Thực trạng đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Ấn Độ và bài học cho doanh nghiệp Việt Nam - Pdf 25

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ KHÁI QUÁT
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA ẤN ĐỘ.................................................8
1.1. Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài.................................................8
1.1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài........................................................8
1.1.2. Quy định chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài........................................14
1.1.3. Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài.......................................................17
1.1.4. Các lĩnh vực thường được chọn trong đầu tư trực tiếp nước ngoài..........19
1.1.5. Lợi ích và chi phí của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp ra nước ngoài....20
1.2. Tổng quan về nền kinh tế Ấn Độ và hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
của doanh nghiệp Ấn Độ......................................................................................22
1.2.1. Giới thiệu về nền kinh tế Ấn Độ..................................................................22
1.2.2.Tổng quan về hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp
Ấn Độ...................................................................................................................23
1.3. Nghiên cứu tình huống của một số doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài......34
1.3.1. Các doanh nghiệp thất bại trong hoạt động đầu tư ra nước ngoài...........34
1.3.2. Các doanh nghiệp thành công trong hoạt động đầu tư ra nước ngoài......35
2.1. Chính sách khuyến khích đầu tư ra nước ngoài của Ấn Độ.............................1
2.1.1. Giai đoạn trước năm 1992...........................................................................1
2.1.2. Giai đoạn sau năm 1992..............................................................................2
2.2. Chiến lược đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Ấn Độ............................4
2.3. Thực trạng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Ấn Độ.............5
2.3.1. Phân tích hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Ấn
Độ theo khu vực địa lý...........................................................................................5
2.3.2. Phân tích hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Ấn
Độ theo lĩnh vực đầu tư.......................................................................................17
2.3.3. Phân tích hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Ấn Độ theo
hình thức đầu tư..................................................................................................18
2.3.4. Các lợi ích mà doanh nghiệp Ấn Độ có được khi tiến hành đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài.......................................................................................................25

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
UNCTAD
United Nations Conference on
Trade and Development
Diễn đàn Thương mại và Phát triển
Liên Hợp Quốc
M&A Merge and Acquisition Mua lại và sát nhập
RIS Research and Information Services Dịch vụ nghiên cứu và thông tin
IJV Indian Joint Ventures
Liên doanh của các doanh nghiệp Ấn
Độ
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Thứ tự Nội dung Trang
A. Bảng
Bảng 1 OFDI của Ấn Độ trong giai đoạn 1975-2000 theo khu vực đầu tư
và lĩnh vực đầu tư
25
Bảng 2 Thành phần vốn OFDI của Ấn Độ theo năm tài chính (%) 28
Bảng 3 OFDI của Ấn Độ trong cái nhìn toàn cầu 30
Bảng 4 Sự phân bổ theo khu vực của dòng vốn OFDI của Ấn Độ vào các
nước đang phát triển
42
Bảng 5 Mười bang của Mỹ nhận được đầu tư từ Ấn Độ nhiều nhất trong
những năm 2004-2009
50
Bảng 6 Mười bang của Mỹ nhận được đầu tư từ Ấn Độ nhiều nhất theo
hình thức mua lại và sát nhập trong giai đoạn 2004-2009
52
Bảng 7 OFDI của Ấn Độ trong giai đoạn 1975-2000 theo lĩnh vực đầu tư 53
Bảng 8 IJV ra nước ngoài tính tới năm 1986 theo khu vực địa lý 55

