rét và đánh giá kết quả can thiệp phòng chống sốt rét - Pdf 30


LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SỐT RÉT
VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP
PHÒNG CHỐNG SỐT RÉT
TẠI MỘT SỐ XÃ BIÊN GIỚI
CỦA HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh sốt rét hiện nay vẫn còn là một vấn đề sức khoẻ lớn trên thế giới nói chung
và tại Việt Nam nói riêng. Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới khoảng 40% dân

đều nằm trong vùng sốt rét lưu hành nặng, có đường biên giới dài 156 km giáp với
tỉnh Savanakhet (Lào). Theo báo cáo của Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Quảng Trị số
bệnh nhân sốt rét hàng năm của huyện Hướng Hoá thường chiếm trên 60% tổng số
bệnh nhân sốt rét của toàn tỉnh và số ký sinh trùng sốt rét luôn trên 50% tổng số ký
sinh trùng được phát hiện trong toàn tỉnh. Trong đó số bệnh nhân sốt rét được phát
hiện từ các xã biên giới luôn chiếm tỷ lệ cao so với tổng số bệnh nhân sốt rét toàn
huyện [41].
Từ trước đến nay các nghiên cứu về bệnh sốt rét ở nước ta và ngay tại tỉnh Quảng
Trị vẫn tập trung vào dịch tễ sốt rét, phòng chống véc tơ [13], [14], kháng thuốc sốt rét
[42], [58], kiến thức-thái độ-thực hành [17], [41], xây dựng mạng lưới [12] và cũng
đã đạt được nhiều kết quả về phòng chống bệnh sốt rét nhưng vẫn còn nhiều ổ bệnh
dai dẵng chưa được giải quyết triệt để do chưa có một nghiên cứu nào về mô hình về
quản lý, giám sát, phát hiện và điều trị sớm bệnh nhân sốt rét ngay tại
hộ gia đình ở vùng biên giới.
Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu mô hình phòng chống sốt rét tại hộ gia
đình ở vùng biên giới với 2 mục tiêu sau:
1. Mô tả đặc điểm dịch tễ sốt rét và các yếu tố liên quan đến mắc sốt rét
tại một số xã biên giới của huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị.
2. Đánh giá kết quả can thiệp phòng chống sốt rét tại một số xã biên
giới.
Điểm mới của nghiên cứu này là:
Xây dựng mô hình phòng chống sốt rét tại hộ gia đình ở vùng biên giới tỉnh
Quảng Trị với mục tiêu phát hiện, điều trị sớm và quản lý ca bệnh sốt rét tại nhà.
Phối hợp phòng chống sốt rét tại vùng biên giới giữa 2 nước Việt-Lào.
Phát hiện thêm về tác nhân gây bệnh sốt rét (KSTSR) mới ở tỉnh Quảng Trị.
Chương 1

