Nghiên cứu về vấn đề quản lý giá thuốc ở nước ta giai đoạn hiện nay - Pdf 25

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU.....................................................................................................2
CHƯƠNG I: VAI TRÒ, TẦM QUAN TRỌNG CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ
GIÁ THUỐC Ở NƯỚC TA GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.....................................3
I. Vai trò, tầm quan trọng của vấn đề ...................................................................3
II. Thực hiện chiến lược ngành dược ở nước ta......................................................4
III. Chống độc quyền, phá giá thuốc chữa bệnh....................................................7
IV. Tham khảo một số mô hình quản lý giá thuốc,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,.7
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ GIÁ THUỐC Ở
NƯỚC TA GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY................................................................12
I. Thực trạng quản lý thuốc trong bệnh viện........................................................12
II. Giá thuốc nội giảm mạnh. thuốc ngoại tăng....................................................13
III. Những đơn thuốc vì lợi nhuận của lương y....................................................14
IV. Sính thuốc ngoại.............................................................................................17
V. Công nghiệp dược phẩm đang cần “hồi sinh”................................................17
VI. Giá thuốc tăng: cả bệnh viện và người bệnh đều lao đao..............................18
VII. Tác động của Thông tư 08 Liên Bộ Y tế và Tài chính về niêm yết giá
thuốc....................................................................................................................19
VIII. Giá thuốc: Ai niêm yết, ai kiểm tra?............................................................21
IX. Những biến động trên thị trường Đông Dược.................................................22
X. Trình dược viên vào bệnh viện.........................................................................23
XI. Giá thuốc Tây tăng ảo vì phải niêm yết..........................................................25
CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ GIÁ
THUỐC Ở NƯỚC
TA........................................................................................26
I.Để quản lý tốt giá thuốc cần quan tâm đến các vấn đề sau...............................26
II. Thị trường sẽ tự điều chỉnh giá thuốc..............................................................27
III.Không thả nổi giá thuốc..................................................................................28
IV. Quy định giá bán lẻ thuốc: Có lợi cho người bệnh?.......................................29
KẾT LUẬN.........................................................................................................30

VAI TRÒ, TẦM QUAN TRỌNG CỦA VẤN ĐỀ
QUẢN LÝ GIÁ THUỐC Ở NƯỚC TA
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
I. Vai trò, tầm quan trọng của vấn đề
Ngành y tế Quảng Trị đã tổ chức một hội thảo bàn về việc quản lý thuốc
và tiền thuốc trong bệnh viện. Ở hội thảo này, các đại biểu phát hiện ra những
bất cập tồn tại; thuốc dùng trong bệnh viện nhiều (chiếm khoảng 60% tổng kinh
phí chung) phức tạp về chủng loại (khoảng 300 ở tuyến huyện và 800 ở tuyến
tỉnh), giá cả luôn luôn biến động. Quản lý thuốc và tiền thuốc vì thế trở thành một
vấn đề quản lý chuyên môn và tài chính lớn. Mặt tích cực hay tiêu cực trên lĩnh
vực này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng điều trị. Tuy nhiên đến nay chưa có một
mô hình quản lý thống nhất. Vì thế, tổ chức và biên chế khoa dược (khoa làm
chính việc này) ở các bệnh viện không giống nhau (tính trên số giường bệnh hay
trên khối lượng tiền thuốc cụ thể). Mối quan hệ giữa khoa dược và phòng kế toán
tài chính chưa được phân định rõ. Khoa dược làm nhiệm vụ cung ứng quản lý
hàng và phòng tài chính kế toán quản lý tiền và đúng ra phải là người giám sát
các hoạt động hàng hoá ở khoa dược. Thế nhưng trong đa số cơ sở hiện nay, mọi
việc quản lý hàng hoá và tiền tệ do khoa dược làm, phòng kế toán tài chính đôi
khi chỉ ký vào bảng cân đối mà không thực hiện đầy đủ chức năng giám sát. Với
cách làm này, khoa dược chỉ lao vào việc quản lý hàng hoá, tiền long mà không
còn thời gian làm được đầy đủ các chức năng chuyên môn (kiểm tra việc thực
hiện quy chế và tham vấn việc dùng thuốc).
Vấn đề quản lý thuốc và tiền thuốc tại bệnh viện nếu không được đặt đúng
tầm, cách quản lý thuốc và tiền thuốc nếu thiếu mô hình thống nhất, ranh giới
giữa việc quản lý, giám sát hàng và tiền nếu không được xác định thật rõ thì sẽ
đẻ ra nhiêu khê, chồng chéo, vất vả, tốn kém giấy tờ, công sức cho cả bệnh viện
và người bệnh. Điều này cần được quan tâm giải quyết.
Vấn đề phục vụ chăm lo sức khoẻ cho xã hội
Nhiều tháng nay, các phương tiện thông tin đại chúng đồng loạt lên án sự
biến động theo chiều hướng xấu của thị trường tân dược. Đây là ”cơn sốt” giá

