Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nhiệm vụ và trọng tâm của nước ta hiện nay - Pdf 25

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Toàn cầu hoá là tất yếu được dự đoán từ lâu. Về logic, xu hướng này bắt
nguồn từ nền kinh tế thị trường là hệ thống 'ở', không bị giới hạn bởi các đường
biên giới quốc gia và gianh giới dân tộc, chủng tộ và tôn giáo. Sự gia tăng mạnh
mẽ của toàn cầu hoá kinh tế đặt yêu cầu đòi hỏi các quốc gia phải có chiến lược
phù hợp vào nền kinh té khu vực và thế giới . Việt Nam cũng không ngoại lệ,
sau hai cuôc chiến tranh tàn khốc nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng
nghiêm trọng, từ năm 1986 đảng và nhà nước ta đã thực hiện chính sách ‘đổi
mới’, đưa nền kinh tế nước ta phát triển theo con đường XHCN bắt kịp sự phát
triển của các nước trên thế giới.
Là sinh viên của trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân nhận thấy toàn cầu
hoá là một xu thế khách quan, ngày càng cuốn hút nhiều nước trên thế giới tham
gia với những mức độ không giống nhau. Nước ta đang xây dựng CNXH trong
bối cảnh toàn cầu hoá về kinh tế do CNTB chi phối nó sẽ tác động như thế nào
đến chính trị, văn hoá, xã hội của nước ta, đồng thời em cũng muốn tìm hiểu
những chủ trương ,chính sách của đảng và nhà nước ta.
Trong tình hình mới. Tìm hiểu về vấn đề toàn cầu hoá, quá trình hội nhập
của Việt Nam nhằm định hướng cho em về cái nhìn tổng thể về tình hình trong
nước và thế giới, trước mắt là phục vụ cho công việc học tập, sau nữa việc định
hướng công việc phù hợp với nhu cầu tình hình của nước ta khi em ra trường.
chính vì thế em chọn đề tài: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nhiệm vụ và
trọng tâm của nước ta hiện nay”.
Trong bài làm tuy rất cố gắng tìm tài liệu và nghiên cứu trước khi viết như
không thể không có những sai sót và những nội dung phân tích còn thiếu sót, và
sơ sài mong thầy góp ý để em hoàn thiện đề án của mình.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1. Một số vấn đề toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế
1.1. Khái niệm về toàn cầu hoá kinh tế:
Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan ngày càng cuốn hút nhiều

cung tự cấp, ta thấy phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến
giữa các dân tộc”; “ nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho các
phương tiện giao thông trở nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản lôi cuốn đến tất
cả những dân tộc dã man nhất vào trào lưu văn minh. Giá rẻ của những sản
phẩm của giai cấp ấy là trọng pháo bắn thủng tất cả những bức vạn lý trường
thành và buộc những người dã man bài ngoài một cách ngoan cường nhất cũng
phải hàng chục”.
Quá trình quốc tế hoá lực lượng sản xuất đã dẫn tới sự thay đổi chỉnh thể
đời sống xã hội, hình thành nên lịch sử thế giới. Lịch sử thế giới không chỉ đánh
dấu bằng cuộc “cách mạng kỹ thuật”, “cách mạng cộng nghiệp”, mà bao gồm cả
cuộc “cách mạng xã hội” làm biến đổi toàn diện mạo của đời sống xã hội. Trong
điều kiện đó, không chỉ sản xuất tiêu dùng, mà cả sự phát triển của khoa học kỹ
thuật, văn hoá, tinh thần cũng có tính chất quốc tế.Trong khuôn khổ của quan hệ
sản xuất TBCN thì quá trình này thực là quá trình quốc tế hoá tư bản mà động
lực bên trong thôi thúc nó là chiếm đoạt lợi nhuận. Mác và Ăng-ghen chỉ rõ “vì
luôn luôn bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ sản phẩm, giai cấp tư
sản xâm lấn khắp hoàn cầu. Nó phải xâm nhập vào khắp nơi, trụ lại khắp nơi và
thiết lập những mối liên hệ ở khắp nơi.