TỔNG QUAN

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH SỐT RÉT VÙNG BIÊN GIỚI

được điều tra, người dân ở vùng này còn nghèo nên còn khó khăn, thiếu thốn các
nguồn phòng chống SR vì vậy người dân còn có nguy cơ mắc sốt rét cao. Ở Thái Lan,
sốt rét là một vấn đề nghiêm trọng ở biên giới [30]. Nghiên cứu cũng cho thấy nơi ở
của người dân ở trong rừng có nguy cơ mắc sốt rét cao 6,29 lần, không ở trong nhà
trong vòng 7 ngày trước thời điểm xét nghiệm máu có nguy cơ mắc sốt rét cao 4,34
lần.
Một nghiên cứu của Xu J (1996) về sốt rét biên giới ở Trung Quốc cho thấy vùng
biên giới của tỉnh Vân Nam với Việt Nam, Lào và Myanmar có một số lượng lớn bệnh
nhân sốt rét ngoại lai là người dân tộc thiểu số với tỷ một tỷ lệ lớn bệnh nhân nhiễm
P. faciparum là do kết quả của việc di biến động dân cư đi lại làm ăn giữa các tỉnh.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy còn tồn tại rất nhiều khó khăn, phức tạp trong vấn
đề quản lý sốt rét vùng biên giới do thói quen, tập quán lao động, sinh hoạt, người dân
giao lưu qua lại biên giới nhiều. Giao thông đi lại tới các vùng biên giới còn nhiều
khó khăn nên việc tiếp cận với các dịch vụ y tế còn rất hạn chế và sự khác nhau về
việc áp dụng các biện pháp phòng chống trong Chương trình PCSR giữa các nước có
đường biên giới chung.
Những kết quả và khó khăn trong phòng chống sốt rét tại vùng biên giới giữa các
nước trên thế giới hiện nay như sau:
Tình hình người dân nhập cư và tỷ lệ mắc SR do qua lại vùng biên giới vẫn
không giảm do nhu cầu làm ăn kinh tế, buôn bán hàng lậu qua biên giới [122]. Vùng
biên giới lại là vùng rừng núi, sinh địa cảnh thuận lợi cho bệnh SR phát triển [30].
Việc phối hợp điều tra và phòng chống sốt rét (PCSR) tại vùng biên giới là rất
cần thiết [30] tuy nhiên hiện nay việc phối hợp PCSR tại vùng biên giới giữa các nước
gặp phải khó khăn do nhiều nguyên nhân: thủ tục xuất nhập cảnh để thực hiện các
hoạt động chuyên môn về y tế; chính sách thực hiện các chương trình y tế, mạng lưới
y tế khác nhau ở mỗi nước; vấn đề kinh phí chi trả cho các hoạt động y tế ở nước
khác và nhiều khó khăn về chính trị, an ninh biên giới đã làm cho việc phối hợp
điều tra, đặc biệt việc phối hợp phòng chống sốt rét tại vùng biên giới gần như không

thể thực hiện được. Việc phối hợp phòng chống sốt rét tại vùng biên giới giữa các
SR/1000
1,08
0,83
0,70
0,69
0,62
- 42,59
Số KSTSR
22637
16389
11355
16130
17515
- 22,63
Tỷ lệ
KSTSR/1000
0,27
0,19
0,13

- 60,00
Kết quả thực hiện đến năm 2010, theo báo cáo của Dự án quốc gia PCSR như
sau. Tỷ lệ tử vong do SR đạt 0,02/100.000 dân, giảm 60% so với năm 2006. Năm
2010 có 21 người chết do SR so với 41 người chết năm 2006 (giảm 48,7%); Số người

chết do SR từ năm 2006-2009 giảm không ổn định. Tỷ lệ mắc SR năm 2010 là
0,62/1.000 dân (54.296 người), giảm 42,6% so với năm 2006 [74].
Tình hình mắc và chết do sốt rét tại Miền Trung - Tây Nguyên từ 2006-2010.
So sánh 2010 với 2006 giữa miền Trung và Tây Nguyên thấy các chỉ số sốt rét
đều giảm, trong đó BNSR ở Tây Nguyên (-59,15%) giảm nhanh hơn miền Trung
(giảm 29,07%); Tử vong sốt rét tại Tây Nguyên (2 trường hợp), miền Trung (6 trường
hợp); tỷ lệ KSTSR ở Tây nguyên giảm 53%, miền Trung tăng 5,11% [67].
Tình hình mắc và chết do sốt rét tại tỉnh Quảng Trị:
Xu hướng diễn biến mắc và chết do sốt rét ở Quảng Trị tương tự ở khu vực Miền
Trung - Tây Nguyên. Số mắc sốt rét hàng năm từ 2006-2007 giảm chậm, năm 2009
có xu hướng tăng trở lại, chết do sốt rét không giảm.
Tình trạng người giao lưu với vùng sốt rét ngày một nhiều, riêng tỉnh Quảng Trị còn
có đặc thù riêng khác biệt so với các tỉnh trong toàn quốc và khu vực đó là dọc theo
đường biên giới của huyện Hướng Hoá và 2 huyện Sê Pôn, Nòng của tỉnh Savannakhet
(CHDCND Lào) có rất nhiều bản của cả 2 bên ở rất gần nhau, giao lưu qua lại để buôn
bán thường xuyên, nhiều người mắc sốt rét do qua lại biên giới, hàng trăm BNSR từ
Lào sang điều trị tại các xã biên giới của huyện Hướng Hoá.
1.1.4. Tình hình nghiên cứu và phòng chống sốt rét tại vùng biên giới Việt Nam
Việt Nam hiện nay có 25 tỉnh có biên giới đất liền với 3 nước là Trung Quốc,
Lào và Campuchia. Hàng năm, số bệnh nhân mắc và chết do sốt rét tại các tỉnh có
biên giới đều cao hơn so với các tỉnh khác trong toàn quốc, trong đó tỷ lệ mắc sốt rét
ở các tỉnh giáp Campuchia là cao, sau đó đến các tỉnh giáp Lào [28]. Theo số liệu
thống kê năm 2007 của chương trình Quốc gia PCSR cho thấy số BNSR của các tỉnh
biên giới tỷ lệ 63,7% tổng số BNSR của toàn quốc (45.191/70.910). Số bệnh nhân
chết do sốt rét ở các tỉnh này khoảng 70% tổng số chết do sốt rét toàn quốc (14/20).

