QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ ĐỐI XỬ ĐẶC BIỆT VÀ KHÁC BIỆT DÀNH CHO
CÁC THÀNH VIÊN ĐANG PHÁT TRIỂNVÀ CÁC NỀN KINH TẾ CHUYỂN
ĐỔI
Các quy định ban đầu của GATT không phân biệt giữa các nước phát triển và
các nước đang phát triển. Tất cả các bên tham gia hiệp định có quyền và nghĩa vụ như
nhau, bất kể trình độ phát triển như thế nào. Tuy nhiên, hiện nay WTO có khoảng 3/4
số thành viên là những nước đang phát triển và chậm phát triển. Các nước này ngày
càng đóng vai trò quan trọng và tích cực hơn nhờ số lượng đông đảo của mình tại
WTO, nhờ vị trí ngày càng lớn của họ trong nền kinh tế thế giới, nhờ việc càng ngày
họ càng nhận thức rõ hơn thương mại là công cụ quan trọng hàng đầu trong nỗ lực
phát triển kinh tế của mỗi đất nước. Do đó sẽ là không thực tế nếu kỳ vọng các nước
đang và kém phát triển cạnh tranh trong cùng điều kiện với các nước phát triển. Từ đó
dẫn tới việc phải rà soát lại các quy định trong WTO hướng tới nguyên tắc đối xử đặc
biệt và khác biệt dành cho các nước đang và kém phát triển.
1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÁC THÀNH VIÊN CỦA WTO
Tính đến ngày 26/10/2012, WTO có tổng số 158 Thành viên chính thức. Có thể nói
WTO là tổ chức quốc tế lớn nhất đưa ra các quy định điều tiết thương mại ở phạm vi
toàn cầu. Các Thành viên của WTO đến từ mọi châu lục với chế độ chính trị, kinh tế,
xã hội không hoàn toàn giống nhau và với trình độ phát triển không đồng đều. Vì vậy,
để có cách nhìn toàn diện và khách quan, để có những quy định phù hợp, WTO đã
phân các Thành viên ra thành bốn nhóm nước cơ bản. Đó là:
- Nhóm các nước kém phát triển nhất (Least-developed countries LDCs)
- Nhóm các nước đang phát triển (Developing countries)
- Nhóm các nước có nền kinh tế chuyển đổi (Economies in transition)
- Nhóm các nước phát triển (Developed countries)
Ngoài ra, tại Hội nghị Bộ trưởng của WTO (họp ở Geneva) năm 1998, lần đầu tiên
người ta cũng đã bàn đến “một số nền kinh tế nhỏ bé” trong khuôn khổ của nhóm các
nước đang phát triển.
Tuy nhiên, WTO không đưa ra tiêu chí để phân biệt mỗi một trong bốn nhóm nước
nói trên. Việc phân loại các Thành viên nói trên được tiến hành như sau:
1.1. Các nước kém phát triển nhất
hay không, WTO dựa trên nguyên tắc “tự nhận”. Điều này có nghĩa là nếu một nước
Thành viên của WTO cho rằng mình không phải là nước nằm trong nhóm các nước
LDCs thì có thể tự nhận mình là nước đang phát triển. Việt Nam nằm trong nhóm các
nước này.
1.3. Các nước có nền kinh tế chuyển đổi
Các nước có nền kinh tế chuyển đổi (Economies in transition) là tên gọi được dùng để
chỉ các nước có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung nay đang chuyển đổi sang nền
kinh tế thị trường. Những nước này còn được các nước phát triển như Mỹ… gọi là
những nền kinh tế phi thị trường. Đó là các nước Xã hội chủ nghĩa ở Trung và Đông
Âu hoặc Liên Xô (cũ) trước đây. Trung Quốc, Việt Nam và một số nước khác có xuất
phát điểm từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung (centrally-planned economies – CPE)
cũng thuộc nhóm nước này.