1.2/ Thế nào là hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
Đại hội lần I của đảng đã khẳng định một chủ trương lớn là: Chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao
hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tư chủ và định hướng xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
bảo vệ môi trường. Nhằmcụ thể hoá chủ trương trên, tháng 11-2001, Bộ chính
trị trung ương Đảng đã ra nghị quyết về hội nhập kinh tế quốc tế.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trên thực tế nước ta đã hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới với việc
tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). Diễn đàn hợp tác kinh tế
châu Á – Thái Bình Dương (APEC). Diễn đàn hợp tác Á – Âu (AFEM), và

trên thế giới
1.3.1: Tính tất yếu hội nhập kinh tế quốc tế cuỉa các nước trên thế giới
Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế tất yếu đã được dự đoán từ lâu về
lôgic, xu hướng này bắtnguồn từ bản chất của hệ thống kinh tế thị trường là hệ
thống “mở” không bị giới hạn bởi các đường biên giới quốc gia và ranh giới dân
tộc, chủng tộc và tôn giáo. Toàn cầu hoá ngày nay vừa là sản phẩm của sự phát
triển lực lượng sản xuất và xã hội hoá sản xuất trên phạm vi toàn cầu, vừa là
quá trình mang tính chất TBCN tức là dược thực hiện và thúc đẩy bởi công ty
xuyên quốc gia TBCn với vai trò chi phối các quốc gia cường quốc TBCn như
Mỹ,Tây Âu, Nhật Bản.
Tuyên ngôn của Đản Cộng Sản Việt (1848) Mac và Ănghen đã dự báo
rằng với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất. Sẽ dẫn tới phân công lao
động xã hội rộng rãi làm mở rộng ra trên phạm vi thế giớ hình thành nền thị
trường thế giới. Thị trường thế giới lại liên kết các dân tộc, các quốc gia trên
toàn cầu. Mac và Ănghen viết: “Đại công nghiệp đã tạo ra thị tường thế giới ”;
“Do bóp nặn thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng
của các nước mang tính chất thế giới ”; “Thay cho tình trạng cô lập trước kia
của các đia phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những quan
hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ bién giữa các dân tộc”; “Nhờ cải thiện mau chóng
công cụ sản xuất và làm cho các phương tiện giao thông trở nên vô cùng tiện lợi,
giai cấp tư sản lôi cuốn đến cả những dân tộc dã man nhất vào trao lưu văn
minh. Giá rẻ của những sản phẩm của giai cấp là trọng pháo bắn thủng tất cả
những bức tường thành và buộc những người bài ngoại một cách ngoan cường
nhất cũng phải hàng phục”.
Như vậy, toàn cầu hoá kinh tế là kết quả tất yếu của quá trình xã hội hoá
sản xuất, của tốc độ phát triển nhanh của lực lượng sản xuất, bắt nguồn từ sự
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thúc đẩy khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại; đó la kết quả tất yếu của sự
phát triển sâu rộng nền kinh tế thị trường trên phạm vi toàn thế giới, sự gia tăng

Bức tranh kinh tế thế giới năm 2002 tiếp tục khó khăn, sẽ tiếp tục suy
thoái, trì trệ, dự báo hồi phục diễn ra sớm nhất vào cuối năm 2002. Khoa hoc và
công nghệ phát triển rất nhanh, tác động đến sản xuất và nhu cầu người tiêu
dùng, đòi hỏi hệ thống kinh tế phải rất năng động mới không bị tụt hậu. Kinh tế
nước ta tham ra vào cuộc đua kinh tế toàn cầu diễn ra với tốc độ ngày càng gay
gắt hơn. Năm 2001, Việt Nam đạt mức tăng trưởng kinh tế là 6,8%cao thứ 2
châu Á. Cùng với sự ghi nhận là một trong nững quốc gia có nền chính trị ổn
định nhất thế giới, thành tựu này cùng khẳng định vị thế mới của Việt Nam trong
quá trình hội nhập khu vực và thế giới.