nghiệp Ấn Độ trong giai đoạn 2000-2007 theo giá trị (triệu USD)
58
Biểu đồ 7 Hoạt động mua lại và sát nhập của Ấn Độ ở nước ngoài theo khu
vực địa lý (số vụ)
59
Biểu đồ 8 Hoạt động mua lại và sát nhập ở nước ngoài của các doanh
nghiệp Ấn Độ theo lĩnh vực đầu tư
60
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Quá trình toàn cầu hóa đã và đang diễn ra một cách hết sức mạnh mẽ. Một trong
những xu thế tất yếu trong quá trình đó là đầu tư nước ngoài. Đầu tư nước ngoài
mang lại lợi ích cho cả nước chủ đầu tư và nước nhận đầu tư. Để thực hiện đầu tư ra
nước ngoài, nước chủ đầu tư cần phải có đủ tiềm lực về tài chính cũng như công
nghệ. Vì vậy, ở giai đoạn đầu của quá trình toàn cầu hóa, nước chủ đầu tư thông
thường là những nước phát triển, còn nước nhận đầu tư đa phần là nước đang phát
triển bởi những nước này có lợi thế chi phí nhân công và giá nguyên vật liệu rẻ. Tuy
nhiên, trong những năm gần đây, dường như xu hướng đó không còn tồn tại bởi lẽ
các doanh nghiệp của các nước đang phát triển trở nên năng động trong việc tìm kiếm
thị trường nước ngoài và những lợi thế mà họ không thể t́m thấy ở trong nước. Vì lý
do đó mà các dòng vốn đầu tư trực tiếp từ các nước đang phát triển ra bên ngoài ngày
một tăng mạnh và đóng góp một phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế của các
nước này, trong đó Ấn Độ là một trong những ví dụ điển hình. Ấn Độ ban đầu cũng
là nước thu hút đầu tư nước ngoài mạnh mẽ, một giai đoạn sau dòng vốn đầu tư chảy
ra nước ngoài của nước này tăng lên một cách đáng kinh ngạc.
Việt Nam cũng được hưởng lợi rất nhiều từ việc toàn cầu hóa. Trong đó, dòng
vốn FDI chảy vào Việt Nam ngày một tăng. Tuy nhiên, theo xu thế chung của thế
giới, doanh nghiệp Việt nam cũng bắt đầu tìm đường để đầu tư ra nước ngoài. Vấn đề
đặt ra là làm sao để doanh nghiệp Việt Nam có thể đầu tư ra nước ngoài một cách
hiệu quả nhất.

các châu lục như châu Á, châu Phi, châu Mỹ, châu Âu, châu Đại Dương bằng cách
tách thành hai khu vực: Khu vực các nước đang phát triển và khu vực các nước phát
triển.
4. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận có sử dụng phương pháp nghiên cứu dựa trên phép duy vật biện
chứng lịch sử của Chủ nghĩa Mác- Lênin. Kết hợp cơ sở lý luận với việc sử dụng
thông tin thứ cấp và các phương pháp so sánh và thống kê để làm sáng tỏ vấn đề cần
nghiên cứu.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài lời mở đầu và kết luận, khóa luận có kết cấu 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài và khái quát về đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài của Ấn Độ
Chương 2: Phân tích hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Ấn Độ
Chương 3: Bài học cho doanh nghiệp Việt Nam trong việc thực hiện hoạt động
đầu tư ra nước ngoài
Do sự hạn chế về kiến thức cũng như thời gian nên nội dung của khóa luận
không thể tránh khỏi những thiếu sót, người viết mong nhận được sự đóng góp ý kiến
của thầy cô và các bạn để bài khóa luận được hoàn thiện hơn. Người viết xin gửi lời
cảm ơn chân thành tới Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Minh- Giáo viên hướng dẫn đã chỉ
bảo tận tình trong suốt thời gian làm khóa luận, giúp người viết hoàn thành bài khóa
luận này một cách tốt nhất.
Xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ
KHÁI QUÁT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA ẤN ĐỘ
1.1. Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
a. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
FDI xuất hiện khi một nhà đầu tư ở một nước mua tài sản có ở một nước khác
với ý định quản lý nó. Theo các chuẩn mực của Quĩ tiền tệ thế giới IMF và tổ chức
hợp tác và phát triển kinh tế OECD, FDI được định nghĩa bằng một khái niệm rộng

