Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Trong tiến trình toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ, với những xu thế vận
động và bối cảnh khách quan của nền kinh tế thế giới và khu vực, với những tác
động của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội… để tránh khỏi bị tụt hậu Việt Nam
đang đứng trước thời cơ mới và thách thức mới. Đối với Việt Nam, trong điều
kiện chuyển từ nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị
trường lại có điểm xuất phát thấp, tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa cao, để đưa
đất nước phát triển nhanh Đảng ta đã khẳng định ” Phát huy cao độ nội lực,
đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài” Quá trình tham gia vào hội nhập kinh
tế thế giới và khu vực là tất yếu.
Nhật Bản là một trong những nước có tầm ảnh hưởng rất lớn trong nền
kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Nhật Bản là một cường quốc
kinh tế đã trải qua nhiều năm phát triển thần kỳ vào trước thập niên 90 của thế
kỷ XX khiến cho cả thế giới khâm phục. Nhiều nước trong khu vực Châu Á đã
phấn đấu noi theo mô hình phát triển của Nhật Bản, trong đó một số nước và
lãnh thổ Đông Á đã nhanh chóng trở thành con rồng, con hổ kinh tế, giải quyết
thành công nhiều vấn đề đời sống kinh tế – xã hội, chỉ trong vòng 2 – 3 thập
niên. Vì vậy, việc xem xét, nghiên cứu, tìm hiểu học hỏi những chính sách, biện
pháp, giải pháp, chiến lược mà chính phủ Nhật Bản đã sử dụng để đưa nền kinh
tế phát triển mạnh mẽ như vậy đối với Việt Nam là rất cần thiết nhằm tạo ra sự
tăng trưởng cao và bền vững cho việc phát triển kinh tế - xã hội.
Sau quá trình thực tập tại Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản em đã hoàn
thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp với đề tài: “Cải cách kinh tế của Nhật Bản
và mối quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản”.
Vì thời gian ngắn và kiến thức bản thân còn hạn chế nên nội dung chuyên
đề thực tập này không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong các thầy cô chỉ
bảo, góp ý để chuyên đề thực tập của em được hoàn chỉnh hơn.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
I. XU HƯỚNG CỦA NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI
Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành một trong những xu hướng
quan trọng trong hoạt động kinh tế quốc tế. Các nước đang phát triển (trong đó
có Việt Nam) cùng với việc tranh thủ thu hút các nguồn vốn để phát triển cũng
khuyến khích, đẩy mạnh việc quan hệ hợp tác với các nước phát triển trên thế
giới nhằm học hỏi kinh nghiệm cũng như mở rộng thị trường, tận dụng các
nguồn tài nguyên, lao động, tăng nguồn thu lợi nhuận cũng như tăng cường ảnh
hưởng với các nước khác và. Chính vì những lẽ đó mà đã có rất nhiều quốc gia,
tổ chức quốc tế, các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học đã đưa ra, tổng kết
những kinh nghiệm, những vấn đề lý luận, thực tiễn và dự báo về xu hướng phát
triển của nền kinh tế thế giới trong đó có Nhật Bản và Việt Nam.
II. NỀN KINH TẾ NHẬT BẢN TỪ CUỐI NHỮNG NĂM 1980 ĐẾN
NAY
Nhật Bản, một nước nghèo tài nguyên, không thể đánh mất bất kỳ một cơ
hội thương mại quốc tế nào nếu đó là cơ hội để phát triển kinh tế và duy trì một
mức sống cao. Các chính sách liên quan tới thương mại và đầu tư do vậy đã
chiếm một vị trí nổi bật trong quá trình phát triển kinh tế. Sau thời kỳ tăng
trưởng kinh tế cao, ở Nhật Bản đã nảy sinh hàng loạt vấn đề đòi hỏi nhà nước
phải điều chỉnh chính sách và tiến hành cải cách trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, xã
hội, chính trị, văn hóa…
Phạm vi của đề tài được xác định là những cải cách được tiến hành ở Nhật
Bản từ cuối những năm 80 của thế kỷ 20 đến nay. Những cải cách này đã, đang
và sẽ được tiến hành với nội dung và hình thức rất phong phú và đa dạng, chưa
biết được thời gian kết thúc.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Những yếu tố (bên trong và bên ngoài) thúc đẩy Nhật Bản cải cách. Đó là
sự đổ vỡ của kinh tế bong bóng, đồng Yên lên giá, hệ thống ngân hàng tài chính
lạc hậu, sự già hoá dân số, bộ máy nhà nước yếu kém, tình hình chính trị mất ổn
định và tình hình quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp tác động mạnh tới kinh tế,
Năm 2000: kinh tế Nhật Bản tăng trưởng khả quan: 2,4%.