Từ Đại Hội VI của Đảng (1986) nước ta khẳng định dường lối mới, chủ
trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCn. Đồng thời, thực
hiện đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, mở rộng và phát triển quan hệ
kinh tế đối ngoại. Nghị quyết TWIV (khoá VIII) tháng 12-1997 đề ra nhiệm vụ:
“Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, động viên cao độ
mọi nguồn lực trong nước là chính, đi đôi tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài,
xây dựng một nền kinh tế mở hội nhập khu vực và thế giới ”. Đại hội IX của
Đản năm (2001), một lần nữa khẳng định hướng “Chủ động hội nhập kinh tế
quốc tê và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa hoá nội lực, nâng cao hiệu quả
hợp tác quốc tế đảm bảo độc lập, tụ chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích
dân tộc, bảo vệ môi trường”.
Ngày 27-11-2001 Bộ chính tri ra nghị quyết 07/NQ/TƯ về hội nhập kinh
tế quốc tế. Nghị quyết xác định mục tiêu khái quat của hội nhập kinh tế quốc tế
là: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trường tranh thủ thêm
vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hoá- Hiện đại hoá
đất nước theo định hướng XHCN, thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công
bằng văn minh, trước mắt là thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ nêu ra trong
chiến lược phát triển kinh tế- Xã hội 10 năm 2001-2010 và kế hoạch 5 năm
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Website: Email : Tel : 0918.775.368
tục hải quan, các tiêu chuẩn thuế... Đây là cơ hội mở rộng thị trường và loại bỏ
những thiệt thòi khi chưa gia hâp các tổ chức kinh tế quốc tế.
Có cơ hội chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân trên cơ sở phát huy lơi
thế so sánh trong tham gia phân công sản xuất và hợp tác quốc tế, qua đó mà
thay đổi cơ cấu tổng sản phẩm, cơ cấu mặt hàng, mở rộng khả năng sản xuất của
nền kinh tế, đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
Tranh thủ được vốn, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến của các nước đi trước
để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo cơ sở vật chất-kỹ
thuật cho công cuộc xây dựng CNXH. Đồng thời có cơ hội để chúng ta tham gia
đầu tư ra nước ngoài, phát triển doanh nghiệp.
Với quan điểm và nguyên tắc rõ ràng, Việt Nam chủ động đẩy nhanh quá
trình hội nhập. Đường lối ở tầm vĩ mô về xu thế không thể tránh khỏi đối với sự
phát triển của quá trình tham gia toàn cầu hoá thực tế cố ý nghĩa rất lớn đối với
sự nghiệp đổi mới, hội nập của Việt Nam. Từ nhận thức này trong những năm
qua Việt Nam đã có bước chuyển đổi lớn trong chính sách phát triển kinh tế đối
ngoại. Các chính sách này đều theo hướng tự do hoá tất nhiên ở các tầng lớp
khác nhau phụ thuộc vào thực lực cụ thể cuả mội lĩnh vực.
Tham gia toàn cầu hoá chính là nhằm tranh thủ những điều kiện quốc tế
để khai thác các tiềm năng nước nhà, phục vụ cho việc nâng cao đời sống nhân
dân. Viêt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên phong phú nhưng chưa được
khai thác hiểu quả. Với nguồn tài nguyên phong phú không chỉ tạo điều kiện cho
việc phát triển các nghành công nghiệp chế biến mà còn là sức thu hút đối với
các công ty nước ngoài. Trên cơ sở nguồn tài nguyên sẵn có Việt Nam có thể xác
lập cơ cấu ngành kinh tế với những sản phẩm có tính cạnh tranh đáp ứng nhu
cầu thị trường thế giới.
Trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang quá độ sang nền kinh tế trí tuệ,
khoa học-công nghệ phát triển mạnh trơ thành lực lượng sản xuất trực tiếp, chi
phối mọi lĩnh vực kinh tế-xã hội nhưng không thể thay thế vai trò của nguồn lực
lao động. Hơn nữa, bản thân nguồn lực lao động còn là nhân tố sáng tạo ra công

10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tiềm lực vật chất của Việt Nam còn yếu, nguồn nhân lực nói chung có
trình độ thấp và kỹ năng không cao, điều này khiến cho việc tham gia vào hệ
thống phân công lao động quốc tế gặp nhiều bất cập. Khó khăn này thể hiện ở
chỗ năng lực tiềp nhận công nghệ yếu, khó phát huy lợi thế của nước đi sau
trong việc tiếp nhận các nguồn lực có sẵn từ bên ngoài để nâng cao cơ sở hạ
tầng kỹ thuật; dẫn tới nguy cơ Việt Nam có thể trở thành “Bãi rác ”của công
nghệ lạc hậu.