với việc quản lý doanh nghiệp này.
Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2005 mà quốc hội khóa XI Việt Nam
đã thông qua các khái niệm về “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư nước ngoài”,
“đầu tư ra nước ngoài” nhưng không có khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài”. Tuy
nhiên, có thể “gộp” các khái niệm trên lại và có thể hiểu: “FDI là hình thức đầu tư
do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt
Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư
ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên
quan”.
Như vậy, muốn hiểu rõ về FDI ở Việt Nam cần xem xét các qui định trong
Luật Đầu tư Việt Nam.Về bản chất, luật này cũng thống nhất cách hiểu về FDI như
cách hiểu thông dụng trên thế giới.
Tóm lại có thể hiểu FDI là một hình thức đầu tư trong đó chủ đầu tư của một
nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm
giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó.
Dòng vốn FDI (FDI flows) của một nước trong một năm bao gồm: dòng vốn
FDI vào (Inward Foreign Direct Investment- IFDI) và FDI ra (Outward Foreign
Direct Investment- OFDI) của nước đó trong một năm. IFDI là vốn đầu tư trực tiếp
mà các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào nước đó. Còn OFDI là vốn đầu tư trực tiếp
mà các nhà đầu tư của nước đó đem ra nước ngoài đầu tư. Như vậy, FDI có thể hiểu
theo hai nghĩa: FDI vào (người nước ngoài nắm quyền kiểm soát các tài sản của một
nước A) hoặc FDI ra (các nhà đầu tư nước A nắm quyền kiểm soát các tài sản ở nước
ngoài).
b. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDI có những đặc điểm chính sau đây:
- Tìm kiếm lợi nhuận: FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là
tìm kiếm lợi nhuận: Theo cách phân loại FDI của UNCTAD, IMF và OECD, FDI là
đầu tư tư nhân. Do chủ thể là tư nhân nên FDI có mục đích ưu tiên hàng đầu là lợi
nhuận. Các nước nhận đâu tư, nhất là các nước đang phát triển cần lưu ý điều này khi
tiến hành thu hút FDI, phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và

từ nước ngoài.
Tóm lại:
- Đặc điểm quan trọng để phân biệt FDI với các hình thức khác là quyền kiểm
soát, quyền quản lý đối tượng tiếp nhận đầu tư.
- Đối với nước tiếp nhận đầu tư thì ưu điểm của hình thức này là tính ổn định
và hiệu quả sử dụng vốn của FDI cao hơn các hình thức khác do nhà đầu tư trực tiếp
sử dụng vốn. Nhà đầu tư không dễ dàng rút vốn để chuyển sang các hình thức đầu tư
khác nếu thấy sự bất ổn của nền kinh tế nước nhận đầu tư. Do đó, mức độ ổn định
của dòng vốn đâu tư đối với nước nhận đầu tư cao hơn. Nhược điểm là nước nhận
đầu tư bị phụ thuộc vào kinh tế ở khu vực FDI.
- Đối với nhà đầu tư: Chủ động nên có thể nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu
tư, lợi nhuận thu về cao hơn. Có thể chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ sản phẩm, khai
thác nguồn nguyên liệu, nhân công giá rẻ và những lợi thế khác của nước nhận đầu
tư, tranh thủ những ưu đãi từ các nước nhận đầu tư. Tuy nhiên, hình thức này mang
tính rủi ro cao vì anh ta hoàn toàn chịu trách nhiệm về dự án đầu tư. Hoạt động đầu tư
chịu sự điều chỉnh từ phía nước nhận đầu tư. Không dễ dàng thu hồi và chuyển
nhượng vốn.
c. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nước chủ đầu tư
Nước chủ đầu tư là nước có các doanh nghiệp đem vốn từ trong nước ra thị
trường nước ngoài đầu tư nhằm đạt được mục đích nhất định. Cơ hội và lợi ích luôn
tồn tại song song với thách thức và chi phí. Vì vậy, hoạt động OFDI vừa có tác động
tích cực, vừa có tác động tiêu cực tới nước chủ đầu tư.
+ Tác động tích cực
Thứ nhất, OFDI giúp nước chủ đầu tư bành trướng sức mạnh về kinh tế và
nâng cao uy tín trên trường quốc tế. Thực hiện OFDI khẳng định khả năng kinh tế của
nước đi đầu tư thể hiện ở khả năng tài chính, trình độ quản lý, trình độ phát triển công
nghệ và sự am hiểu thị trường thế giới… Vì vậy mà hoạt động OFDI khẳng định sức
mạnh của nước đi đầu tư. Qua đó làm tăng ảnh hưởng của nước này trên thế giới
bằng khả năng chi phối nước nhận đầu tư hoặc khu vực nhận đầu tư. Nhờ vậy, uy tín
của nước đầu tư tăng lên và có tiếng nói trên trường quốc tế hơn. Cũng chính vì thế