hình phòng chống sốt rét tại hộ gia đình, phối hợp phòng chống sốt rét tại vùng biên
giới giữa 2 tỉnh Quảng Trị (Việt Nam) và Savannakhet (Lào).
1.2. DỊCH TỄ HỌC BỆNH SỐT RÉT
1.2.1. Định nghĩa về bệnh sốt rét

Bệnh sốt rét (SR) là một bệnh truyền nhiễm, do ký sinh trùng Plasmodium của
người gây nên. Bệnh lây theo đường máu, do muỗi Anopheles truyền. Bệnh lưu
hành ở từng địa phương, trong những điều kiện thuận lợi có thể gây thành dịch.
1.2.2. Đặc điểm chung về sốt rét
Bệnh sốt rét lưu hành chủ yếu ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ký sinh
trùng sốt rét (KSTSR) có thể gây nên bệnh sốt rét cho con người ở tất cả các nhóm
tuổi và được truyền từ người này sang người khác qua trung gian truyền bệnh là
muỗi Anopheles (An) [31].
Có 4 loài KSTSR gây bệnh ở người gồm: Plasmodium falciparum; Plasmodium
vivax; Plasmodium malariae và Plasmodium ovale, trong số đó P. falciparum và P.
vivax là 2 loài thường gặp nhất. Từ năm 1965 ở Malaysia lần đầu tiên đã phát hiện
thêm loài thứ 5 là Plasmodium knowlesi lây từ khỉ sang người [31], [118] sau đó cũng
được phát hiện ở Thái Lan [99] và các khu rừng ở Đông Nam Á [121]. Loài KSTSR
này hiện nay là một vấn đê quan trọng cho sức khoẻ cộng đồng [90], [118]. Như vậy
cho đến nay đã khẳng định là có 5 loài KSTSR gây bệnh ở người [120]
Bệnh sốt rét tồn tại và lan truyền được phải có hội tụ của 3 yếu tố: mầm bệnh
(ký sinh trùng); trung gian truyền bệnh (muỗi sốt rét); khối cảm thụ (con người). Sự
lan truyền bệnh sốt rét khác nhau về cường độ và mức độ thường xuyên phụ thuộc
vào các yếu tố tự nhiên tại chỗ như: lượng mưa, khu vực sinh sản của muỗi và sự có
mặt của loài muỗi truyền bệnh. Ngoài ra yếu tố xã hội cũng là một trong những yếu
tố có tác động quan trọng tới quá trình lan truyền bệnh. Có những vùng bệnh sốt rét
lưu hành quanh năm với số lượng BNSR được phát hiện tương đối ổn định các tháng
trong năm. Trong khi đó, ở một số vùng bệnh nhân mắc SR theo mùa và thường vào
mùa mưa [56].


tính ở cơ thể muỗi (vật chủ chính) và giai đoạn sinh sản vô tính thực hiện ở cơ thể
người (vật chủ phụ) [72] gây ra những hiện tượng bệnh lý.