Sức cạnh tranh, đặc biệt là của các sản phẩm công nghiệp Việt Nam quá
thấp, do đó Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong việc cũng cố và phát triển các
thị trường mới trong điều kiện nhiều nước đang phát triển cùng chọn chiến lược
tăng cường hướng về xuất khẩu nên Việt Nam sẽ bị áp lực cạnh tranh ngay tại
thị trường nội địa, việc mở cửa thị trường nội địa theo AFTA, WTO có thể biến
Việt Nam thành thị trường tiêu thụ sản phẩm nước ngoài nếu các doanh nghiệp
trong nước không bám giữ được.
Do tri thức và trình độ kinh doanh của dân ta còn thấp, cộng với hệ thống
tài chính và ngân hàng còn yếu kém nên dễ bị tổn thương và bị thao túng nếu tự
do hoá thị trường vốn sớm; Từ kinh nghiệm của các nước đang phát triển trong
khu vực cho thấy, nguy cơ lệ thuộc vào các tổ chức tài chính nước ngoài và quốc
tế là một thực tế.
Hệ thống thông tin- Viễn thông toàn cầu hoá với tư cách là một thứ quyền
lực siêu hạng đang phát triển nhanh có thể gây ra tác động tiêu cực trực tiếp đến
an ninh kinh tế, văn hoá xã hội, theo hướng gây rối loạn làm lợi cho các thế lực
bên ngoài. Vấn đề là kiểm soát việc tự do hoá thông tin, truyền thông như thế
nào để không từ bỏ lợi ích tận dụng khai thác nó mà vẫn hạn chế tối đa nguy hại
có thể gây ra.
Trong quan hệ kinh tế đối ngoại chủ yếu là với các quốc gia có tiềm lực
mạnh có thể chứa đựng những yếu tố tiêu cực như muốn kìm hãm thậm chí gây
sức ép buộc Việt Nam phải thay đổi những vấn đề nguyên tắc như định hướng,

sau “cơn bão” khủng hoảng, sự mất giá của đồng nội tệ lại làm tăng sức cạng
tranh của hàng xuất khẩu của các nước này. Trong khi đó, đồng tiền Việt Nam
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vẫn tương đối ổn định tỷ giá so với các đồng ngoại tệ mạnh cũng làm cho sức
cạnh tranh của hàng hoá của ta phải chịu những thách thức gay gắt bất lợi.
Về văn hoá:
Hiện nay, xu thế toàn cầu hoá về kinh tế và quá trình hội nhập kinh tế thế
giới đang diễn ra ở mọi quốc gia. Tình hình đó đặt nền văn hoá của mỗi dân tộc
trước những biến động lớn, phải chăng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,
các nền văn hoá dân tộc sẽ trở nên đồng nhất, mất hết bản sắc của mình?
Nhưng cuộc sống vẫn có quy luật của nó. Hội nhập kinh tế htế giới là một
quá trình liên kết; thường xuyên diễn ra sự đồng hoá và dị hoá. Khả năng đồng
hoá và dị hoá này không chỉ phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế mỗi
nước, mà chủ yếu tuỳ thuộc vào bản lĩnh văn hoá và sức sống của mỗi dân tộc.
Vì vậy văn hoá dân tộc có vai trò cực kỳ quan trọng trong hội nhập kinh tế thế
giới.