Năm 2001: suy giảm kinh tế trở lại với chỉ số tăng trưởng: -0,4%.
Năm 2002 đến nay: đang phục hồi yếu 1,6%.
Về đại thể, các chỉ số tăng trưởng GDP hàng năm trên đây đã phản ánh
khái quát nhất về mặt định lượng của cuộc khủng hoảng kinh tế Nhật Bản kéo
dài suốt thập niên 1990 đến nay. Nếu so với cuộc khuủng hoảng kinh tế 1973 –
1975 của thế giới Tư Bản Chủ Nghĩa, trong đó có Nhật Bản thì mức độ khủng
hoảng lần này còn tồi tệ hơn nhiều (cuộc khủng hoảng 1973 – 1975, năm 1973:
tăng trưởng GDP của Nhật Bản là 8%, đến năm 1974 tuy có bị giảm đột ngột
đến mức – 1,2%, song đến năm 1975, lại khôi phục trở lại ngay với tăng trưởng
3%, tiếp đó năm 1976 là 4%, từ đó bình quân hàng năm cho đến cuối thập niên
1980 đều đạt tăng trưởng khoảng 5%).
Đó là biểu hiện tổng quát nhất của khủng hoảng kinh tế Nhật Bản qua
động thái suy giảm của tăng trưởng GDP hàng năm.
III. CẢI CÁCH TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ CỦA NHẬT BẢN
Các chính sách và biện pháp cải cách kinh tế ở Nhật Bản kể từ đầu thập
kỷ 1990 đến nay có thể được chia thành hai cum chính sách và biện pháp chủ
yếu, đó là các chính sách và biện pháp mang tính chất tình thế, và các chương
trình cải cách kinh tế một cách cơ bản và toàn diện.
1. Các chính sách và giải pháp tình thế
Trước tình trạng suy thoái kinh tế nghiêm trọng và kéo dài, đồng yên bất
ổn định, sự yếu kém của hệ thống ngân hàng – tài chính, và các vấn đề kinh tế –
xã hội khác, Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện khá nhiều chính sách và giải pháp
tạm thời để khôi phục và lấy lại sức sống cho nền kinh tế. Các chính sách và
biện pháp loại này thực ra đã được áp dụng nhiều lần trong các thập kỷ trước
đây khi nền kinh tế Nhật Bản có biểu hiện suy thoái theo chu kỳ. Nội dung chủ
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
yếu của nó là bơm thêm tiền vào nền kinh tế bằng các chương trình kích thích
kinh tế trọn gói, tăng đầu tư vào các công trình công cộng, giảm thuế, giảm tỷ lệ
giảm đi.
Nhằm khuyến khích việc quốc tế hoá đồng Yên, Chính phủ đã ban hành
hệ thống bỏ thầu mở đối với các trái phiếu ngắn hạn, đây là matt hình thức miễn
thuế thu nhập đặc biệt đối với các trái phiếu Chính phủ cho những người không
phải cư dân Nhật Bản. Chính phủ cũng đã quyết định huỷ bỏ thuế giao dịch
chứng khoán và ban hành một hệ thống thuế đã được củng cố trong năm 2001.