lợi thế về chi phí rẻ (như chi phí quản lý, lao động…), hoặc tận dụng lợi thế quyền sở
hữu để đầu tư vào các nước phát triển có trình độ công nghệ phát triển cao hơn nhằm
học hỏi và tiếp thu kiến thức về khoa học kỹ thuật ở những nước này. Qua đó có thể
nâng cao trình độ để có thể nâng cấp cơ cấu sản phẩm bằng cách sử dụng công nghệ
sản xuất cao hơn. Vì vậy, có thể nâng cao năng lực cạnh tranh trong chiến lược phát
triển dài hạn của mình.
+ Tác động tiêu cực
Bên cạnh tác động tích cực, hoạt động OFDI cũng có tác động tiêu cực tới
nước chủ đầu tư.
Thứ nhất, OFDI khiến nước chủ đầu tư gặp khó khăn trong việc quản lý vốn và
công nghệ. Mặc dù khi thực hiện OFDI, các doanh nghiệp từ nước đầu tư sẽ nhận
được nhiều lợi ích, song trên tầm vĩ mô, nếu kinh tế trong nước chưa phát triển mà
các doanh nghiệp có tiềm lực lại có xu hướng thực hiện OFDI nhằm vào mục đích
riêng của mình thì rõ ràng sẽ ảnh hưởng xấu tới sự phát triển kinh tế của toàn bộ nước
đầu tư. Do vậy, đòi hỏi nước chủ đầu tư phải quản lý tốt nguồn vốn OFDI nhằm vừa
cân đối giữa việc phát triển kinh doanh ở nước ngoài và phát triển kinh tế trong nước.
Ngoài ra, khi thực hiện OFDI đồng nghĩa với việc mang công nghệ ra nước ngoài.
Khi đó, nảy sinh rủi ro đánh mất bản quyền công nghệ trong nước. Do đó, đòi hỏi
nước đầu tư phải quản lý công nghệ chặt chẽ.
Thứ hai, OFDI đồng nghĩa với việc nhà đầu tư phải chuyển đổi tiền đầu tư
thành tiền của nước nhận đầu tư. Rủi ro ở đây là sự thiếu ổn định của đồng tiền nước
nhận đầu tư, khi đem vốn ra nước ngoài nếu đồng tiền nước nhận đầu tư xuống giá
thì sẽ là một lợi thế cho nước đi đầu tư, còn nếu đồng tiền nước nhận đầu tư lên giá
thì đó sẽ là một thiệt hại cho các nhà đầu tư khi giá trị vốn đi đầu tư tính theo đồng
tiền nước nhận đầu tư sẽ giảm xuống. Và ngược lại khi nhà đầu tư chuyển vốn hay lợi
nhuận về nước.
Thứ ba, OFDI đồng nghĩa với một dòng tiền chảy ra khỏi nước đầu tư. Như
vậy, rõ ràng cán cân thanh toán quốc tế của nước chủ đầu tư sẽ bị thâm hụt.
Thứ tư, OFDI tức là mang một phần nguồn lực trong nước ra nước ngoài. Nếu
nguồn lực đó được đầu tư trong nước thì sẽ tạo được công ăn việc làm cho người lao