Gian đoạn sinh sản vô tính trong cơ thể người: Ký sinh trùng từ tuyến nước bọt
của muỗi vào máu người, lưu thông trong máu. Sau 30 phút toàn bộ thoa trùng xâm
nhập tế bào gan và phát triển ở đó tạo thành thể phân liệt, thể phân liệt vỡ ra giải phóng
ký sinh trùng non từ gan xâm nhập vào hồng cầu, lúc đầu là thể tư dưỡng (sporozoites)
rồi phát triển thành ký sinh trùng non, thể phân liệt (schizont) non rồi thể phân liệt
già, phá vỡ hồng cầu giải phóng ký sinh trùng non, lúc này tương ứng với cơn sốt rét
lâm sàng. Hầu hết những mảnh trùng này quay lại ký sinh trong hồng cầu mới, một
số biệt hoá thành thể hữu tính là giao bào đực và cái, những giao bào này nếu được
muỗi hút vào dạ dày sẽ tiếp tục phát triển trong cơ thể muỗi, nếu không được muỗi
hút, giao bào ở lại trong máu rồi bị tiêu đi.

Hình 1.1. Chu kỳ của ký sinh trùng sốt rét trong cơ thể người và muỗi
Nguồn. Bruce - Chwatt’s Esential Malariology.
Thời gian phát triển ký sinh trùng ở người từ khi muỗi đốt (giai đoạn ủ bệnh):
tuỳ thuộc vào loại ký sinh trùng sốt rét: P.falciparum từ 8-12 ngày; P.vivax, P.ovale từ
11-21 ngày; P.malariae từ 21-42 ngày.

Ngi mang ký sinh trựng st rột cú th cú biu hin nhng triu chng lõm sng
in hỡnh: rột run, núng, ra m hụi v khỏt nc. Cng cú th biu hin bng nhng
triu chng khụng in hỡnh: St cao, nhc u, n lnh, au ton thõn, nhng cng
cú th khụng biu hin gỡ c ú l trng hp ngi mang ký sinh trựng lnh. Tu
theo loi ký sinh trựng st rột mang trong ngi m bnh nhõn st mi ngy mt cn
(P.falciparum), hai ngy mt cn (P.vivax), ba ngy mt cn (P.malariae) cn st
thng xut hin ỳng gi cú tớnh chu k rừ rt, n khp vi nhng t phỏt trin ca
ký sinh trựng st rột trong c th ngi.
Nu khụng b tỏi nhim hoc khụng c iu tr ký sinh trựng cú th tn ti
trong ngi tu chng loi: P.falciparum t 1-2 nm; P.vivax (P.ovale) t 1-5 nm;

vùng, mỗi nước có các loại truyền bệnh sốt rét chính khác nhau [55].
Tại Việt Nam cho đến nay phát hiện được 59 loài Anopheles trong đó có 3 loài
truyền bệnh chính là An. minimus, An. dirus và An. sundaicus (nay là An. epiroticus)
[31], [35]. Sự phân bố của An. minimus chủ yếu là ở miền Bắc trong khi đó An. dirus
chủ yếu ở miền Trung và Tây Nguyên [56].
1.2.4.2. Véc tơ truyền bệnh sốt rét tại Quảng Trị
Tại Quảng Trị qua điều tra số loài muỗi Anopheles giai đoạn năm 2000 là 18 loài
[54], hiện nay sau nhiều năm phun hóa chất, tẩm màn điều tra hàng năm có 15 loài
Anopheles; Véc tơ chính là An. minimus với mật độ 1,25 con/đèn/đêm; các địa phương
có SRLH nặng như xã Thanh, xã Xy đều có mặt 2 loại véc tơ này tuy nhiên mật độ
vào nhà đốt người thấp sau khi phun hóa chất [6]. Thời tiết khí hậu của Miền Trung-
Tây Nguyên, trong đó có tỉnh Quảng Trị với nhiệt độ trung bình trong năm là 32,2
0
C
rất phù hợp cho muỗi Anopheles phát triển.
Lượng mưa trung bình hàng năm ở huyện Hướng Hóa và tỉnh Quảng Trị đo được
thường trên 2065,5 mm rất thuận lợi cho muỗi sốt rét sinh sản [63]. Mùa mưa có ảnh
hưởng đến việc lan truyền bệnh sốt rét, bệnh sốt rét có 2 mùa truyền bệnh là đầu và
cuối mùa mưa, mùa có điều kiện cho muỗi SR phát triển từ tháng 4-10 [6].