1.4. Các nước phát triển
Nhóm nước phát triển là các Thành viên của WTO còn lại ngoài ba nhóm nước nêu
trên. Các nước phát triển hầu hết là Thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh
tế (OECD). OECD được thành lập năm 1961 như tổ chức kế nhiệm của Tổ chức Hợp
tác kinh tế châu Âu (OEEC). Tổ chức OECD còn được gọi là “câu lạc bộ của những
nước giàu”. Mục tiêu của OECD nói riêng và của các nước phát triển nói chung là:
- Đạt được sự tăng trưởng kinh tế và việc làm ổn định cao nhất, đồng thời tăng mức
sống của các nước Thành viên trong đó vẫn phải duy trì sự ổn định về tài chính nhằm
góp phần đóng góp vào sự phát triển kinh tế thế giới;
Đóng góp vào sự mở rộng kinh tế vững chắc ở các nước Thành viên cũng như các
nước không phải là Thành viên trong tiến trình phát triển kinh tế;
- Đóng góp vào sự mở rộng kinh tế thế giới trên cơ sở đa phương, không phân biệt đối
xử phù hợp với các nghĩa vụ quốc tế. Số lượng các nước phát triển (cũng đồng thời là
Thành viên của OECD) hiện nay gồm: Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Bỉ, Canada, Australia,
Đan Mạch, Phần Lan, Hy Lạp, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan, Luxembourg, New
Zealand, Na Uy, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ, Bồ Đào Nha, Ailen,
Iceland, Hungary, Cộng hòa Séc, Ba Lan. Trong số các nước này, Ba Lan, Cộng hòa
Séc và Hungary là những nước có nền kinh tế chuyển đổi mới gia nhập vào OECD:
chỉnh thương mại quốc tế của Hiệp định GATT. Vì vậy khi nói đến vị trí, vai trò của
các Thành viên đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi trong WTO không thể
không nhắc đến sự tham gia của những Thành viên này trong GATT.
GATT được ký kết tại Geneva vào ngày 30/10/1947 và có hiệu lực từ tháng 01/1948.
Cho đến khi WTO ra đời để thay thế GATT, GATT đã tồn tại 47 năm (1948 -1995).
GATT hoạt động theo hai cơ chế. Theo cơ chế thứ nhất, các nước Thành viên sẽ tiến
hành, trên cơ sở hàng ngày, các hoạt động thi hành pháp luật, qui định của GATT về
thương mại, thảo luận các vấn đề chung và giải quyết tranh chấp. Với cơ chế thứ hai,
các nước Thành viên có nghĩa vụ tham gia các vòng đàm phán để xây dựng các quy
tắc, nguyên tắc, các thỏa thuận nhằm mục tiêu thúc đẩy nhanh hơn quá trình tự do hóa
thương mại. Trong 47 năm tồn tại, GATT đã tổ chức được 8 vòng đàm phán và càng
ở những vòng đàm phán về sau, sự tham gia của các nước đang phát triển và các nền
kinh tế chuyển đổi càng đông hơn.
Ở Vòng đàm phán đầu tiên – Vòng Geneva 1947 – mới chỉ có 23 nước Thành viên.
Nhưng số các nước đang phát triển cũng chiếm hơn 50%. Cho đến trước Vòng
Kennedy, các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi chỉ 23 nước này là:
Anh, Pháp, Mỹ, Úc, Bỉ, Canada, Hà Lan, Luxembourg, Na Uy, New Zealand, Tiệp
Khắc, Brazil, Chilê, Ceylon (Sri Lanka), Cuba, Ấn Độ, Libăng, Pakistan, Nam
Rhodesia (Zimbabwe), Syria, Nam Phi, Myanma, Trung Quốc. đóng vai trò, vị trí thứ
yếu trong các cuộc đàm phán của GATT. Điều này được giải thích ở tiếng nói của họ
chưa được chú ý. Trong khoảng thời gian từ năm 1948 đến trước năm 1963, các phiên
đàm phán của GATT chỉ tập trung chủ yếu vào vấn đề thuế quan mà không quan tâm
đến vấn đề thể chế, quy tắc và hệ thống. Các nước đang phát triển và các nền kinh tế
chuyển đổi ở thời gian này chưa quan tâm lắm đến vấn đề thuế quan vì hoạt động xuất
khẩu của họ còn yếu kém. Hàng hóa của họ chưa phải đối mặt với rào cản khi thâm
nhập vào thị trường các nước phát triển vì thị phần còn rất nhỏ bé.