Xu thế toàn cầu hoá là nhằm đạt đến sự liên thông về kinh tế. Giữa các
quốc gia, dân tộc đòi hỏi một sự giao thoa lớn hơn giữa các giá trị văn hoá trên
phạm vi toàn cầu. Như một tất yếu quá trình đó đang diễn ra ở nước ta, đặc biệt
là từ khi chúng ta thực hiện công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của
Đảng. Cùng với những thay đổi tích cực tạo nên nhiều thành tựu trên lĩnh vực
kinh tế và diễn biến sôi động trên lĩnh văn hoá. Do tác động của toàn cầu hoá,
hoạt động giáo duc- đào tạo đang đứng trước yêu cầu có tính bức xúc: Phải phát
triển nhanh về quy mopo và chất lượng; cần phải cải tiến về nội dung chương
trình, về phương pháp dạy và học phải có nhiều loại hình trường lớp; cần phải
sử dụng công nghệ hiện đại vào giáo dục. Và một quan điểm mới: Tri thức là tài
sản và là sức mạnh đang dần hình thành trong đồi sống XH, nhất là các đô thị,
nơi tac động của toàn cầu hoá diễn ra nhanh và mạnh.
Về lối sống cũng càng có biến động tích cực, nền văn minh nông nghiệp

Đây là một lợi thế lớn cần thường xuyên quan tâm cũng cố và tăng cường.
Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, nhất quán ổn định. Điều đó có nghĩa
là hhệ thống các văn bản pháp quy phải bao quat điều tiết được mọi khía cạnh
của hoạnh động sản xuất, kinh doanh. Các diiêù khoản pháp luật phải nhất quán,
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
không chồng chéo, mâu thuẫn, thậm chí triệt tiêu lẫn nhau. Chúng phải rõ
ràng,không thể hiểu khác nhau mà vận dụng tuỳ tiện. Các quy định của pháp
luật cần tương đối ổn định; nếu cần thay đổi theo một chiều hướng nhất quán,
các nhà kinh doanh dễ tiên liệu. Trong điều kiện hội nhập nền kinh tế quốc tế, hệ
thống pháp luật về kinh tế còn cần phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế.
Kết cấu hạ tầng(đương xá, phương tiện giao thông, hệ thống điện nước,
viễn thông... ) tương đối hoàn chỉnh với cước phí cạnh tranh so với các nước
khác, chí ít là các nước trong khu vực là một tiêu chuẩn không thể thiếu được
đối với khả năng cạnh tranh đối với các sản phẩm và doanh nghiệp; nếu ngược
lại thì giá thành sẽ bị đổi lên cao, khó bề ganh đua với các nước khác.
Bên cạnh đó một hệ thống ngân hàng hữu hiệu, đáng tin cậy một tỷ giá
hối đoái có sức cạnh tranh; một chính sách tài chính- thuế má hợp lý cũng là
những nhân tố rất quan trọng đối với khả năng cạnh tranh của mỗi quốc gia.
Một hệ thống hành chính vận hành suôn sẽ, một đội ngũ công chức vừa
thành thạo nghiệp vụ, vừa mẫn cán, trong sạch. Bên cạnh cuộc đấu tranh chống
tham nhũng trong đội ngũ công chức, đặt cao yêu cầu tinh thông nghiệp vụ vì
tiếc rằng do nhiều lẽ, trong đó có phương pháp đào tạo và sử dung cán bộ, nước
ta có rất nhiều những công chức thành thạo công việc, kể cả những công việc
bình dị như văn thư hành chính. Điều này gây phiền toá rất nhiều cho các doanh
nghiệp và làm mất đi tính hấp dẫn của môi trường kinh doanh của đất nước.
2/ Tình trạng hội nhập
2.1/ Quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam.
2.1.1/ Bối cảnh quốc tế và khu vực liên quan tới chủ trương hôi nhập
kinh tế quốc tế

lưu.
2. Xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa phát triển ngày càng nhanh; vòng
đàm phán Uruguay kếy thúc Hiệp định Marakét được ký kết,tổ chức thương mại
thế giới (WTO) ra đời từ 01.01,1995 thu hút tới 136và nay là 144 quốc gia và
lãnh thổ,chiếm gần 100%kim ngạng buôn bán quốc tế,theo hướng giảm mạnh
hàng rào thuế quan và phí thuế quan,mở cửa thị trường hàng hóa, đầu tư,dịch vụ
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
… Bên cạnh sự ra đời của WTO,liên khu vực như các tam,tứ giác phát triển ,các
khu vực mậu dich tự do( A FTA,NA FTA),những tổ chức liên kết toàn châu lục
(EU)hoặc giữ các châu lục (APEC).