Về độ ẩm: ảnh hưởng đến tuổi thọ của muỗi Anopheles, muỗi Anopheles sống
lâu khi có độ ẩm tương đối cao [43]. Độ ẩm đo được trung bình ở huyện Hướng Hóa,
tỉnh Quảng Trị thường trên 80% rất thuận lợi cho muỗi sốt rét sống lâu [63].
Về sinh cảnh: Tỉnh Quảng Trị nằm ở vùng Miền Trung, có dãy Trường Sơn chạy
ở phía Tây tỉnh, địa hình từ biên giới ra biển hẹp, mạng lưới sông, suối dày đặc, phần
lớn là rừng, núi rất phù hợp với sinh địa cảnh phát triển bệnh sốt rét [63].
1.2.5. Cơ thể cảm thụ
Vật chủ hay cơ thể cảm thụ là con người - người khỏe mạnh (người lành), người
chưa có miễn dịch hoặc đã có miễn dịch với bệnh sốt rét nhưng đã giảm thấp.
Khi muỗi Anopheles có thoa trùng đốt người và đưa thoa trùng vào máu, KST


Ng
ườ
i b

nh

Ng

êi cã
ký sinh trïng

C
ơ
th


c

m th


Ký sinh trùng
Véct


Hình 1.2. Bản đồ phân bố và mức độ lưu hành sốt rét trên thế giới
vùng s

t rét; vùng kh

n
ă
ng d

có s

t rét; vùng không có ho

c
đ
ã h
ế
t s

t rét [31].
R

t cao
Cao
Trung bình
Th

1.203.661
1,3
Kết quả, Việt Nam hiện tại có 05 vùng dịch tễ sốt rét khác nhau. Cả nước có gần
15,5 triệu người sống trong vùng SR, chiếm 17,5% dân số toàn quốc [33].
1.2.6.6. Phân vùng dịch tễ sốt rét của tỉnh Quảng Trị
Tỉnh Quảng Trị có 10 huyện, thị, thành phố gồm 142 xã phân thành 5 vùng SR
Trong đó huyện Hướng Hoá có 22 xã gồm 18 xã thuộc vùng SRLH nặng và 4 xã
vùng SRLH vừa. Các xã nghiên cứu đều nằm trong vùng SRLH nặng [33].
1.2.6.7. Dịch sốt rét
Theo dự án quốc gia PCSR của Việt Nam định nghĩa dịch sốt rét: “Dịch sốt rét
là khi ở một nơi có mức bệnh sốt rét (ca mắc mới) tăng đột ngột so với diễn biến bình
thường trong một quần thể dân cư (tối thiểu một thôn bản, cụm dân cư) và có lan
truyền bệnh tại chỗ” [2], [45].
Sử dụng phương pháp của Cullent. Sử dụng mô hình toán thống kê, 95% khoảng
tin cậy của phân phối thường (mean + 2SD của 5 năm). Phương pháp này áp dụng
trước đây ở Thái Lan, hiện nay ở Việt Nam [2].
Trong 5 năm (2006-2010) cả nước chỉ có 4 vụ dịch ở qui mô nhỏ [74].
1.2.6.8. Lan truyền bệnh sốt rét

Sự lan truyền bệnh sốt rét được quyết định bởi 3 yếu tố gồm: tác nhân gây bệnh,
véc tơ truyền bệnh và con người [32].
Một số yếu tố khác cũng có tác động đến sự lan truyền bệnh như: di biến động dân cư
ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc lan truyền bệnh sốt rét, tỉnh Quảng Trị
có đường biên giới giáp nước bạn Lào dài 206 km, có 2 cửa khẩu Quốc tế và quốc gia
và nhiều cửa khẩu phụ nên vấn đề sốt rét do giao lưu biên giới ngày càng nhiều và phát
hiện bệnh nhân chỉ theo phương thức thụ động [61], [62].
Theo đánh giá của TCYTTG bệnh sốt rét còn phổ biến trên nhiều vùng, các nguyên
nhân chính được xác nhận bao gồm:
Tăng kháng thuốc. Biến động dân cư. Tăng phạm vi các vùng lưu hành bệnh.
Du lịch và buôn bán ngày một nhiều. Giảm các nỗ lực phòng chống muỗi (phun hoá