Vòng đàm phán Kennedy, bắt đầu năm 1963, là bước đột phá lớn đối với các nước
đang phát triển và đang chuyển đổi. Với sự tham gia của 62 nước trong đó gần 2/3 là
các nước đang phát triển, lần đầu tiên GATT dành hẳn nội dung đàm phán của mình
là bàn về các nước đang phát triển. Tuyên bố của Hội nghị Bộ trưởng đưa ra trong
mại quốc tế tương xứng với nhu cầu phát triển kinh tế của các quốc gia đó”. Điều này
cho thấy vị trí, vai trò của các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi ngày
càng được chú ý hơn khi WTO ra đời. Và cũng từ khi WTO chính thức hoạt động đến
nay, các nước đang phát triển ngày càng có tiếng nói mạnh hơn qua các Vòng Đàm
phán để xây dựng các quy tắc điều tiết thương mại toàn cầu. Một trong những kết quả
cụ thể là WTO đã phải đưa ra quy định về đối xử đặc biệt và khác biệt dành riêng cho
các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi. Đối xử đặc biệt và khác biệt
này thường mang tính giảm nhẹ so với những nghĩa vụ, cam kết chung mà WTO quy
định. Ví dụ như được miễn không phải thực hiện nghĩa vụ; mức độ cam kết thấp hơn;
thời gian thực hiện dài hơn v.v…Dưới đây sẽ phân tích cụ thể các quy định về đối xử
đặc biệt và khác biệt mà WTO đã dành cho các nước LCDs và các nền kinh tế chuyển
đổi.
3. CÁC QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ ĐỐI XỬ ĐẶC BIỆT VÀ KHÁC BIỆT
DÀNH CHO CÁC THÀNH VIÊN ĐANG PHÁT TRIỂNVÀ CÁC NỀN KINH
TẾ CHUYỂN ĐỔI.
Đối xử đặc biệt và khác biệt (Special and differential treatment -S&D): Là những quy
định của WTO dành riêng cho các Thành viên đang và kém phát triển, theo đó, các
Thành viên này có thể được miễn hoặc giảm nhẹ việc thực hiện nghĩa vụ cam kết, thời
gian thực hiện dài hơn so với các Thành viên khác.
Trước WTO, GATT đã có những ưu đãi nhất định dành cho các Thành viên đang
phát triển thông qua hệ thống các đối xử đặc biệt và khác biệt (S&D). Tuy nhiên, chỉ
đến khi WTO ra đời, sự đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các Thành viên đang
phát triển mới được khẳng định là nguyên tắc cơ bản điều chỉnh hệ thống thương mại
đa phương. Nguyên tắc này không chỉ kế thừa những quy định ưu đãi của GATT về
thương mại hàng hóa dành cho các nước đang phát triển, mà còn mở rộng áp dụng
cho cả thương mại dịch vụ, đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ.
