ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam có 3260km bờ biển, 2630 con sông có chiều dài từ 10km trở lên và 26 phân
lưu của các sông lớn, lớn nhất là vùng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long, hàng ngàn hồ
chứa nước tự nhiên và nhân tạo, với hơn 4 triệu ha đất trồng lúa… đã tạo nên các hệ sinh thái
đất ngập nước phong phú và đa dạng trong cả nước.
Đất ngập nước (ĐNN) gồm nhiều loại hình từ ao hồ, sông ngòi, đầm lầy, đồng lúa…
đến rừng ngập mặn phát triển trên đất lầy mặn ven biển, rừng tràm phát triển trên đất chua
phèn, các đầm ao nuôi trồng thủy sản, các bãi cá, rạn san hô đã tạo nên các sinh cảnh đẹp, trù
phú, đem lại nguồn lợi to lớn cho đất nước. Chúng cung cấp cho xã hội nhiều loại sản phẩm
nông – lâm nghiệp, thủy sản có giá trị kinh tế cao, cung cấp lương thực, thực phẩm, nước dùng
trong sinh hoạt, cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp. Đồng thời đây cũng là nơi sống, nơi
cung cấp thức ăn cho nhiều loài động vật hoang dã. ĐNN là nơi có đa dạng sinh học cao, đặc
biệt là các loài chim nước, trong đó có nhiều loài chim quý hiếm.
Mặc dù có vai trò to lớn về nhiều mặt, nhưng đất ngập nước thường rất nhạy cảm với
các hoạt động của con người và các tác động của thiên nhiên. Do đó việc quản lý ĐNN một
cách khôn ngoan, sao cho vừa khai thác hợp lý các tài nguyên ĐNN để phục vụ cho cuộc sống
của con người nhưng vẫn duy trì được các chức năng và thuộc tính của chúng đang trở thành
mối quan tâm của các nhà quản lý, những nhà ra quyết định đối với ĐNN.
1. Khái quát về đất ngập nước
1.1. Định nghĩa
Trên thế giới hiện đã có trên 50 định nghĩa về đất ngập nước (Mitsch and Gosselink,
1986 & 1993; Dugan, 1990) theo nhiều mức độ và mục đích khác nhau.
Theo Công ước RAMSAR thì "Đất ngập nước bao gồm: những vùng đầm lầy, đầm lầy
than bùn, những vực nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, những vùng ngập nước tạm thời hay
thường xuyên, những vực nước đứng hay chảy, là nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, kể cả
những vực nước biển có độ sâu không quá 6m khi triều thấp”
Bản đồ đất ngập nước toàn cầu
Liên đoàn bảo vệ thiên nhiên thế giới IUCN năm 1971 định nghĩa “Đất ngập nước là
những vùng đất bão hòa nước hoặc thường xuyên bị ngập nước, dù là tự nhiên, nhân tạo, ngập
nước thường xuyên hoặc định kỳ, dù là nước tĩnh hoặc nước chảy, nước ngọt nước lợ hoặc
nước mặn. Những vùng ngập nước như những đầm lầy, vũng lầy, đầm rừng, than bùn, cửa
vực từ 500 - 1000 km2 là 166. Số sông có lưu vực nhỏ hơn 500 km2 chiếm 92,55% tổng số
sông. Số sông có lưu vực nhỏ hơn 100 km2 là 1556 chiếm 66,35% tổng số sông.
1.3.2. Các hồ chứa
Theo các tài liệu hiện có, cả nước ta hiện có tổng số 68 hồ chứa nước, với tổng diện tích
242.725 ha thuộc địa bàn 38 tỉnh thành ở miền Bắc, miền Trung và Đông Nam bộ với nhiều hồ
tự nhiên nổi tiếng như: Hồ Ba Bể (Bắc Kạn), Hồ Chử (Phú Thọ) Hồ Tây (Hà Nội), Biển Hồ
(Gia Lai), Hồ Lăk (Đaklac), Hồ Biển Lạc (Bình Thuận).
3.3. Các hồ chứa nước nhân tạo
Trước năm 1945, ở Việt Nam chỉ có một số hồ chứa nước và nhà máy thuỷ điện nhỏ
như Tà Sa (825kw), Nà Ngần (750kw), Bản Thi (140kw), Bồng Miêu Ở miền Bắc sau năm
1954, nhiều hồ chứa nước đã được xây dựng như: Thác Bà, Đại Lải, Suối Hai, Núi Cốc Hiện
nay cả nước có trên 3600 hồ chứa nước nhân tạo do nhiều ngành tham gia xây dựng với mục
tiêu chống lũ, phát điện, cung cấp nước cho sinh hoạt và nuôi trồng thuỷ sản. Tính riêng các hồ
chúa nước có qui mô vừa và lớn (dung tích trên 1 triệu m3, hoặc có chiều cao đập trên 10m) thì
có khoảng 460 hồ (chiếm 13% tổng số hồ chứa). Hồ có diện tích lớn nhất là Dầu Tiếng 72.000
ha, hồ chứa có công suất lắp máy lớn nhất là Hoà Bình: 1920 MW, tiếp theo là Trị An 420
MW, Đa Nhim: 160MW, Thác Bà: 108 MW, Dray - Hling: 12MW. Tổng công suất là 2620
MW. Trong số 460 hồ chứa nước này có 285 hồ (62%) được xây dựng sau năm 1979.