- Giảm lãi suất chiết khấu chính thức: Trước tình trạng sản xuất đình trệ,
nhu cầu đầu tư trong nước giảm sút, Chính phủ Nhật Bản đã liên tục giảm lãi
suất cho vay chính thức của ngân hàng nhằm kích thích đầu tư. Đây cũng là một
trong những hướng cơ bản của chính sách kích cầu trong nước. Trong suốt
những năm 1990, lãi suất chính thức đã luôn được giảm đi trước tình trạng kinh
tế suy thoái. Ngân hàng trung ương Nhật Bản đã duy trì một tỷ lệ lãi suất thấp
tới mức chưa từng có trong lịch sử Nhật Bản (0,5%) trong suốt nhiều năm liên
tục và thậm chí hiện nay đã xuống tới mức sấp sỉ con số không nhằm phuch hồi
và lấy lại sinh khí cho nền kinh tế.
2. Các chương trình cải cách kinh tế một cách cơ bản và toàn diện
Nguyên nhân sâu xa gây ra tình trạng trì trệ kéo dài của nền kinh tế Nhật
Bản là sự bất cập hay những hạn chế của mô hình kinh tế Nhật Bản trước bối
cảnh mới của tình hình kinh tế quốc tế, sự lạc hậu của hệ thống ngân hàng tài
chính mang nặng tính bao cấp, sự cứng nhắc cũng như thiếu minh bạch của bộ
máy hành chính trong việc quản lí và điều hành nền kinh tế… Chính vì vậy, để
khắc phục một cách triệt để tình trạng kinh tế suy thoái đòi hỏi phải tiến hành
những cải cách toàn diện hệ thống kinh tế Nhật Bản. Tuy nhiên, không phải vấn
đề này đã được nhận thức và thực hiện ngay từ đầu thập kỷ1990 sau khi những
“bong bóng” kinh tế bất đông sản sụp đổ đẩy nền kinh tế Nhật Bản lâm vào tình
trạng suy thoái nghiêm trọng và kéo dài. Mà phải đến 1996, sau khi hàng loạt
các chương trình kích thích kinh tế trọn gói, như đã đề cập đến ở trên, không
đem lại hiệu quả, Chính phủ Nhật Bản dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
mới và đang chuẩn bị tốt nghiệp ra trường, đã trở nên rất khó khăn. Đối với
những ai lần đầu tiên đi tìm kiếm công ăn việc làm thì quả thật là cơ hội rất
mỏng manh. Bởi vì phần đông các công ty Nhật Bản trong những năm này luôn
ở trong tình trạng suy thoái, họ phải co nhỏ lại quy mô họat động kinh doanh để
tránh tổn thất và sa thải công nhân. Một số nhỏ các công nhân được thuyên
chuyển tới các xí nghiệp vừa và nhỏ với những công việc mang tính chất tạm
thời.
+ Tiến hành thu hẹp và giảm đầu tư vào nhiều khâu sản xuất cần nhiều lao
động, không còn cạnh tranh được với hàng nhập khẩu, đồng thời chuyển chúng
sang các nước Đông Á. Đó là các nghành sản xuất phụ tùng ô tô, lắp ráp đồ
điện, điện tử, dệt… Hướng thích ứng này đã dẫn tới nguy cơ của sự “trống rỗng”
nền công nghiệp trong nước mà các sách báo đã đề cập đến rất nhiều. Theo các
số liệu thống kê của 14 nghành công nghiệp, tỷ lệ đầu tư ra nước ngoài trong
những năm giữa thập kỷ 90 bình quân đều đạt trên 27%, vượt xa mức 1,8% vào
năm 1986. Trong đó công nghiệp chế tạo tăng mạnh nhất. Ví dụ, đằu tư ra nước
ngoài trong ngành chế tạo ô tô đã tăng từ 4,8% năm 1986 lên 38,1% năm 1995
(Tạp chí “Kinh tế hệ” số tháng 7/1996). Tỷ trọng sản xuất ở nước ngoài (chỉ mối
quan hệ giữatổng ngạch tiêu thụ của các xí nghiệp ở nước ngoài thuộc ngành chế
tạo với tổng ngạch tiêu thụ của ngành chế tạo trong nước) đã tăng từ 3% năm
1985 lên 6,4% năm 1990 và 7,4% năm 1993, trong đó nghành sản xuất máy điện
tăng lên 12,6%, máy móc vận tải tăng lên 17,3% (Sách trắng đầu tư, Hội Chấn
hưng mậu dịch Nhật Bản năm 1995).