Đây là thành quả đấu tranh liên tục của các nước đang phát triển qua những vòng
đàm phán trong khuôn khổ GATT, đặc biệt là Vòng đàm phán Uruguay. Bởi vì, một
trong những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ quốc tế nói chung, thương mại quốc tế
nói riêng là bình đẳng và cùng có lợi. Tuy nhiên, trên thực tế, ưu thế trong thương mại
Điều XXXVI khoản 8 Phần IV Hiệp định GATT
Điều cần chú ý là cả Hiệp định GATT 1994 và Hiệp định GATS đều quy định
dành cho các nước đang phát triển và các nước chậm phát triển một số đối xử ưu đãi
khác biệt nhất định. Một số hiệp định khác của WTO cũng có quy định những biện
pháp khác dành cho các nước đang phát triển như: dành cho các nước này thời hạn dài
hơn để thực hiện đầy đủ các cam kết của mình; tạo cơ hội thương mại cho các nước
này thông qua điều kiện mở rộng hơn khả năng tiếp cận thị trường; yêu cầu các nước
thành viên của WTO phải bảo đảm lợi ích của các nước đang phát triển khi đưa ra các
biện pháp tự vệ ở cấp độ quốc gia hoặc quốc tế; định ra các phương thức hỗ trợ thích
hợp cho các nước đang phát triển, chẳng hạn giúp các nước này thực hiện các cam kết
về các tiêu chuẩn sức khoẻ động vật và bảo vệ thực vật, bảo đảm các tiêu chuẩn kỹ
thuật hoặc phát triển khu vực viễn thông nội địa của các nước đó
WTO quy định rằng các Thành viên (gồm các Thành viên là những nước phát
triển và cả các nước đang phát triển) phải thực thi các biện pháp S&D để tạo điều kiện
thuận lợi cho thương mại của các Thành viên đang phát triển và các nền kinh tế
chuyển đổi có thể có được những lợi ích khi tham gia vào WTO.
.3.1.1. Nhóm các biện pháp S&D để tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại của
các Thành viên đang phát triển
Các biện pháp đơn phương mà các nước phát triển dành cho hàng hóa của các nước
đang phát triển được nhập khẩu trên cơ sở ưu đãi và các nước phát triển gồm Hệ thống
ưu đãi thuế quan phổ cập (Hệ thống GSP), những đối xử ưu đãi hơn đối với các nước
kém phát triển và những thỏa thuận tạo điều kiện tiếp cận thị trường ưu đãi cho một số
nước đang phát triển nhất định.
- Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP)
GATT khuyến khích các nước thành viên có những cân nhắc đặc biệt nhằm cải
thiện mức sống ở các nước đang phát triển, hỗ trợ các nước này phát triển bền vững,
đồng thời nêu rõ rằng nguồn thu từ xuất khẩu của các nước này cần phải tăng lên. Hơn
nữa, GATT cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc tăng mức độ tiếp cận thị
trường cho các sản phẩm của các nước đang phát triển và tầm quan trọng của việc đảm
bảo các nền kinh tế này đa dạng hóa sản phẩm của mình.
Hiện nay, có 16 chế độ ưu đãi khác nhau đang hoạt động tại 28 nước phát triển, bao
gồm 15 nước thành viên của EU và Nhật, New Zealand, Thuỵ Sĩ, Bulgary, Hungary,
Séc, Ba Lan, Nga, các quốc gia trung lập (CIS), Canada, Nauy, Australia, Rumani.
15 nước thành viên EU: Áo, Bỉ, Đan Mạch, Đức, Ailen, Italy, Luxembua, Hà Lan,
Anh, Hy Lạp, Phần Lan, Tây Ban Nha, Thuỵ Điển, Bồ Đào Nha, Pháp.
Nước được hưởng GSP:
Bao gồm những nước đang phát triển và những nước kém phát triển. Các nước kém
phát triển thường được hưởng một chế độ đặc biệt riêng, có nhiều ưu đãi hơn các nước
đang phát triển. Đối với mỗi quốc gia dành ưu đãi, các nước được hưởng được liệt kê
trong danh sách ban hành kèm theo chế độ GSP. Danh sách này có thể được sửa đổi bổ
sung.