bệnh sốt rét dưới 0,02/100.000 dân; không còn tỉnh nào trong giai đoạn PCSR tích
cực; 40 tỉnh trong giai đoạn đề phòng bệnh sốt rét quay trở lại; 15 tỉnh trong giai đoạn
loại trừ sốt rét và 8 tỉnh trong giai đoạn tiền loại trừ sốt rét vào năm 2020 [53].
Mục tiêu cụ thể:
Tăng cường quản lý chương trình, nâng cao chất lượng hoạt động và tính bền vững
của chương trình quốc gia phòng chống và loại trừ sốt rét. Tỷ lệ mắc sốt rét (ca sốt rét
lâm sàng và ca sốt rét xác định có ký sinh trùng) xuống dưới 0,33 /1.000 dân vào năm
2015 [53]. Tỷ lệ ca xác định giảm xuống dưới 0,08/1.000 dân. Tỷ lệ ca xác định được
chẩn đoán bằng kính hiển vi và tét chẩn đoán nhanh 70% so với tổng số ca sốt rét. Tỷ
lệ ca sốt rét ác tính giảm xuống dưới 100 ca và tỷ lệ chết do sốt rét toàn quốc giảm
xuống dưới 0,02/100.000 dân vào năm 2015 [53].
1.3.3. Những khó khăn thách thức hiện nay đối với chương trình PCSR
Dân số sống trong vùng có nguy cơ sốt rét lớn với khoảng 37 triệu người hơn
40% dân số của cả nước, trong khi đó độ bao phủ và chất lượng PCSR còn hạn chế.

Số người mắc sốt rét và mang KSTSR còn cao ở một số cộng đồng dân cư ở vùng
vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa
Di biến động dân cư, số người ngủ trong rừng, rẫy; qua lại biên giới còn lớn.
Kinh tế, tập quán, nhận thức, hành vi PCSR của người dân còn thấp.
Màng lưới YTCS còn thiếu, yếu; quản lý y, dược tư nhân còn chưa đầy đủ.
Nguồn lực cho hoạt động PCSR không ổn định.
1.3.4. Các giải pháp của chương trình phòng chống SR trên thế giới, Việt Nam
Để PCSR có hiệu quả và có tính bền vững cần nắm vững các chiến lược và giải pháp
PCSR của chương trình PCSR trên thế giới và Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và
một số giải pháp bổ sung tuỳ thuộc vào đặc điểm riêng của từng vùng.
Nắm vững quá trình lây truyền bệnh sốt rét và thực hiện đầy đủ có hiệu quả 7
nhóm giải pháp phòng chống sốt rét đó là:
Nhóm giải pháp về quản lý. Nhóm giải pháp về nhân lực. Nhóm giải pháp về đầu
tư. Nhóm giải pháp về truyền thông giáo dục sức khỏe thay đổi hành vi PCSR.
Nhóm giải pháp về chuyên môn kỹ thuật. Nhóm giải pháp về xã hội hóa PCSR.

Song song với việc diệt muỗi sốt rét vốn chỉ được sử dụng trong nhà và khi đi
ngủ, thì việc bảo vệ khối cảm thụ là rất cần thiết cả khi ở trong nhà cũng như khi ở
trong rừng [31].
Trong giai đoạn tiêu diệt hoặc thanh toán bệnh sốt rét các thập kỷ trước đây, với
việc phát hiện ra thuốc Chloroquine, Mefloquine người ta cho uống thuốc dự phòng
những đối tượng ở trong vùng sốt rét hoặc đi vào vùng sốt rét lưu hành.
Sau đó với việc bệnh sốt rét đã giảm, việc uống thuốc không đủ liều góp phần
đưa đến việc KSTSR kháng thuốc ngày càng gia tăng, các chương trình PCSR các
quốc gia (trong đó có Việt Nam) không sử dụng uống thuốc phòng SR mà chuyển
sang cấp thuốc tự điều trị đối với đối tượng có nguy cơ mắc SR cao [3], [4].
1.4.3. Chẩn đoán và điều trị bệnh sốt rét
1.4.3.1. Chiến lược chẩn đoán của bệnh sốt rét