+ Tăng cường nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp, bán thành phẩm, và
linh kiện, đặc biệt là những sản phẩm được sản xuất từ những cơ sở chế tạo của
Nhật Bản ở nước ngoài và nâng cao hơn nữa giá cả hàng xuất khẩu để bù lại
những thiệt hại do sư tăng giá của đồng Yên gây ra. Ví dụ trong năm 1995,
nhiều công ty xuất khẩu của Nhật Bản đã tăng giá hàng xuất khẩu từ 10 – 15%.
Điều này đã khiến cho hàng nhập khẩu dễ có điều kiện thâm nhập hơn vào thị
trường Nhật Bản trong khi đó hàng xuất khẩu từ Nhật Bản lại khó được chấp
ban hành và thực hiện hàng loạt các chính sách và biện pháp cải cách cụ thể đối
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
với từng lĩnh vực của hệ thống tài chính. Trong đó, đặc biệt là các chính sách cơ
cấu lại Bộ Tài Chính, chính sách tăng cường vai trò của Ngân hàng trung ương
Nhật Bản, chính sách cơ cấu lại các ngân hàng thương mại, chính sách nới lỏng
các quy chế tạo điều kiện cho sự phát triển của các thị trường vốn độc lập và sự
thâm nhập vào các công việc kinh doanh lẫn nhau của các cơ quan tài chính
nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của chúng, các chính sách về lãi suất tín
dụng, tỷ giá đồng Yên, và thị trường chứng khoán, các chính sách về thuế, thu
chi ngân sách và bảo hiểm…(Hệ thống tài chính Nhật Bản: những đặc trưng cơ
bản và cuộc cải cách hiện nay; chủ biên Trần Quang Minh, Nxb KHXH, Hà
Nội, 2003). Chi tiết quá trình thực hiện cải cách tài chính “Bing Bang” của Nhật
Bản được chỉ rõ trong bảng sau:
Tiến trình thực hiện “Big Bang” của Nhật Bản
Các khoản mục 1997 1998 1999 2000 2001
1. Mở rộng sự lựa chọn cho các
nhà đầu tư và các tổ chức tăng
nguồn vốn
Tự do hoá giao dịch vốn và kinh
doanh noại hối trong nước cũng
như ngoài nước
Thực hiện tài khoản chứng khoán
chung
Tự do hoá hoàn toàn các loại
chứng khoán
Giới thiệu việc bán uỷ thác đầu tư
không cần qua quầy của ngân hàng
và các tổ chức khác
Tăng khả năng thanh toán của ABS
10/99
10/99
10/99
3. Sử dụng thị trường thân thiện,
nhiều hơn
Cải tiến mua bán ngoại tệ và xoá
bỏ mức ấn dịnh cho các loại chứng
khoán có trong danh sách
Tăng cường chức năng của thị
trường đăng ký qua máy
Xoá bỏ thuế giao dịch chứng khoán
và thuế ở thị trường hối đoái
Xoá bỏ một phần thuế của những
người có JGBs
12/98
12/98
4/99
4/99
4. Cải tiến khung pháp lý cho việc
trao đổi bình đẳng và minh bạch
Thực hiện ngay các biện pháp hành 4/99
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
động đúng
Tăng cường chế độ công khai tình
hình kinh doanh của các doanh
nghiệp
Cải cách các tiêu chuẩn về kế toán:
đánh gia kế toán thị trường bằng
điểm
chế kinh tế nhằm tạo môi trường thông thoáng cho các doanh nghiệp hoạt động.