Tuy nhiên, Hệ thống GSP cũng đưa ra một số điều kiện hạn chế:
• Các nước phát triển thường quy định rằng hàng nhập khẩu theo một số lượng
nhất định trong hạn ngạch mới được hưởng chế độ thuế quan ưu đãi của Hệ thống
GSP; Số lượng hàng nhập khẩu vượt quá hạn ngạch có thể sẽ bị tính thuế trên cơ sở
MFN.
• Hàng hóa sẽ tạm thời không được hưởng ưu đãi thuế quan GSP trong một số
trường hợp nhất định. Khi một hàng hóa nhập khẩu theo GSP ảnh hưởng đến công
nghiệp sản xuất mặt hàng đó trong nước, nước cho hưởng ưu đãi sẽ thực hiện những
biện pháp cần thiết theo cơ chế bảo vệ của hệ thống GSP.
• Không cấp chế độ ưu đãi cho những sản phẩm nhập khẩu từ những nước đang
phát triển nếu những nước này đã trở nên có khả năng cạnh tranh, những nước đã
chuyển sang giai đoạn phát triển cao hơn, những nước đạt được một mức thu nhập
bình quân đầu người ở giai đoạn phát triển cao hơn và những nước không tôn trọng
nhân quyền.
Bên cạnh đó, một số nước phát triển cũng đã sử dụng Hệ thống GSP như một
vũ khí chính trị để đối phó lại các nước có chế độ chính trị - xã hội đối lập với mình.
Ví dụ, Hoa Kỳ quy định rằng Hệ thống GSP chỉ dành cho những nước đang và kém
phát triển có nền kinh tế thị trường. Như vậy, quy định này đã loại bỏ các nước đang
và kém phát triển thuộc các nền kinh tế Xã hội chủ nghĩa, kế hoạch hóa ra khỏi đối
GSP mới sẽ mở rộng thêm gần 300 sản phẩm được hưởng ưu đãi.
GSP sẽ chỉ được rút bỏ khỏi các nhóm sản phẩm của một hoặc một vài nước –
khi mà những sản phẩm này đã đạt mức cạnh tranh trên thị trường Cộng đồng và
không còn cần tới GSP. Việc xem xét sẽ dựa trên một tiêu chí đơn giản: khi một nhóm
sản phẩm (“phần” của mã hải quan) từ một nước cụ thể vượt quá 17.5% (so với 15%
của GSP cũ) tổng nhập khẩu EU cho cùng một loại sản phẩm theo GSP trong 3 năm
liên tục. Đối với hàng dệt may, ngưỡng này sẽ là 14.5% (so với 12.5% trước kia).
- Những đối xử ưu đãi hơn đối với các Thành viên kém phát triển nhất.
Những đối xử ưu đãi hơn đối với các Thành viên kém phát triển nhất cũng là biện
pháp S&D của WTO dành cho các Thành viên kém phát triển. Những đối xử ưu đãi
này là những sự “đối xử đặc biệt” trên mức dành cho các Thành viên đang phát triển.
Quy định này của WTO được thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng của WTO vào năm
1997 với tên gọi là “Những sáng kiến hội nhập dành cho sự phát triển thương mại của
những Thành viên kém phát triển nhất”.
Sáng kiến này cho phép tất cả các loại hàng hóa của các Thành viên kém phát triển
nhất được nhập khẩu vào các Thành viên WTO trên cơ sở miễn thuế hoặc không bị
giới hạn bởi những quy định có tính hạn chế khác. Ví dụ, Hệ thống GSP sẽ phải dành
cho các Thành viên kém phát triển nhất những ưu đãi cao hơn mức ưu đãi đã dành cho
các Thành viên đang phát triển; Những hạn chế trong Hệ thống GSP về hạn ngạch, về
tính cạnh tranh hơn của một nước v.v…sẽ không áp dụng đối với các Thành viên kém
phát triển nhất.