Có triệu chứng điển hình của bệnh sốt rét với 3 giai đoạn: sốt, rét run, vã mồ hôi.
và có chu kỳ [40]. Hoặc có triệu chứng không điển hình của cơn sốt rét: Sốt không
thành cơn, hoặc sốt cao liên tục, sốt dao động. Nếu không được điều trị kịp thời có
thể có một hoặc nhiều biến chứng đe doạ tính mạng người bệnh [3], [4].
Các phương pháp chẩn đoán sốt rét
Chẩn đoán bệnh sốt rét dựa vào khám lâm sàng và xét nghiệm máu.
Chẩn đoán lâm sàng dựa vào các triệu chứng của bệnh và yếu tố dịch tễ.
Chẩn đoán sốt rét bằng xét nghiệm máu: hiện nay có nhiều phương pháp được
áp dụng từ phương pháp đơn giản như test chẩn đoán nhanh, xét nghiệm lam máu tìm
ký sinh trùng bằng kính hiển vi đến các phương pháp hiện đại khác như ELISA, PCR
[114]. Tuy nhiên, phương pháp xét nghiệm lam máu tìm KSTSR vẫn được sử dụng
rộng rãi và được coi là “Chuẩn vàng” trong chẩn đoán sốt rét [72]. Tuy nhiên, với
phương pháp này đòi hỏi kỹ thuật viên xét nghiệm có kinh nghiệm, kính hiển vi tốt.
Kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reaction) là kỹ thuật sinh học phân tử đã đến
trình độ cao, kỹ thuật có độ nhạy ( trên 90%) và độ đặc hiệu (100%), chính xác cao,
có khả năng phát hiện được những trường hợp có mật độ nhiễm KST thấp (< 1KST/ l
máu), xác định chủng loại ký sinh trùng sốt rét [31].

+ Bệnh nhân sốt rét có ký sinh trùng (KSTSR +)
+ Bệnh nhân sốt rét lâm sàng
Nguyên tắc.
Điều trị sớm, đủ liều;
Điều trị cắt cơn sốt kết hợp chống lây lan (P.f), tiệt căn (P.v);
Điều trị sốt rét thể thông thường; Thuốc điều trị ưu tiên (first line)
Sốt rét do P.falciparum, đây là loại sốt rét nặng nhất nếu không được điều trị sẽ
dẫn đến shock, suy gan, suy thận, hôn mê hoặc tử vong [49]: dihydroartemisinin +
piperaquin uống 3 ngày + primaquin 0,5 mg bazơ/kg liều duy nhất cho tất cả các
trường hợp nhiễm P.f Sốt rét do P.vivax: Chloroquin tổng liều 25 mg bazơ/kg/đợt
điều trị + primaquin 0,25 mg bazơ/kg /ngày x 14 ngày.
Thuốc điều trị thay thế (second line):