Các chính sách Nhà nước tập trung chú trọng phát triển các nghành công nghệ
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cao đại diện cho nền kinh tế mới – kinh tế tri thức. Xúc tiến chương trình phát
triển tổng thể vùng kinh tế nhằm gắn kết các khu vực trong nền kinh tế theo 4
trục chính: Đông – Bắc, ven biển Nhật Bản, ven Thái Bình Dương và trục phía
tây Nhật Bản, qua đó phát huy lợi thế so sánh của từng vùng trong hoạt động
kinh doanhhợp tac quốc tế. Nhật Bản cũng đẩy mạnh tiến trình tự do hoá và hội
nhập quốc tế. Bên cạnh gia tăng các hoạt động hợp tác với ASEAN, Nhật Bản
cũng từng bước mở cửa thị trường nội địa và tự do hoá các hoạt động kinh
doanh, thu hút nhiều hơn dòng vốn nước ngoài đổ vào thị trường Nhật Bản.
Điều đáng chú ý trong các cuộc cải cáchgần đây là chú trọng phát triển
kinh tế theo hướng gia tăng nội nhu, láy nội nhu làm động lực phát triển.
I. MỘT SỐ THÀNH CÔNG BƯỚC ĐẦU CỦA CẢI CÁCH KINH
TẾ NHẬT BẢN
Nhìn một cách tổng thể, cải cách kinh tế ở Nhật Bản đã thu được những
kết quả tương đối khả quan. Các cuộc cải cách này đã và đang dẫn tới những
thay đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế Nhật Bản, làm cho khu vực tài chính Nhật Bản
đã trở lên có sức cạnh tranh mạnh hơn và, sự thâm nhập của nước ngoài vào nền
kinh tế Nhật Bản cũng trở nên ít khó khăn hơn. Các cuộc cải cách này cũng đã
dẫn tới sự cơ cấu lại các công ty và sự phát triển mạnh của các thị trường vốn
độc lập. Hơn 10 năm trước dây, người Nhật Bản không thể nghĩ rằng sự xuất
hiện của thị trường vốn sẽ là một lực lượng quan trọng thúc đẩy sự cơ cấu lại
nền kinh tế Nhật Bản và làm thay đổi phong cách quản lý truyền thống trong các
công ty của Nhật Bản. Sự ra đời của một ban giám đốc độc lập và quyền lợi của
các cổ đông là những vấn đề đáng chu ý hiện nay ở các công ty Nhật Bản. Chế
độ làm việc suốt đời và trả lương theo thâm niên cũng đã trở nên không còn
thích hợp nữa. Nếu như trong những năm 1980, người ta không thể tuyển mộ
sinh viên giỏi từ một trường đại học có tiếng ở Nhật Bản vào làm việc cho một
của họ, cho phép họ thực hiện những thay đổi làm tăng khả năng cạnh tranh hơn.
Việc làm này cũng góp phần tăng cường vai trò của lãnh đạo vì nó tách chức
năng kiểm tra khỏi chức năng hoạt động kinh doanh.
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thứ tư, việc quản lý các nguồn nhân lực cũng đang có sự thay đổi. Nhiều
công ty hiện nay nhấn mạnh vào khả năng làm việc hơn là sự thâm niên và thuê
mướn suốt đời. Ví dụ, theo một nghiên cứu, chỉ có 6,3% người Nhật cho rằng hệ
thống trả lương theo thâm niên cần được duy trì, trong khi đó 53,8% cho rằng
tiền lương cần được trả trên cơ sở công việc thực tế .