Các nước lớn, nhỏ đều dành cho phát triển kinh tế, theo đuổi chính sách
kinh tế mở.ngay những nước có tiềm năng và thị trường rộng lớn như Trung
Quốc, Nga, Ấn Độ, Mỹ…và cả một số nước vốn “khép kín’’, theo mô hình tự
cung tự cấp cũng dần mở cửa , từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới và
khu vực.
Mặt khác, công đồng thế giới đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu: suy thoái
môi trường , bùng nổ dân số, nghèo đói, các bệnh tật hiểm nghèo,các vấn đề xã
hội, “xuyên quốc gia” …, không một quốc gia riêng lẻ nào có thế giái quyết đượ
mà cần phải có sự hợp tác đa phương.
Tình hình trên làm nảy sinh và thúc đẩy su thế hội nhập để phát triển.
Trong xu thế hội chung đó, các nước công nghiệp phát triển, trước hết là mỹ, do
có ưu thế về thị trường, nắm được tiến bộ khoa học-công nghệ, có nền kinh tế
phát triển cao, đã ra sức thao túng, chi phối thị trường thế giới, áp đặt điều kiện
với các nướcchậm phát triển hơn, thậm chí dùng những biện pháp thô bạo như
bao vây, cấm vận, trừng phạt , làm thiệt hại lợi ích của các nước đang phát triển
đã từng bước tập hợp nhau lại, đấu tranh chống chính sách cườngquyền áp đặt
của Mỹ để bảo vệ lợi ích của mình vì trật tự kinh tế qúc tế bình đẳng, công
bằng. Điều đó chứng tỏ xu thế hội nhập phản ánh cục diện vừa đẩy mạnh hợp
tác, vừa đấu tranh khốc liệt.

công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế nước ta trên chính
trường và trong trường thế giới.
2. Không những chúng ta đã khắc phục được tình trạng khủng hoảng thị
trường do Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tan giã, gây nên mà còn
mở rộng được thị ttrường xuất nhập khẩu.
Trong quá trình hội nhập chúng ta đã nhanh chóng mở rộng nhập khẩu,
thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tạo thêm được việc làm, tăng thu ngân
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sách. Nếu năm 1990 kim ngạch xuất khẩu 2,404 tỷ USD và xuất khẩu 2,752 tỷ
USD thì năm 2001, kim ngạch xuất khẩu đã đạt 15,1 tỷ USD( Nếu tính cả dịch
vụ thì đạt 17,6 tỷ USD, tăng trung bình trên 20% mỗi năm, có tăng 30% riêng
2001 do ảnh hưởng của tình hình kinh tế khó khăn trên thế giới và khu vực và
giá cả các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu giảm mạnh, nên xuất khẩu chỉ tăng 5%)
3. Thu hút được một nguồn lớn đầu tư trực tiếp của nước ngoài( FDI), bổ
sung cho nguồn vốn trong nước, kết hợp với ngoại lực, tạo được những thành tựu
to lớn, quan trọng.
Tháng 12-1987, chúng ta đã ban hành luật đầu tư trực tiếp nước ngoài. Từ
đó đến nay đã thu hút được 42 tỷ USD vốn đầu tư của nước ngoài, với trên
3.000 dự án, đã thực hiện được 21 tỷ USD trong số đó. Nguồn đầu tư trực tiếp
của nước ngoài dữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta: Gần 30% vốn
đầu tư vốn xã hội, 35% giá trị sản xuất công nghiệp, 20% xuất khẩu, giải quyết
việc làm cho khoảng 40 vạn lao động trực tiếp và hàng chuc van lao động gián
tiếp.
4. Tranh thủ được nguồn viện trợ phát triển chính thức(ODA) ngày càng
lớn đồng thời giảm đáng kể nợ nước ngoài.
Từ năm 1993, hàng năm đều có hội nghị các nhà tài trợ cho nước ngoài
gồm một số nước và một số định chế tài chính-Tiền tệ quốc tế. Cho đến nay các
nhà tài chợ đã cam kết dành cho nươc ta gần 20 tỷ USD chủ yếu là cho vay yêu
đãi với lãi suất từ 0,75%-2,75% tùy theo mỗi đối tác; một phần là viện chợ

được đổi mới cho phù hợp với yêu cầu hội nhập.