thành một thực tế nhức nhối khiến dư luận hết sức phẫn lộ và không ngớt lên án.
Trước sự yếu kém của năng lực quản lý và sự xuống cấp nhức nhối của
đạo đức y dược, hy vọng những biện pháp mạnh của Chính phủ sớm được ban
hành để nhanh chóng tạo sự bình ổn cho thị trường tân dược.
Quản lý giá thuốc trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là
một quá trình phức tạp vì nó vừa phải bảo đảm quyền lợi cho người tiêu dùng
đồng thời không làm triệt tiêu quyền chủ động và động lực phát triển của doanh
nghiệp trong cơ chế thị trường. Các mức quy định thặng số phải thể hiện được đủ
bù đắp các yếu tố của chi phí sản xuất kinh doanh và có lợi nhuận hợp lý để
doanh nghiệp có thể tái đầu tư mở rộng sản xuất. Chỉ khi nào đáp ứng được yêu
cầu nói trên các quy định này mới thực sự đi vào cuộc sống và được các nhà sản
xuất kinh doanh tự giác chấp hành.
II. Thực hiện chiến lược ngành dược nước ta
Ngày 15-8-2002, Chính Phủ đã phê duyệt “ Chiến lược phát triển ngành
dược giai đoạn đến 2010”. Đó là thuận lợi lớn và cơ bản để ngành dược có điều
kiện phát triển toàn diện theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao sức
4
cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước để hội nhập với khu vực và thế giới,
đảm bảo cung ứng thuốc có chất lượng tốt, phục vụ chăm sóc sức khoẻ cho nhân
dân.
Thực trạng:
Hiện nay số lượng các doanh nghiệp tuy nhiều song qui mô không lớn, lại phân
tán, manh mún. Tổng số các doanh nghiệp sản xuất tân dược trong nước tính đến
năm 2002 là 577 doanh nghiệp. Trong đó: doanh nghiệp nhà nước: 82; công ty
cổ phần: 45; công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH): 450.
Sức cạnh tranh của thuốc sản xuất trong nước còn yếu. Thuốc có cùng hoạt chất,
hàm lượng, nồng độ, kể cả quy cách đóng gói, nếu mang nhãn thuốc nước ngoài
thì giá bán gấp nhiều lần thuốc nội địa. Một trong những khâu yếu nhất hiện nay
là các doanh nghiệp sản xuất trong nước chưa đánh giá được sinh khả dụng của
thuốc.