Bên cạnh những nhân tố kể trên, sự phát triển mạnh của đầu tư nước
ngoài vào Nhật Bản cũng là một động lực khác cho sự thay đổi cơ cấu các
ngành. Đặc biệt là cuộc cải cách tài chính Big Bang đã và đang dẫn tới những
thay đổi cơ cấu sâu sắc ở Nhật Bản. Khu vực tài chính Nhật Bản trở nên có sức
cạnh tranh mạnh hơn và sự thâm nhập của nước ngoài vào khu vực này cũng trở
nên ít khó khăn hơn. Theo các số liệu thống kê, đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) vào Nhật Bản trong những năm gần đây đã tăng rất mạnh. Trong đó
khoảng 34,1% tổng vốn FDI là vào khu vực tài chính, và khoang 24% vào kỹ
thuật thông tin và các ngành thương nghiệp bán lẻ. FDI, ngoài các khoản tiền
đầu tư, đã đưa vào Nhật Bản các quan điểm của các nhà đầu tư và các kiểu quản
lý công ty không chỉ mới mà còn có thể áp dụng đối với các xí nghiệp Nhật Bản
truyền thống. Nếu như trước đây người Nhật Bản đã không thích thú làm việc
trong các công ty nước ngoài ở Nhật Bản thì trong những năm gần đây tình
trạng này đã được cải thiện rất nhiều. Ví dụ, nhiều người Nhật Bản đã hoan
nghênh sự sát nhập của Nissan và Renault nhằm cứu vãn sự sống còn của
Nissan, trong khi thừa nhận rằng sự sống còn không thể có được nếu không chấp
nhận sự cơ cấu lại tập đoàn một cách đau đớn như sa thải công nhân,…
Tất cả những nhân tố kể trên đã góp phần tạo ra một sự chuyển dịch đáng
kể trong nội bộ các ngành kinh tế của Nhật Bản. Nhiều ngành công nghiệp mới
đã ra đời và phát triển như: Thông tin liên lạc, viễn thông, điện tử và điện dân
Nhật Bản (BOJ) đã có sự thay đổi về cơ bản với việc tăng cường tính độc lập và
quyền tự quyết của BOJ trong việc quản lý và thực hiện chính sách tiền tệ; Luật
Ngân hàng mới đã có hiệu lực và đi vào hoạt động kể từ năm 1997; nhiều ngân
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hàng đã tiến hành việc bán những uỷ thác đầu tư; các cơ quan tài chính đã có
quyền chủ động hơn trong việc giải quyết những vấn đề nảy sinh; và rất nhiều
công ty kinh doanh chứng khoán đã được thành lập và đi vào hoạt động. Việc
hợp nhất, các ngân hàng nhằm làm tăng sức mạnh tài chính và khả năng lợi
nhuận đã được đẩy mạnh. Sự thâm nhập của các ngân hàng thương mại và ngân
hàng uỷ thác vào kinh doanh bảo hiểm thông qua các chi nhánh cũng đã được
thực hiện…
Sau hơn 5 năm triển khai và thực hiện, cuộc cải cách hệ thống tài chính
Nhật Bản bước đầu đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Cuộc cải cách này
đã và đang dẫn tới những thay đổi cơ cấu sâu sắc ở Nhật Bản. Khu vực tài chính
Nhật Bản đã trở nên có sức cạnh tranh hơn, sự thâm nhập của nước ngoài vào
khu vực này cũng trở nênít khó khăn hơn, các thị trường vốn độc lập cũng đã
được phát triển thêm một bước. Các cơ quan tài chính Nhật Bản đã hoàn toàn
được tự do trong các hoạt động của mình và các phương tiện quản lý tài sản đã
được cải thiện một cách có ý nghĩa, sự thâm nhập lẫn nhau về công việc kinh
doanh của các ngân hàng, các công ty chứng khoán và công ty bảo hiểm, cùng
với xu hướng hợp nhất các loại cơ quan này đã được đẩy mạnh, các thị trường
vốn đã được phát triển thêm một bước, đặc biệt là mạng lưới thị trường thông
qua hệ thông trao đổi thương mại điện tử và qua Internet; Sự liên doanh, liên kết
với nước ngoài và sự thâm nhập của các công ty ài chính nước ngoài vào Nhật
Bản đã được đẩy mạnh dưới các hình thức như: FDI, mua cổ phần, tham gia trực
tiếp vào công việc quản lý của các công ty Nhật Bản và các thị trường chứng
khoán ở Nhật Bản; Và chất lượng quản lý tín dụng của các cơ quan trong hệ
thống tài chính Nhật Bản đã được cải thiện rất đáng kể (Hệ thống tài chính Nhật
Bản: Những đăc trưng cơ bản và cuộc cải cách hiện nay; chủ biên Trần Quang
thay đổi hẳn trong những năm 1990 với những món nợ khó đòi khổng lồ của các
ngân hàng, kinh tế triền miên trong vòng suy thoái, giảm phát liên tục trong
những năm gần đây. Vậy làm thế nào để có thể lập lại trật tự của hệ thống tài
chính để ngân hàng có thể làm tốt vai trò trung gian tài chính của mình trong
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
việc thu hút vốn nhàn rỗi và cung cấp vốn cho doanh nghiệp, thực sự đáp ứng
những yêu cầu mới trong qua trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá. Chương
trình cải cách “Big Bang” đã đưa ra những chính sách và biện pháp tương đối
toàn diện để đổi mới nguyên tắc hoạt động cũng như cơ cấu tổ chức hệ thống
ngân hàng Nhật Bản.