Các quy định có tính ưu đãi hơn dành riêng cho các Thành viên kém phát triển nhất
cho thấy tiếng nói của các Thành viên này trong WTO đã có trọng lượng. Các Thành
viên kém phát triển nhất đã lập luận một các có cơ sở rằng chính những quy định
thống nhất trong hệ thống WTO dành cho các Thành viên một cách không phân biệt
đối xử đã gây nên sự bất bình đẳng, bởi vì mỗi Thành viên có điều kiện và hoàn cảnh
kinh tế khác nhau. Để loại bỏ những sự bất bình đẳng như vậy, cần thiết phải có các
qui định ưu đãi hơn dành riêng cho các Thành viên kém phát triển nhất. Đây là thắng
lợi của các Thành viên kém phát triển nhất khi tham gia vào hệ thống thương mại của
WTO.
Việt Nam trở thành thành viên chính thức và mới nhất của WTO vào ngày 11/01/2007.
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn được đánh giá là một nước đang phát triển, có thu nhập thấp
và nợ quốc gia cao. Đây cũng là lý do chính đáng để Việt Nam tìm kiếm và yêu cầu
được đối xử một cách linh hoạt trong quá trình thực thi các cam kết gia nhập WTO của
mình trong một số lĩnh vực, đặc biệt là nông nghiệp, TRIPs, TRIMs, trợ cấp và lộ trình
giảm thuế… Trên thực tế, đối xử S&D có vai trò rất quan trọng đối với quá trình phát
triển kinh tế của Việt Nam và điều này là dễ hiểu. Việt Nam có tỷ lệ dân số gặp nhiều
khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày khá cao, một số lượng lớn dân cư còn có mức thu
nhập bình quân đầu người chỉ vừa trên mức nghèo khổ và tiềm ẩnh nhiều nguy cơ tụt
xuống dưới mức nghèo khổ bởi tác động tiêu cực có thể có từ những cú sốc bất ngờ
của nền kinh tế
Thách thức dễ thấy là lợi ích do tăng trưởng kinh tế mang lại trong tương lai đối
với khu vực dân cư nghèo sẽ thấp hơn nhiều so với lợi ích mà khu vực giàu có được
hưởng. Hơn nữa, việc cải tổ toàn diện nền kinh tế cũng có nhiều ảnh hưởng tiêu cực
tới đời sống người dân ở khu vực nghèo. Đối với Việt Nam, nông nghiệp thực sự là
lĩnh vực nhạy cảm: 69% lực lượng lao động Việt Nam thuộc lĩnh vực nông nghiệp và
90% số người nghèo đang sinh sống tại khu vực nông thôn. Những con số thực tế này
đã cho thấy tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp đối với phần lớn dân số Việt
Nam, đồng thời chỉ rõ tính chất dễ tổn thương về mặt kinh tế xã hội của sản xuất nông
nghiệp.
Với thực tế đó, Việt Nam nên được dành đối xử S&D ở mức cần thiết. Những hình
thức đối xử S&D mà Việt Nam có thể trông đợi và có khả năng được hưởng trong
khuôn khổ Vòng Đô-ha gồm: (i) GSP được áp dụng bởi Hoa Kỳ, Châu Âu và Nhật
Bản. Hiện tại, Việt Nam vẫn đang được hưởng GSP từ các nước này nhưng chúng
thường đi kèm với hàng loạt điều kiện và hạn chế đặt ra bởi những nước cho hưởng
GSP; (ii) GATT và GATS cũng bao gồm cả những điều khoản yêu cầu các nước phát
triển giành ưu tiên cho những sản phẩm có xuất xứ từ các thành viên WTO đang phát
triển trong quá trình đàm phán. Kinh nghiệm thực tế cho thấy rằng các nước đang phát
triển được hưởng lợi không đáng kể từ các điều khoản ưu tiên này bởi chúng thiếu tính
cụ thể cũng như bởi tính không ràng buộc thực hiện của chúng; (iii) Các linh hoạt