hành động bạo lực trong nước nào. Quy định này càng trở nên quan trọng hơn tại
những nước thế giới thứ ba bởi tại những nước này, thị trường rất rộng lớn, khó quản
lý, đồng thời an ninh không ổn định.
b. Đảm bảo nguyên tắc đối xử tối huệ quốc và nguyên tắc đối xử quốc gia
Hiệp ước đầu tư song phương đảm bảo một nhà đầu tư nước ngoài bị đối xử
không kém ưu đãi hơn so với nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài khác.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là nước ký kết cho phép các nhà đầu tư được
hưởng lợi từ những ưu đãi hay đặc quyền đã được quy định trong các tập quán đang
hoặc sẽ có; các thỏa thuận quốc tế tương tự; các quy tắc quốc tế khác liên quan hoàn
toàn hoặc chủ yếu tới thuế; hoặc các quy định trong nước liên quan hoàn toàn hoặc
chủ yếu tới thuế.
c. Quy định về chiếm đoạt và đền bù thiệt hại
Hiệp ước đầu tư song phương quy định rằng các khoản đầu tư của các nhà đầu
tư không bị nước ký kết quốc hữu hóa, chiếm đoạt hoặc bị chịu những hành động
tương đương với quốc hữu hóa hoặc chiếm đoạt theo luật của nước chủ đầu tư. Tuy
nhiên, hiệp ước cũng quy định trong trường hợp vì mục đích công như an ninh quốc
phòng…, nước nhận đầu tư có thể quốc hữu hóa hoặc chiếm đoạt tài sản của nhà đầu
tư nước ngoài nhưng phải đền bù cho nhà đầu tư nước ngoài dựa trên nguyên tắc
không phân biệt đối xử, đúng với giá trị của khoản đầu tư mà không có bất cứ sự
chậm trễ bất hợp lý nào. Giá trị của khoản đầu tư phải được định giá một cách công
bằng bởi tòa án hoặc một cơ quan độc lập có thẩm quyền trong một khoảng thời gian
hợp lý.
Trong trường hợp tài sản của nhà đầu tư vô tình bị thiệt hại do chiến tranh hoặc
bạo loạn, nước nhận đầu tư phải có trách nhiệm bồi thường theo nguyên tắc không
phân biệt đối xử.
d. Quy định về việc chuyển vốn đầu tư và lợi nhuận về nước
Đầu tư nước ngoài luôn luôn đi kèm với việc chuyển vốn đầu tư và lợi nhuận
về nước. Bất cứ một điều luật hay hành động nào ngăn cản nhà đầu tư chuyển vốn và
lợi nhuận về nước đều có tác động tiêu cực tới hiệu quả hoạt động đầu tư và thu hút
đầu tư. Trong các hiệp định đầu tư song phương thường cho phép nhà đầu tư chuyển

sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề
của doanh nghiệp bị mua lại”. FDI chủ yếu diễn ra dưới hình thức mua lại. M&A
được nhiều chủ đầu tư ưa chuộng hơn hình thức đầu tư mới vì chi phí đầu tư thường
thấp hơn và cho phép chủ đầu tư tiếp cận thị trường nhanh hơn.
b. Theo quan hệ về ngành nghề, lĩnh vực giữa chủ đầu tư và đối tượng tiếp nhận đầu

Theo tiêu chí này FDI được chia thành 3 hình thức:
+ FDI theo chiều dọc (vertical FDI): nhằm khai thác tài nguyên, nhiên vật liệu
(Backward vertical FDI) hoặc để gần gũi người tiêu dùng hơn thông qua việc mua lại
các kênh phân phối của các nước nhận đầu tư (Forward vertical FDI). Như vậy doanh
nghiệp chủ đầu tư và doanh nghiệp nhận đầu tư nằm trong cùng một dây chuyền sản
xuất và phân phối sản phẩm cuối cùng.
+ FDI theo chiều ngang (horizontal FDI): hoạt động FDI được tiến hành nhằm
tiến hành sản xuất cùng loại sản phẩm hoặc các sản phẩm tương tự chủ đầu tư đã sản
xuất ở nước chủ đầu tư. Như vậy, yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của
hình thức FDI này chính là sự khác biệt của sản phẩm. Thông thường FDI theo chiều
ngang được tiến hành nhằm tận dụng các lợi thế độc quyền hoặc độc quyền nhóm,
đặc biệt là khi việc phát triển ở thị trường trong nước vi phạm luật chống độc quyền.
+ FDI hỗn hợp (conglomerate FDI): doanh nghiệp chủ đầu tư và doanh nghiệp
tiếp nhận đầu tư hoạt động trong các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau.
c. Theo định hướng của nước nhận đầu tư
Theo tiêu chí này FDI được chia thành 3 hình thức:
+ FDI thay thế nhập khẩu: hoạt động FDI được tiến hành nhằm sản xuất và
cung ứng cho thị trường nước nhận đầu tư các sản phẩm mà trước đây nước này phải
nhập khẩu. Các yếu tố ảnh hưởng nhiều đến hình thức FDI này là dung lượng thị
trường, các rào cản thương mại của các nước nhận đầu tư và chi phí vận tải;
+ FDI tăng cường xuất khẩu: thị trường mà hoạt động đầu tư này nhắm tới
không phải chỉ dừng lại ở các nước nhận đầu tư mà là các thị trường rộng lớn hơn
trên toàn thế giới và có thể có cả thị trường ở nước chủ đầu tư. Các yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến dòng vốn FDI theo hình thức này là khả năng cung ứng các yếu tố