Quinine 30 mg/kg/ngày x 7 ngày + doxycyclin 3mg/kg/ngày x 7 ngày;
Quinine 30 mg/kg/ngày x 7 ngày + clidamycine 15mg/kg/ngày x 7 ngày cho phụ
nữ có thai và trẻ em dưới 8 tuổi.
Điều trị đặc hiệu sốt rét ác tính: Artesunate 60mg tiêm tĩnh mạch, liều giờ đầu:
2,4mg/kg, tiêm nhắc lại 2,4mg/kg vào giờ thứ 12. Sau đó mỗi ngày tiêm 1 liều
2,4mg/kg (tối đa 7 ngày) cho đến khi người bệnh tỉnh, có thể uống được chuyển sang
uống Dihydroartemisinin - Piperaquin x 3 ngày.
Hoặc Quinine dihydrochlorite tiêm hoặc chuyền tỉnh mạch với liều 20mg/kg cho 8
giờ đầu, sau đó 10 mg/kg cho mỗi 8 giờ tiếp theo.
1.4.3.3. Điều trị mở rộng (hay điều trị toàn dân)
Chỉ áp dụng ở các ổ dịch, vụ dịch. Trung tâm PCSR/Y tế dự phòng tỉnh là cơ
quan y tế quyết định chọn đối tượng và phạm vi điều trị mở rộng [4].
1.4.3.4. Cấp thuốc tự điều trị
Cấp thuốc tự điều trị được Chương trình PCSR Quốc gia khuyến cáo sử dụng
cho những người từ vùng không có SR hoặc sốt rét nhẹ vào vùng sốt rét lưu hành nặng
thay thế biện pháp uống thuốc dự phòng sốt rét đã không còn phù hợp [4].
1.5. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ, KINH TẾ, VĂN HOÁ XÃ HỘI, Y TẾ CÁC XÃ

Huyện Hướng Hoá được phân thành 2 vùng kinh tế, văn hoá xã hội rõ rệt.
- Vùng trung tâm của huyện gồm 7 xã nằm dọc đường quốc lộ số 9.
Văn hoá xã hội phát triển, nhà cửa khang trang, ít rừng, đồi thấp, là vùng sốt rét
lưu hành vừa, tỷ lệ mắc sốt rét thấp.
- Vùng các xã ngoại vi của huyện gồm 15 xã nằm giáp biên giới 2 nước
Việt - Lào và các huyện miền núi khác của tỉnh Quảng Trị là vùng sốt rét lưu
hành nặng của tỉnh Quảng Trị tập trung chủ yếu ở huyện Hướng Hoá nơi có đồng
bào dân tộc ít người sinh sống, người dân sống ở đây và các thôn phía Lào đối
diện đều là người dân tộc Vân Kiều, Pa Kô, Tri nên cùng có chung phong tục tập
quán sinh hoạt. Điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội đang gặp nhiều khó khăn.
Vùng này gồm có 12/15 xã giáp biên giới với 2 huyện Sê Pôn, huyện Nòng của
tỉnh Savannakhet, đa số là nơi sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số Vân Kiều, Pa

Kô, đa số là vùng rừng rậm, nhiều khe suối có cả 2 véc tơ sốt rét chính là An.minimus
và An.di rus với mật độ cao [97], [98].
Kinh tế: chủ yếu là dựa vào làm nương rẫy, thu nhập thấp, tỷ lệ hộ đói nghèo
cao. Đa số các hộ gia đình đều ở mức nghèo, chỉ tạm đủ ăn, nhà nước thường phải hỗ
trợ thêm lương thực, tỷ lệ hộ nghèo từ 30-70%.
Nghề nghiệp chính là làm nương rẫy, có đi rừng ngủ rẫy vào mùa thu hoạch.
Các gia đình đều có chăn nuôi, trước đây gia súc, gia cầm như lợn, gà đều nuôi
dưới sàn nhà, là nơi thu hút muỗi đến gần người.
Về cơ cấu nhà cửa: đa số là nhà sàn, vách bằng tre nứa hoặc gỗ, nhiều nhà vách
nhà đã hư hỏng nhiều, thậm chí nhiều nhà coi như không có vách, cửa chính và các
cửa sổ đều mở suốt đêm, nên muỗi có thể bay vào nhà dễ dàng.
Văn hoá, xã hội: dân tộc Vân Kiều, Pa Kô chưa có chữ viết, tỷ lệ mù chữ cao
(63,5%), ở nhà sàn với nhiều nhà sơ sài tạm bợ. Phong tục tập quán lạc hậu: đau ốm
thường cúng bái. Do thời tiết miền núi thường lạnh về ban đêm, nên người dân thường
có thói quen đốt bếp lửa giữa nhà để sưởi (Trước đây có khoảng >90%, hiện nay trước
can thiệp điều tra còn khoảng 14,8% có bếp lữa giữa nhà). Người dân không có thói
quen ngủ màn (Tỷ lệ ngủ màn điều tra được hàng năm chỉ khoảng 50-60%), đây chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status