1.1. Đối với NHTW
Như chúng ta đã biết, ngân hàng trung ương là một định chế quản lý nhà
nước về tiền tệ – tín dụng. Nó nằm trong bộ máy quyền lực quốc gia. Song, tuỳ
theo điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi nước, HNTW có thể độc lập hay trực thuộc
Chính phủ. Chẳng hạn ở Mỹ và Đức, thực hiện thể chế NHTW độc lập với
Chính phủ. Trong thể chế này, Chính phủ không được can thiệp vào hoạt động
của NHTW. Nhưng ở Nhật, Anh, Pháp và một số nước khác thực hiện thể chế
NHTW trực thuộc Chính phủ, Chính phủ có ảnh hưởng quyết định đối với hoạt
động của NHTW.
Khác với tính chất quản lý nhà nước của các bộ, NHTW thực hiện việc
quản lý nhà nước qua các nghiệp vụ kinh doanh có đem lại lợi nhuận. Song, việc
kinh doanh này chỉ là phương tiện nâng cao hiệu suất của công tác quản lý, chứ
không phải là mục đích của hoạt động chính của NHTW.
Mục đích hoạt động của NHTW là cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế, điều
hoà lưu thông tiền tệ và quản lý hệ thống ngân hàng, nhằm bảo đảm lưu thông
tiền tệ ổn định, từ đó tạo diều kiện tăng trưởng kinh tế, tăng việc làm và kiềm
chế lạm phát. Với 3 chức năng cơ bản là: phát hành tiền tệ, ngân hàng của các
ngân hàng và ngân hàng của nhà nước, NHTW đóng vai trò quan trọng trong
việc ổn định và phát triển kinh tế – xã hội như điều tiết khối lượng tiền trong lưu
cung cấp vốn cho các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác, duy trì trật tự của
hệ thống tài chính. Quy định này cho thấy NHTW là trung tâm của hệ thống
thanh toán cũng như là tổ chức để duy trì “trật tự tài chính”. Điều 3 của Luật
tuyên bố sẽ tôn trọng quyền tự quyết của NHTW bằng sự độc lập trong quá trình
ra quyết định và công bố nội dung các quyết định. Luật cũng quy định chức
năng và việc bổ nhiệm các chức vụ của NHTW. Ban trị sự của BOJ sẽ gồm: 1
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thống đốc, 2 phó thống đốc, 6 thành viên được lựa chọn nằm trong Ban chính
sách, 3 kiểm toán viên,6 giám đốc điều hành, và một số cố vấn. Thống đốc, 2
phó thống đốc, 6 thành viên được lựa chọn nằm trong Ban Chính sách, ban này
do Nội các chỉ định với sự đồng ý của 2 viện trong Quốc hội sẽ được ra những
quyết định quan trọng về chính sách tiền tệ và về hệ thống ngân hàng. Những
kiểm toán viên cũng do Nội các bổ nhiệm, nhưng các giám đốc điều hành và các
cố vấn thì do Bộ trưởng Tài chính bổ nhiệm theo sự giới thiệu của Ban Chính
sách. Luật ghi rõ 6 thành viên được lựa chọn phải là chuyên gia kinh tế hoặc tài
chính, hoặc những người có kiến thức uyên thâm về kinh tế – xã hội để tăng
cường tính minh bạch và có thể hạn chế sự can thiệp của Bộ Tài chính. Như vậy
luật mới đã lành mạnh hoá chức năng của Ban Chính sách tiền tệ, trong tổng số
9 người của ban thì 4 thành viên mới được bổ nhiệm vào tháng 4 năm 1998 đều