đang phát triển mà điển hình là Ấn Độ và Trung Quốc. Đối với các nhà đầu tư này,
ban đầu lĩnh vực đầu tư ưa thích của họ cũng là ngành yêu cầu công nghệ thấp, nhưng
sau đó với mục tiêu đạt được tài sản chiến lược, họ cũng dần chuyển sang các lĩnh
vực công nghệ cao để tiếp thu được trình độ công nghệ.
Trong khoảng hơn một thập kỷ trở lại đây, một xu hướng mới nổi lên trong
OFDI là tập trung vào lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên. Với sự phát triển
chóng mặt của kinh tế, nhiều nước đang phải đối diện với thực tế cạn kiệt nguồn
nguyên nhiên liệu. Bên cạnh việc tìm nguồn nguyên liệu thay thế ở trong nước, một
giải pháp hữu hiệu khác để giải quyết vấn đề trên là đầu tư khai thác nguồn tài
nguyên của các nước nghèo có trình độ khai thác và chế biến kém phát triển. Những
nước đi đầu trong xu hướng này thường là những nước phát triển như Mỹ, Nhật,
Anh… hay những nền kinh tế mới nổi, có tốc độ kinh tế nhanh như Trung Quốc, Ấn
Độ…
Ngoài ra, phải kể đến những lĩnh vực mà các nhà đầu tư khó có thể tiếp cận
được. Đó thông thường là những lĩnh vực liên quan tới an ninh quốc phòng
1.1.5. Lợi ích và chi phí của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
a. Lợi ích
Khi thực hiện OFDI, doanh nghiệp có thể đạt được những lợi ích sau đây:
Thứ nhất, tiến hành OFDI, các doanh nghiệp có thể tìm kiếm được thị trường
của nước nhận đầu tư để từ đó tạo bàn đạp thâm nhập vào thị trường của khu vực lân
cận.
Thứ hai, các doanh nghiệp có thể tìm kiếm được nguồn nguyên nhiên liệu rẻ, ổn
định; chi phí lao động thấp.
Thứ ba, tiến hành OFDI, các doanh nghiệp sử dụng nguồn lực dư thừa một cách
có hiệu quả, nâng cao hiệu suất sử dụng vốn.
Thứ tư, OFDI giúp các doanh nghiệp tránh được các rào cản thương mại mà các
doanh nghiệp này vấp phải nếu thâm nhập vào thị trường nước ngoài bằng hình thức
xuất nhập khẩu.
Thứ năm, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ mang vòng đời quốc tế thay vì quốc
gia. Khi đó vòng đời sản phẩm sẽ kéo dài hơn và doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được chi