Công tác hội nhập kinh tế mới được triển khai chủ yếu ở các cơ quan
trung ương và một số thành phố lớn, sự tham gia của các ngành, các cấp, của ác
doanh nghiệp còn yếu và chưa đồng bộ. vì vậy, chưa tạo được sức mạnh tổng
hợp cần thiết bảo đảm cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đầy hiệu quả cao.
Chưa hình thành được một kế hoạch tổng thể và dài hạn về hội nhập kinh
tế quốc tế, một lộ trình hợp lý thực hiện các cam kết quốc tế.
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nhiều doanh nghiệp còn ít hiểu biết về thị trường thế giới và luật pháp
quốc tế, năng lực quản lý kém, trình độ công nghệ còn lạc hậu, hiệu quả sản xuất
kinh doanh và khả năng cạnh tranh còn yếu, tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự bao
cấp và bảo hộ của Nhà nước còn nặng.
Một trường kinh doanh ở nước ta tuy đã được cải thiện đáng kể song chưa
thật thông thoáng: hệ thống pháp luật còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa rõ ràng và
nhất quán; kết cấu hạ tầng phát triển còn chậm; trong bộ máy hành chính còn
nhiều biểu hiện của bệnh quan liêu và tệ tham nhũng, trình độ nghiệp vụ yếu
kém, nguồn nhân lực được đào tạo chưa đến nơi đến chốn.
Đội ngủ cán bộ làm công tác kinh tế đối ngoại còn thiếu và yếu; tổ chức
chỉ đạo chưa sát và kịp thời; các cấp, các ngành chưa quan tâm chỉ đạo và tạo
điều kiện cho các doanh nghiệpchuẩn bị tham gia hội nhập. Đây là nguyên nhân
sâu xa của những yếu kém, khuyết điểm trong hợp tác với nước ngoài.
Nội Dung Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế.
Những Quan Điểm Chỉ Đạo
1.Quán triệt chủ trương được xác định tại Đại hội IX là “chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao
hiệu quả hợp tac quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc,an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc,
bảo vệ môi trường”.
2.Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp toàn dân; trong quá trình hội nhập

2.Nướcta nhập cuộc đua tranh kinh tế khi trình độ phát triển kinh tế và
công nghệ còn thấp, vì vậy .phải tiến hành hội nhập từng bước ,dần dần mở cửa
thì trường với lộ trình hợp lí. Lộ trình có được xác định trên cơ sở tính toán cẩn
trọng căn cứ vào các yêu cầu và cam kết của các tổ chức khu vực và quốc tế mà
chúng tagia nhập để được thỏa thuận qua đàm phán song phương và đa phương.
3. Một lộ trình “quá nóng” về mức độ và thời hạn mở cửa thị trường
vượt quá khả năng chịu đựng của nền kinh tế ,sẽ dẫn tới thua thiệt, đỏ vỡ hàng
loạt doanh nghiệp,vượt khỏi tầm kiẻm soát của Nhà nước ,kéo thoe nhiều hậu
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quả khó lường.Vì vậy , điều cực kỳ quanỷtọng là cần xem xèt ,tính toán nghiêm
túc điều kiện ,khả năng cụ thể của từng ngành hàng ,từng loài doanh nghiệp về
các mặt quản lý ,công nghệ ,trình độ kinh doanh,có tính đến những quy dịnh
chung…đẻ hoạch định lộ trình hội nhậphợp lý.