thế mạnh của toàn ngành và từng địa phương. Ngành kinh tế kỹ thuật dược tập
chung vào một lĩnh vực chủ yếu như ưu tiên phát triển công nghiệp bào chế, đầu
tư cho nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới, nâng cao chất lượng, nâng cao
sức cạnh tranh và tiến tới thay thế hàng nhập khẩu, tăng tỷ trọng của thuốc sản
xuất trong nước, từng bước phân công, phân cấp trong sản xuất. Tuy nhiên cần
phải xác định rõ cần bao nhiêu nhà máy sản xuất thuốc viên, thuốc tiêm ống,
dịch truyền trên cơ sở cung, cầu. Xác định các cây, con dược liệu, nhu cầu sử
dụng để quy hoạch và tập trung đầu tư một cách đồng bộ, kể cả việc tạo điều
kiện hỗ trợ của cơ quan nhà nước về vật tư, tiền vốn và chính sách ưu đãi.
Việc xây dựng công nghiệp sản xuất nguyên liệu trước hết là kháng sinh,
hoá dược cũng còn rất nhiều ý kiến khác nhau, nên có sự thống nhất sớm.
Xây dựng công nghiệp phân phối theo tiêu chuẩn thực hành tốt phân phối thuốc
(Good Distribution Practice: GDP) là rất cần thiết theo hướng hiện đại hoá mạng
lưới lưu thông từ người cung ứng đến người tiêu dùng đảm bảo nhanh chóng,
thuận tiện, tiết kiệm và hiệu quả. Nó vừa là trách nhiệm của người quản lý vừa là
lợi ích của người tiêu dùng. Hiện nay một số doanh nghiệp kinh doanh mới làm
được công đoạn đầu của đầu của GDP là xây dựng kho đạt tiêu chuẩn DSP (tiêu
chuẩn thực hành tốt tồn trữ thuốc).
Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, nghiên cứu đánh giá chất lượng
thuốc, nghiên cứu đánh giá các sản phẩm mới. Ở nhiều nước, ngoài các cơ sở
chuyên nghiên cứu như viện, trường thì nhiều công ty, nhất là các công ty lớn đa
quốc gia hoặc xuyên quốc gia đều có những cơ sở nghiên cứu phát triển lớn. Đây
là vấn đề sống còn của các doanh nghiệp vừa đáp ứng được nhu cầu trước mắt
vừa đảm bảo cho sự tồn tại phát triển lâu dài của doanh nghiệp.
Đối với chúng ta hiện nay nghiên cứu các sản phẩm mới còn bất cập về
nhiều mặt: thiếu đội ngũ cán bộ có năng lực, thiếu tiền vốn, phương tiện, cơ sở
vật chất kỹ thuật và thiếu cả đường lối chiến lược và phương án sản phẩm. Khi
các luật về sở hữu trí tuệ được thực hiện một cách nghiêm túc thì buộc các cơ sở
nghiên cứu, phát triển không còn con đường nào khác là phải tập trung cho
nghiên cứu sản phẩm mới. Tuỳ từng điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp mà

việc bán phá giá chẳng khác gì hàng ngày uống thuốc độc để... sống cầm hơi.
Trái lại, một số công ty dược phẩm nước ngoài hoạt động tại Việt Nam , đặc biệt
là các công ty đa quốc gia nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ đối với các loại thuốc
mới phát minh, các thuốc chuyên khoa, biệt dược đang có xu hướng liên kết độc
quyền. Độc quyền về nhãn hiệu và giá cả loại thuốc mới đã làm giá thuốc vượt
gấp nhiều lần giá trị sử dụng của thuốc, gây thiệt hại cho ngân sách, cho các cơ
sở y tế và cho cuộc sống của nhân dân đặc biệt là người bệnh có thu nhập thấp.
Mặt khác siêu lợi nhuận do độc quyền giá thuốc đưa lại đã làm cho các công ty
đa quốc gia ngày càng có nhiều vũ khí cạnh tranh thông qua quảng cáo, khuyến
mại, chia hoa hồng (từ 30-50%) cho đội ngũ thầy thuốc và tỷ lệ tiền thưởng cao
cho trình dược viên. Lợi nhuận siêu ngạch của các công ty dược phẩm đa quốc
gia cũng đã biến một bộ phận thầy thuốc bị công ty nước ngoài cầm tay kê đơn
để đổi lại một số quyền lợi vật chất. Một thực tế nữa là các cơ sở tư nhân trở
thành người bán thuốc đầy quyền lực làm cho bệnh nhân phải lệ thuộc vào chủng
loại, giá cả các thuốc do cơ sở hành nghề khám chữa bệnh bán trực tiếp cho bệnh
nhân.
IV. Tham khảo một số mô hình quản lý thuốc
7
Trc tỡnh hỡnh bin ng giỏ thuc ca nc ta, cỏc c quan qun lý nh
nc ang nghiờn cu ban hnh cỏc vn bn phỏp quy v qun lý giỏ thuc
nc ta nhm thc hin Phỏp lnh v giỏ do Quc hi ban hnh v cú hiu lc t
1-7-2002. gúp phn tỡm hiu cỏc nc trờn th gii x lý vn giỏ thuc nh
th no, chỳng ta s tham kho mt s mụ hỡnh qun lý giỏ thuc cỏc nc chõu
M v mt s nc SNG (Nga, Belarus, Ucraina) v ụng u (Rumani, Bungri).
Qun lý giỏ thuc Chõu M
cỏc nc Chõu M, t gia thp k 90, cú 4 mụ hỡnh qun lý giỏ thuc,
chia thnh cỏc loi sau õy:
- Kim soỏt hon ton: Ecuador, Honduras, Panama, Paraguay.
- T do hon ton: Argentina, Bolivia, Chile, Cng ho Dominican, El Salvador,
Guatemala, Peru, Hoa K.