Nền kinh tế của Ấn Độ sau khi độc lập chịu ảnh hưởng nặng nề của thời kỳ
thực dân và của phương hướng các nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa xã hội Fabia. Chính
sách có thiên hướng theo chủ nghĩa bảo hộ, nhấn mạnh sự thay thế nhập khẩu, công
nghiệp hóa và sự can thiệp của nhà nước vào thị trường lao động và tài chính, khu
vực công lớn , cơ chế điều tiết hoạt động kinh doanh và kế hoạch hóa tập trung. Do
đó, thời kỳ 1947-1980, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của Ấn Độ là thấp so với
tốc độ tăng trưởng của các nước Nam Á khác. Từ năm 1980, có hai đợt cải cách kinh
tế tạo ra sự tăng tốc kinh tế cho Ấn Độ. Thứ nhất là việc đưa ra các biện pháp ủng hộ
kinh doanh vào năm 1980 trong đó xóa bỏ kiểm soát giá đồng thời giảm các loại thuế
doanh nghiệp. Thứ hai là chính sách tự do hóa kinh tế năm 1991, trong đó đã thủ tiêu
chế độ cấp giấy phép nhập khẩu, công nghiệp và đầu tư đồng thời chấm dứt nhiều sự
độc quyền của khu công nghiệp, cho phép phê duyệt tự động đầu tư trực tiếp nước
ngoài trong nhiều lĩnh vực. [44]
Kể từ năm 1990, Ấn Độ nổi lên như là một trong những nền kinh tế thịnh
vượng nhất trong thế giới đang phát triển và trở thành nền kinh tế tăng trưởng nhanh
thứ hai thế giới chỉ sau Trung Quốc. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình của Ấn Độ
trong thời kỳ 1960-1980 là 3,5%; thời kỳ 1980-1990 là 5,4%; 1990-2000 là 4,4%;
thời kỳ 2000-2009 là 6,4%.[45]
Trong ba năm 2006, 2007, 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ rất cao
đạt lần lượt là 8,4%; 9,2%; 9%. Năm 2009, do ảnh hưởng của sự khủng hoảng kinh
tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ là 7,4%- tuy giảm xuống song vẫn rất cao
khi so với các nước khác. [46]
Goldman Sachs đã dự báo rằng GDP của Ấn Độ theo giá thực tế sẽ vượt qua
Pháp và Italia vào năm 2020, vượt Đức, Anh quốc vào năm 2025, và vượt qua Nhật
Bản vào năm 2035. Đến năm 2035, Ấn Độ được cho rằng sẽ là nền kinh tế lớn thứ 3
thế giới, sau Hoa Kỳ và Trung Quốc. [47]
1.2.2.Tổng quan về hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Ấn
Độ
Lần đầu tiên một công ty Ấn Độ đầu tư ra nước ngoài là vào năm 1959. Kể từ
đó tới này, hoạt động OFDI của các doanh nghiệp Ấn Độ không ngừng phát triển.

ngành dịch vụ đóng vai trò chủ đạo
+ Vốn đầu tư vào các nước phát triển tăng lên
+ Doanh nghiệp Ấn Độ được tự do quyết định tỷ lệ sở hữu trong thực thể đầu

+ Động cơ thúc đẩy OFDI: ngoài việc tìm kiếm thị trường các doanh Ấn Độ
đầu tư nhằm có được tài sản chiến lược như công nghệ, thương hiệu và thực hiện
marketing, đồng thời cũng thiết lập mạng lưới hỗ trợ thương mại.
+ Lợi thế độc quyền được cải thiện do các công ty Ấn Độ thường xuyên thực
hiện đổi mới, sang tạo, mua thương hiệu và nâng cao hiệu quả hoạt động nhờ vào
việc tái cơ cấu doanh nghiệp.
Biểu đồ 1: OFDI của các doanh nghiệp Ấn Độ theo giá trị trong giai đoạn 1992-
2007 (triệu USD)
Nguồn: Prema-Chandra Athukorala (2009), Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Ấn Độ,
Arnd- Corden Division of Economics, College of Asia and the Pacific, Australia National
University
Bước ngoặt trong hoạt động OFDI của các doanh nghiệp Ấn Độ bắt đầu từ
những năm đầu 1990 với sự thay đổi mạnh mẽ về chính sách OFDI. Từ năm 2000
hoạt động OFDI của các doanh nghiệp Ấn Độ được thúc đẩy mạnh mẽ bởi việc
những quy định hạn chế chuyển ngoại tệ phục vụ cho các vụ mua lại ở nước ngoài
liên tiếp được nới lỏng. Từ năm 2005, hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh
nghiệp Ấn Độ tăng vọt (xem biểu đồ 1). Số lượng các dự án được phê duyệt đầu tư
tăng từ 220 năm 1990/1991 lên 395 năm 1999/2000 và lên tới 1595 vào năm
2007/2008. Tổng dòng vốn FDI chảy ra từ Ấn Độ tăng từ khoảng 25 triệu USD trong
đầu những năm 1990 tới gần 14 tỷ đô là Mỹ năm 2007. [19, tr.130]
Biểu đồ 2: Tỷ trọng OFDI của Ấn Độ trong tổng FDI ra nước ngoài của các
nước đang phát triển (%)
Nguồn: Prema-Chandra Athukorala (2009), Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Ấn Độ,
Arnd- Corden Division of Economics, College of Asia and the Pacific, Australia National
University
Trong suốt những năm 1990, tỷ trọng của Ấn Độ trong tổng số vốn đầu tư


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status