những quy định của WTO về vấn đề môi trường - Pdf 32

1
PHỤ LỤC 1: NHỮNG QUI ĐỊNH CỦA WTO VỀ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG
Trong hệ thống các Hiệp định của WTO có nhiều quy định liên quan trực tiếp tới
vấn đề thương mại và môi trường. Nhiều quy định của Hiệp định GATT 1994 có liên quan
tới vấn đề này, ví dụ: Điều I và Điều III (qui định về nghĩa vụ không phân biệt đối xử),
Điều XI (về các biện pháp hạn chế định lượng) và các qui định về ngoại lệ chung tại Điều
XX. Vấn đề thương mại - môi trường được đề cập ngay trong Lời mở đầu (Preamble) của
Hiệp định thành lập WTO và trong nhiều Hiệp định khác của WTO, cụ thể là:
o
Hiệp định về Các rào cản kỹ thuật đối với thương mại;
o
Hiệp định về Kiểm dịch động thực vật;
o
Hiệp định về Quyền sở hữu trí tuệ;
o
Hiệp định về Trợ cấp và Các biện pháp đối kháng;
o
Hiệp định về Nông nghiệp;
o
Hiệp định về Thương mại Dịch vụ.
1.1. Hiệp định thành lập WTO
Lời mở đầu của Hiệp định Marrakesh thành lập WTO thừa nhận sự cần thiết của
việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững:
“Các bên ký kết Hiệp định này thừa nhận rằng các quan hệ kinh tế thương mại của
họ cần phải đảm bảo mục tiêu nâng cao mức sống, tạo việc làm, tăng thu nhập đáng kể và
ổn định,..., đồng thời sử dụng tối ưu các nguồn lực của thế giới vì mục tiêu phát triển
bền vững, bảo vệ và bảo tồn môi trường...”.
Đây là cơ sở cho việc diễn giải các quy định cụ thể có liên quan tới môi trường
trong các Hiệp định của WTO và áp dụng trên thực tế các biện pháp hạn chế thương mại
với mục đích “bảo vệ môi trường”.
Trong vụ kiện Tôm và Rùa, Cơ quan Xét xử Phúc thẩm (Appeallate Body) cho rằng

tác thương mại khác nhau. Tóm lại, nguyên tắc “không phân biệt đối xử” giúp ngăn chặn
việc lạm dụng các chính sách môi trường cũng như việc sử dụng chúng như những công cụ
hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế.
1.3. Yêu cầu về việc bãi bỏ các hạn chế định lượng
Điều XI của GATT quy định rằng các Thành viên không được cấm hoặc áp dụng
các biện pháp hạn chế nào ngoài thuế và các loại phí khác đối với hàng xuất khẩu và nhập
khẩu, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt, ví dụ như trong trường hợp khan hiếm lương
thực trầm trọng. Mục đích của Điều XI là khuyến khích các Thành viên chuyển từ các biện
pháp hạn chế định lượng sang thuế quan, một công cụ minh bạch và ít bóp méo thương mại
hơn.
3
Trong thương mại quốc tế, nhiều tranh chấp về vấn đề bảo vệ môi trường đã dẫn tới
việc áp dụng các biện pháp hạn chế định lượng, đặc biệt là việc cấm xuất nhập khẩu.
Những quy định của MEAs liên quan tới cấm hoặc hạn chế xuất nhập khẩu có thể vi phạm
quy định của Điều XI. Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng, Điều XI thường được xem xét
cùng với Điều XX về các điều khoản về ngoại lệ chung. Ví dụ, theo Nghị định thư
Montreal, Điều 4, các quốc gia thành viên có thể cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu nhằm thực
hiện yêu cầu hạn chế tiêu thụ hoặc sản xuất trong nước. Việc cấm xuất khẩu, cấm nhập
khẩu trong trường hợp này có thể không phù hợp với Điều XI nhưng lại có thể giải thích
được theo Điều XX của GATT.
1.4. Qui định về các Ngoại lệ chung của GATT (General Exceptions)
a. Các quy định liên quan
Điều XX của GATT qui định những trường hợp mà các bên ký kết GATT có thể
được miễn trừ nghĩa vụ tuân thủ các qui định của GATT. Trong số các ngoại lệ được đề
cập tại Điều XX, hai đoạn (b) và (g) đưa ra các tiêu chí liên quan tới mục tiêu bảo vệ môi
trường:
"Với bảo lưu rằng các biện pháp được đề cập ở đây sẽ không được áp dụng
nhằm tạo ra một công cụ phân biệt đối xử độc đoán hay phi lý giữa các nước có cùng điều
kiện như nhau, hay tạo ra một sự hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế, không có
qui định nào trong Hiệp định này được hiểu là nhằm ngăn cản bất kỳ bên ký kết nào thi