đầu cơ và đảm bảo việc cung ứng diễn ra bình thờng. Tuy nhiên, Honduras cho
rằng cơ chế này sẽ làm giá thuốc có thể cao lên do các nhà cung cấp ghi tăng giá
8
trên hoá đơn. Mặt khác nguồn thuốc cũng rất khác nhau: thuốc sản xuất trong nớc,
trong khu vực (giá rẻ), tại châu Âu (đắt hơn) và thuốc buôn lậu... Mặc dù vậy,
Honduras không ban hành chính sách để kìm hãm giá.
* Các mô hình trung gian:
Châu Mỹ có 7 nớc áp dụng các mô hình trung gian (hỗn hợp) kết hợp giữa
cơ chế tự do và có kiểm soát. Nhìn chung các nớc này xây dựng những quy định
quản lý giá riêng phù hợp với điều kiện cụ thể của môĩ nớc. (Xem bảng 2).
Bảng 2
Mụ hỡnh trung gian l s kt hp hai kiu qun lý:
C quan qun lý giỏ Thng s ca nh sn xut Thng s ca hiu
thuc
Brazil
Canada
Columbia (B phỏt trin kinh
t )
Costa Rita (B kinh t )
Mexico
Uruguay
Vờnờzuờla
Chit khu (discount) ti a cho nh bỏn l:
10,5%
Chớnh quyn a phng quyt nh: kim
soỏt giỏ thuc ht hn bo h sỏng ch.
Chớnh sỏch t do cho 80% cỏc loi thuc.
Thuc cho h gia ỡnh: t do cú kim soỏt.
Kim soỏt thng s
Nhp khu: CIF+30% (CIF +25% cho thuc

dn n tng giỏ cao hn so vi khi ỏp dng cỏc phng thc qun lý hn hp.
Cng cú th thy cho cựng loi thuc sn xut trong nc v nhp khu cú th cú
giỏ c rt khỏc bit.
Nc Thng s ca nh sn xut Thng s ca hiu thuc
Argentina
Bolivia
Chile
Dominican
El Salvador
Guatamela
Peru
Hoa K
Thng s cho bỏn buụn: +60%
Cho nh sn xut hoc nhp khu:
+30%
Dc phm trong nc: +35%
Th trng quyt nh
Thng s cho nhp khu: +40%
Th trng quyt nh
Th trng quyt nh
Nh nhp khu v bỏn l t quyt
nh
Th trng quyt nh
+25%
Th trng quyt nh
+30%
Th trng quyt nh
B y t nh giỏ thuc ti bnh vin
& trm y t
Th trng quyt nh