độc lập với Chính phủ. Trong Ban Chính sách tiền tệ, không một thành viên nào
có quyền áp đặt quan điểm của riêng mình, mọi người đều có thể thẳng thắn nêu
ý kiến. Bắt đầu từ tháng 1 năm 1998, BOJ đã thực hiện các cuộc họp định kỳ 1
hoặc 2 lần trong một tháng về chính sách tiền tệ, và sau 5 hoặc 6 tuần sẽ công bố
công khai nội dung các cuộc họp. Đây có thể coi là một đột phá để đưa Nhật
Bản tiến đến các tiêu chuẩn quốc tế về tính minh bạch trong hoạt động ngân
hàng. Ngoài ra, trong việc quản lý nhân sự BOJ đã bãi bỏ quy chế thăng chức tự
động hàng năm, tăng cường hiệu quả nguồn nhân lực, áp dụng một cách then
trọng hệ thống thăng chức dựa vào sự đóng góp của các cá nhân cho hoạt động
của ngân hàng.
vay không cần thế chấp đối với Chính phủ, hoặc mua trái phiếu hoặc ghi nợ
trong giới hạn của Luật Ngân sách mà Quốc hội dặt ra.
Như vậy, việc áp dụng luật NHTW sửa đổi cho phép tạo lập môi trường
pháp lý phù hợp với tiêu chwnr quốc tế về quyền tự chủ, tính minh bạch và các
nhân tố quan trọng khác của NHTW. Đây là những điều kiện cần thiết để chiếm
được lòng tin của thi trường. Với Luật sửa đổi này phạm vi can thiệp của Chính
phủ với BOJ đã bị thu hẹp, tuy nhiên BOJ cũng phải luôn duy trì mối quan hệ
gần gũi và trao đổi quan diểm với Chính phủ một cách đầy đủ để đảm bảo chính
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sách của BOJ hài hoà với chính sách kinh tế của Chính phủ. Luật ngân hàng mới
nhấn mạnh khái niệm “minh bạch” với quy định rằng BOJ sẽ thông báo ra công
chúng nội dung các quyết định cũng như quá trình ra quyết địnhcó liên quan tới
vấn đề quản lý tiền và ngoại hối. Có thể thấy cuộc cải cách đối với BOJ tương
đối toàn diện vì không chỉ về cơ cấu luật pháp bên ngoài mà còn về cấu trúc và
động lưc bên trong của nó, tạo điều kiện để BOJ trở thành một ngân hàng hiện
đại theo tiêu chuẩn quốc tế. Điều này đã được chứng minh trong thời gian 4 năm
qua khi BOJ luôn kiên định duy trì chính sách nới lỏng tiền tệ của mình với việc
điều chỉnh lãi suất linh hoạt, can thiệp kịp thời vào thị trường ngoại hối. Chẳng
hạn, trong thời gian qua khi đồng Yên lên giá quá mức, tạo điều kiện thuận lợi
cho xuất khẩu của Nhật Bản. Chỉ tính từ cuối tháng 5/ 2002 đến đầu tháng
7/2002, BOJ đã 7 lần tung đồng Yên ra để mua Đôla Mỹ và trong lần can thiệp
thứ 6, BOJ đã yêu cầu Cục dự trữ Liên bang Mỹ và NHTW châu Âu giúp cho
việc bán đồng Yên. Đây là lần đầu tiên BOJ có sự phối hợp với NHTW của các
nước khác.
1.2. Đối với các NHTM
NHTM là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ – tín dụng và có
thể hiểu đó là một trung gian tài chính đi vay để cho vay. Có nhiều loại hình
NHTM như NHTM công, NHTM tư, NHTM trong nước, NHTM nước ngoài,
NHTM toàn quốc, NHTM địa phương, NHTM duy nhất hoặc NHTM mạng