phải chứng minh rằng việc cấm nhập khẩu xăng pha chì là phù hợp với phạm vi điều chỉnh
và yêu cầu của đoạn (g), Điều XX của GATT.
Ngoài ra, để ngăn chặn sự lạm dụng các trường hợp ngoại lệ vì mục đích bảo vệ
môi trường theo Điều XX (b) và (g), các biện pháp này phải phù hợp với điều kiện chung
của Điều XX. Biện pháp được áp dụng không được phân biệt đối xử một cách “độc đoán”
hoặc “bất hợp lý” hoặc tạo ra một sự hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế. Để đảm
bảo sự “hợp lý”, bên bị kiện phải chứng minh rằng biện pháp đó chỉ được áp dụng sau
những nỗ lực thảo luận hoặc đàm phán nghiêm túc.
1.5. Hiệp định về Các Rào cản Kỹ thuật đối với Thương mại (Hiệp định TBT)
a. Các quy định của Hiệp định TBT liên quan tới vấn đề thương mại - môi
trường
Hiệp định TBT điều chỉnh việc xây dựng, thông qua và áp dụng các yêu cầu kỹ
thuật đối với sản phẩm cũng như các thủ tục liên quan tới việc đánh giá sự phù hợp của sản
phẩm đó với các yêu cầu kỹ thuật. Mục tiêu của Hiệp định là đảm bảo rằng các quy định và
tiêu chuẩn kỹ thuật (gọi chung là yêu cầu kỹ thuật) cũng như các thủ tục kiểm tra, đánh giá
không tạo nên những rào cản không cần thiết đối với thương mại.
5
Lời mở đầu và Điều 2.2 của Hiệp định này thừa nhận các Thành viên WTO có
quyền áp dụng những biện pháp cần thiết để theo đuổi một số mục tiêu chính đáng, trong
đó có mục tiêu bảo vệ sức khoẻ và sự an toàn của con người, sức khoẻ và cuộc sống của
các loài động thực vật, và bảo vệ môi trường. Để thực hiện những mục tiêu này, các Thành
viên có quyền áp dụng một mức bảo hộ mà họ cho là hợp lý.
Tuy nhiên, các nước Thành viên có nghĩa vụ áp dụng các yêu cầu kỹ thuật một cách
không phân biệt đối xử (tuân thủ các nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia),
đồng thời đảm bảo rằng các yêu cầu này không tạo ra những trở ngại không cần thiết đối
với thương mại. Các quy định kỹ thuật (bắt buộc) không được hạn chế thương mại quá
mức cần thiết để thực hiện các mục tiêu chính đáng như bảo vệ môi trường. Còn đối với
các tiêu chuẩn kỹ thuật (không bắt buộc), Hiệp định này khuyến khích các Thành viên áp
dụng các tiêu chuẩn quốc tế để hạn chế sự khác biệt giữa các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia.
Hiệp định TBT cũng quy định nghĩa vụ thông báo các yêu cầu kỹ thuật, các quy

tiêu chí này dựa vào nhu cầu trong nước mà không tính đến điều kiện của nhà cung cấp ở
nước xuất khẩu;
- Vấn đề PPMs: Việc đưa ra các biện pháp kiểm soát nhập khẩu dựa trên các tiêu
chí về phương pháp và quy trình sản xuất gây ra tranh cãi giữa các Thành viên WTO. Các
nước Thành viên nhất trí rằng các biện pháp nhập khẩu có thể dựa trên phương pháp và
quy trình sản xuất nếu phương pháp hoặc quy trình sản xuất đó tạo nên một đặc tính của
sản phẩm: ví dụ như trường hợp cây bông được phun thuốc trừ sâu dẫn tới có dư lượng
thuốc trừ sâu trong bông. Tuy nhiên, các nước đang phát triển phản đối việc áp dụng các
biện pháp nhập khẩu dựa trên phương pháp và quy trình sản xuất không liên quan tới sản
phẩm cũng như việc sử dụng các tiêu chí một cách “phân biệt đối xử” giữa hai loại PPM
này;
- Các yêu cầu về bao gói: Một số nước đưa ra yêu cầu về bao gói đối với hàng nhập
khẩu, ví dụ: chủng loại bao gói, khả năng sử dụng lại, khả năng tái chế hoặc phân huỷ. Các
yêu cầu này tạo thêm chi phí cho các nhà xuất khẩu và có nguy cơ cản trở hàng xuất khẩu
tiếp cận thị trường. Trên thực tế, các yêu cầu này có thể được áp dụng một cách “phân biệt
đối xử” hoặc bị thao túng bởi các tập đoàn trong nước yêu cầu sự bảo hộ.
1.6. Hiệp định về Kiểm dịch động thực vật (Hiệp định SPS)
Hiệp định SPS trong WTO được đàm phán và ký kết tại Vòng Uruguay để điều
chỉnh việc áp dụng các qui định liên quan đến vấn đề an toàn thực phẩm và sức khoẻ của
động thực vật. Trước khi Hiệp định này ra đời, các biện pháp an toàn thực phẩm và bảo vệ
sức khoẻ các loài động thực vật có ảnh hưởng tới thương mại được điều chỉnh bởi các quy
định của GATT (ví dụ như các quy định về không phân biệt đối xử (Điều I, III) và về các
7
ngoại lệ chung (Điều XX)). Hiệp định về các Rào cản kỹ thuật đối với thương mại năm
1979 bao quát cả những yêu cầu kỹ thuật liên quan tới những biện pháp này. Tuy nhiên,
các nước Thành viên dần dần cho rằng các quy định nêu trên chưa giải quyết thoả đáng
những vấn đề liên quan tới các biện pháp kiểm dịch động thực vật (các biện pháp SPS).
Hiệp định thừa nhận các nước Thành viên có quyền áp dụng các biện pháp SPS vì
các mục đích sau đây (trong đó bao gồm cả những mục đích bảo vệ môi trường):
o