+20%
+40%
Th trng quy nh
+19%
M phm: +30%
Chia lm 4 nhúm theo giỏ tr mt
hng
Đối với thuốc nhập khẩu giá bán buôn đợc tính bằng: giá CIF + 20%
Một số nớc đặc biệt là Bungari, thặng số khâu bán lẻ đợc quy định 4 loại phụ thuộc
vào giá cụ thể của dợc phẩm theo nguyên tắc những mặt hàng giá cao sẽ có thặng
số thấp nhằm bảo đảm lợi nhuận ở mức độ hợp lý.
11
Chương II
THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ
GIÁ THUỐC Ở NƯỚC TA GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
I. Thực trạng quản lý thuốc trong bệnh viện
Có khoa dược ít người, làm nhiều việc chuyên môn, nhưng thư thái. Có khoa
dược đông người, hầu như chỉ lo việc tính toán đã tất bật. Có sự trái ngược này là
do cách quản lý thuốc và tiền thuốc khác nhau ở mỗi đơn vị .
Trung tâm y tế H. chỉ có 50 giường bệnh. Mỗi khoa, mỗi ngày chỉ có ít
nhất 4 phiếu lĩnh chính, 4 phiếu lĩnh phụ cho từng đối tượng (viện phí, miễn viện
phí, bảo hiểm y tế, trẻ em dưới 6 tuổi). Nếu có dùng các loại thuốc độc, thuốc
gây nghiện còn phải tách ra các phiếu lĩnh riêng theo đúng quy chế thì số phiếu
lĩnh còn nhiều hơn nữa. Như thế mỗi khoa, mỗi ngày có 10-12 phiếu lĩnh. Phiếu
lĩnh thường có nhiều dòng, in cỡ lớn, đóng thành sổ nặng. Tờ phiếu lĩnh phụ chỉ
có một hai khoản thuốc, với số lượng rất nhỏ. Các phiếu này khi về khoa dược,
lại được thống kê, tính thành tiền, tách riêng cho từng loại, sau đó cuối mỗi
tháng, quý, năm, lại cộng từng loại đã tách riêng ấy thành tổng xuất để lên bảng
cân đối. Nhìn vào bảng cân đối có thể biết rõ một loại thuốc có bao nhiêu viên,
bao nhiêu ống dùng cho mỗi loại đối tượng, rất công phu, chi tiết, đẹp mắt. Song

sức, giấy tờ mà thiết thực.
II. Giá thuốc nội giảm mạnh, thuốc ngoại tăng
Theo thông tin từ các công ty xuất nhập khẩu y tế, giá một số nguyên liệu
sản xuất tân dược đã giảm mạnh. Chẳng hạn như vitamin C, từ 3-4 USD/kg (giữa
năm 2002), tăng vọt lên 14-15 USD/kg (tháng2-3.2003) nhưng đến thời điểm
này đang ở mức 4,5-5 USD/kg. Các vitamin khác cũng giảm đáng kể: vitamin
B1 từ 17-18 USD/kg xuống còn 14 USD/kg; B6 từ 19,5 USD/kg xuống còn 11-
12 USD/kg. Một số mặt hàng ở nhóm kháng sinh có mức giảm trung bình 10-
30%. Ampicyclin từ 33-35 USD/kg xuống 28-29 USD/kg; Tetracyclin từ 12,5
USD/kg xuống 11,3 USD/kg... Nguyên liệu thuộc nhóm giảm đau, hạ nhiệt cũng
giảm như Paracetamol từ 2,4 USD/kg xuống 1,8-1,9 USD/kg.
Các công ty bán buôn hiện đang giảm cầu, chỉ lo bán hết số hàng đã nhập,
đồng thời vừa mua cầm chừng vừa “ nghe ngóng thị trường”. Còn phía sản xuất
không chỉ khó khăn do hàng tiêu thụ chậm mà còn lỗ vốn. Một giám đốc cho biết
chỉ riêng với mặt hàng vitamin , công ty của ông có thể đã lỗ 40-50 triệu đồng.
Sau cơn sốt giá, việc tiêu thụ đã chững lại. Các doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn
DMP còn gặp khó khăn hơn do chi phí sản xuất quá cao. Tại một số đơn vị, công
nhân chỉ làm việc 4 ngày/tuần. Riêng thuốc nội, các doanh nghiệp cho biết tại
thời điểm giá nguyên liệu tăng đột biến, các chi phí sản xuất: điện, xăng dầu, bao
bì... cũng tăng. Giá thuốc nội cũng tăng nhưng không theo kịp bởi thường trong
tình trạng cạnh tranh giá, chỉ cần nhích một chút là không bán được hàng. Theo
13

Trích đoạn Thị trường sẽ tự điều chỉnh giỏ thuốc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status