4. Tuy nhiên , điều đó hoàn toàn không có nghĩa là “lộ trình càng dài
càng tốt”,bởi vì kéo dài lồ trình hội nhập sẽ đi liền vối duy trì quá lâu chính sách
bảo hộ ,bao cấp của nhà nước ,gây tâm lí trì trệ, ỷ lại không dốc sức cải tiến
quản lý vàcông nghệ , kéo dài tình trạng kém hiệu quả,yếu sức cạnh tranh của
nền kinh tế,nguy cơ tụt hậu xa hơn sẽ càng lớn trước sự phát triểnnhanh chóng
của các nền kinh tếkhác trong đócó những lĩnh vừc phát triểnhết sức mạnh mẽ
và nhanh chóng do có sự đột phá về công nghệ
5. Thực tế của tất cả cá nước,kể cả cảc nước phát triển,cho thấy:trong
lĩnh vực kinh tế,hội nhập không phải chỉ toàn “ được” mà không có “thiệt”.Vì
vậy,hợp tác luôn đi liền đấu tranh,hội nhập đi liền với cạnh tranh để giành cái “
được” tối đa và hạn chế cái “thiệt” đến mức tối thiểu. Đánh giá “được” hay
“thiệt”cũng cần có cái nhìn toàn diệnđối với toàn bộ nền kinh tế,không chỉ hạn
chế trong đánh giá cái “được” của từng ngành,từng lĩnh vực riêng lẻ. Điều quan
trọng là,về tổng thể thì cái “đườc” phải nhiều hơn cái “ thua thiệt”.
6. Xác định lộ trình hội nhập quốc tế không chỉ là xác định thồi gian mở
cửa của thị trường trong nước cho hàng hóa ,dịch vụ , và đầu tư nước ngoài

mặt hàng của Việt Namđã có mặt trên thị trường thế giới như gạo, dệt may, thủy
sản… Từ năm 1987, khi lần đầu tiên chúng ta ban hành Luật đầu tư nước ngoài,
đến nay đã có hơn 40 quốc gia và lãnh thổ đầu tưvào nước ta. Tính đến hết tháng
12/2001 có 3.346 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 41.8 tỷ
USD, trong đó vốn thực hiện chiếm khoảng 38%. Cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp
ngày càng phù hợp với yều cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Vốn FDI thu hút vào
lĩnh vực sản xuất vật chất, kết cấu hạ tầng kinh tế đều tăng, năm2001 đạt 85%
tổng số vốn đầu tư, đầu tư của các nước ngoài vào các quốc gia phát triển (EU,
Bắc Mỹ , Nhật Bản…) đều tăng và chiếm 44%tổng số vốn đăng ký tại Việt
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nam, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra 34% giá trị sản xuất
toàn ngành công nghiệp, khoảng 23%kim ngạch xuất nhập khẩu (chưa kể dầu
khí ) và đóng góp trên 12%GDP của cả nước, thuhút hơn 30 vạn lao động trực
tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho
Việt Nam tiếp tục tăng, xóa đói giảm nghèo, y tế, giáo dục đô thị… Đến tháng
12/2001, vốn ODA được các nhà tài trợ cam kết cho Việt Nam vay là15,04 tỷ
USD (bình quân hàng năm là 1,5USD).Văn kiện ĐH Đảng IX đã đánh giá hoạt
động kinh tế đối ngoại trong thời gian qua là:Hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục
phát triển khá, cơ cấu hàng xuất khẩu đã có sự thay đổi mọi bước, khối lượng
các mặt hàng chủ lực đều tăng khá., thị trường xuất nhập khẩu dược củng cố và
mở rộng thêm. Cơ cấu thu hút vốn đầ tư trực tiếp nước ngoài ngày càng phù hợp
với nhu cầu chuyển dịch cơcấu kinh tế của nước ta,vốn hỗ trợ phát triển chính
thức (ODA) tiếp tục tăng, góp phần quan trọng phát triển kết cấu hạ tầng.
Hội nhập không chỉ đòi hỏi Việt Nam phải hoạch định các chính sách đối
ngoại đúng đắn mà còn phải ban hành luật pháp cho phù hợp với thông lệ quốc
tế, xây dựng các lưc lượng, tổ chức, doanh nghiệp, cán bộ có khả năng tham gia
hội nhập kinh tế quốc tế. Văn kiện Đại hội IXchỉ rõ “Hội nhập kinh tế quốc tế có
hiệu quả tạo điều kiện cần thiết để xây dựng kinh tế độc lập tự chủ… Chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế, tranh thủ mọi thời cơđể phát triển trên nguyên tắc giữ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status