Bảo vệ môi trường là vấn đề được đề cập nhiều trong Hiệp định này. Đoạn thứ 6
của phần mở đầu nêu rõ rằng các cam kết theo các chương trình cải cách chính sách cần
phải tính đến vấn đề môi trường. Điều 20 của Hiệp định cũng quy định các cuộc đàm phán
về việc tiếp tục các chương trình cải cách cần phải tính đến các vấn đề phi thương mại,
trong đó có vấn đề môi trường. Cụ thể hơn, Phụ lục 2 của Hiệp định liệt kê các loại biện
pháp trợ cấp khác nhau không thuộc diện phải cam kết cắt giảm, trong đó có nhiều biện
pháp trợ cấp liên quan tới môi trường. Trong số các biện pháp này phải kể đến biện pháp
cung cấp tài chính trực tiếp cho nhà sản xuất và các chương trình hỗ trợ của chính phủ
trong lĩnh vực nghiên cứu và xây dựng cơ sở hạ tầng trong khuôn khổ các chương trình
môi trường. Tiêu chuẩn để được trợ cấp tài chính trực tiếp được xác định căn cứ vào nội
dung của các chương trình bảo tồn hoặc bảo vệ môi trường. Giá trị trợ cấp giới hạn trong
khoảng các chi phí phụ trội hoặc khoản thu nhập bị bỏ lỡ để tuân thủ các nghĩa vụ theo các
chương trình môi trường.
1.8. Hiệp định về Trợ cấp và Các biện pháp đối kháng (Hiệp định Trợ cấp)
Hiệp định Trợ cấp của WTO được áp dụng đối với các sản phẩm không phải là
nông sản. Trong khuôn khổ của Hiệp định có một số chương trình trợ cấp được gọi là trợ
cấp không bị đánh thuế đối kháng (non- actionable) được qui định tại Điều 8 và một trong
những hình thức trợ cấp đó có liên quan tới bảo vệ môi trường. Những chương trình trợ
cấp này được sử dụng "nhằm thúc đẩy việc nâng cấp các máy móc thiết bị phù hợp với yêu
cầu mới về môi trường do luật pháp quy định, làm cho các doanh nghiệp gặp khó khăn về
tài chính". Kèm theo một số điều kiện khác, trợ cấp liên quan tới môi trường nêu trên có
thể được phép chiếm tới 20% chi phí nâng cấp máy móc thiết bị.
Trợ cấp có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến môi trường. Trợ cấp mang tính
tích cực khi chúng hỗ trợ bảo vệ môi trường và mang tính tiêu cực khi chúng tạo ra những
căng thẳng về môi trường (chẳng hạn như thông qua việc khuyến khích sử dụng quá mức
các nguồn tài nguyên thiên nhiên...). Trong lĩnh vực nông nghiệp và năng lượng, trợ cấp
được xem như là một nhân tố bóp méo thương mại, đồng thời trong một chừng mực nào
đó, nó gây ra sự xuống cấp về môi trường.
Tại Vòng Uruguay, các bên đàm phán đã xem xét những đóng góp tích cực và tiêu
cực của trợ cấp đối với môi trường cũng như một loạt các qui tắc mới và ngoại lệ áp dụng

động vật và thực vật. Tuy nhiên, các thành viên phải qui định việc bảo hộ giống cây thông
qua văn bằng sáng chế hoặc một hệ thống di truyền riêng thực tế, hoặc sự kết hợp giữa hai
hệ thống này dưới mọi hình thức.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status