Gần đây cũng đã xây dựng 4 công trình thuỷ điện ở các hồ chứa nước lớn là: Thác Mơ:
150MW, Vĩnh Sơn 66 MW, Sông Hinh 66 MW và Yaly: 690 MW. Tổng công suất là 972 MW
1.3.4. Đất ngập nước vùng đồng bằng châu thổ các sông
Việt Nam có 2 vùng châu thổ của 2 con sông lớn: Sông Hồng và sông Cửu Long. Châu
thổ sông Hồng: có độ cao so với mặt biển: 0 - 5m, diện tích 1.743.200 ha. Sông Hồng là một
con sông lớn, mỗi năm có lượng phù sa đổ ra biển khoảng 115 triệu tấn. Cây trồng chính ở đây
là lúa nước với sản lượng 3 triệu tấn thóc/ năm.
Châu thổ sông Cửu Long (Mê Kông): có độ cao so với mặt biển khoảng 5m. Diện tích
3.900.000 ha trên lãnh thổ Việt Nam và khoảng 1.600.000 ha trên lãnh thổ Campuchia. Sông
Cửu Long (Mê Kông) chảy qua biên giới 6 nước, lượng phù sa của sông tương đối thấp nhưng
hàm lượng phù sa lại cao, tạo nên năng suất thứ cấp vô cùng lớn của sông này.
1.3.5. Đất ngập nước theo mùa không thường xuyên
của Mỹ đã huỷ diệt gần 150.000 ha rừng ngập mặn. Sau giải phóng năm 1975, diện tích và chất
lượng rừng ngập mặn tiếp tục bị suy giảm. (Theo GS. Phan Nguyên Hồng )
1.4. Chức năng của đất ngập nước.
1.4.1. Chức năng nạp, tiết nước ngầm: vào mùa mưa, khi dư lượng nước mặt
lớn, các vùng ĐNN có tác dụng như một bể chứa nước để sau đó nước ngấm dần vào
lòng đất trong mùa khô. Quá trình này diễn ra liên tục nhằm bổ sung lượng nước cho
các tầng nước ngầm. Mặt khác, quá trình nạp và tiếp nước lien tục giữa vùng ĐNN với
các tang nước ngầm cũng góp phần thấm lọc, làm cho các tầng nước ngầm trở nên sạch
hơn. Ví dụ như, những vùng ĐNN dưới rừngTràm (U Minh Thượng), đóng vai trò giữ
nước, điều hòa độ ẩm, giữ cho lớp than bùn ẩm ướt. Thêm vào đó, có tác dụng hạn chế
quá trình phèn hóa, cung cấp nguồn nước cho sinh hoạt quanh năm cho người dân và
động vật.
1.4.2. Chức năng lắng đọng trầm tích, độc tố: các vùng ĐNN (đặc biệt là hồ,
rừng ngập mặn,bãi triều, vùng vịnh ven bờ…) có tác dụng như là các bể lắng giữ lại
trầm tích, các chất ô nhiễm, độc hại và chất thải nói chung, góp phần làm sạch nước và
ô nhiễm môi trường nước biển.
1.4.3. Chức năng tích lũy chất dinh dưỡng: giữ lại các chất dinh dưỡng (nitơ,
phốt pho, các nguyên tố vi lượng…) cho sinh vật, phát triển nguồn lợi thủy sản và lâm
nghiệp, hạn chế bớt hiện tượng phú dưỡng như ở các vùng ĐBSH, ĐBSCL và các thủy
vực khác.
1.4.4. Chức năng điều hòa vi khí hậu: đặc biệt, ở vùng có cỏ biển, rừng ngập
mặn, rạn san hô, góp phần cân bằng O2 và CO2 trong khí quyển, điều hòa khí hậu địa
phương (nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa) và giảm hiệu ứng nhà kính. Theo tính toán của
Jim Enright vàYadfon Association (2000), rừng ngập mặn có khả năng tích lũy CO2 ở
mức độ cao, rừng ngập mặn 15 tuổi giảm được 90,24 tấn CO2/ ha/năm, tác dụng lớn
làm giảm hiệu ứng nhà kính.
1.4.5. Chức năng hạn chế lũ lụt: ĐNN ( rừng ngập mặn, hồ tự nhiên, hồ nhân
tạo…) có thể đóng vai trò như bồn chứa lưu giữ, điều hòa lượng nước mưa và long
chảy mặt, góp phần giảm lưu lượng dòng chảy lũ và hạn chế lũ lụt ở các vùng lân cận
như hồ Hòa Bình, hồ Thác Bà, hồ Trị An,…
Hệ sinh thái đất ngập nước ven biển( rừng ngập mặn, rạn san hô, cửa sông….) có khoảng
350 loài san hô tạo rạn (bao gồm các nhóm động vật thân mềm và giáp xác), 15 loài cỏ biển
( cỏ Nàn, cỏ Xoan đơn, cỏ Xoan, cỏ Vic, cỏ lá dừa, cỏ lươn nhật, cỏ kim…), 667 loài rong biển
, 94 loài thực vật ngập mặn ( Sếu Cổ Trụi, cây Tráng, rừng tràm, rừng đước…)
ĐNN vùng cửa sông là nơi cư trú của các loài chim định cư và di cư có nét độc đáo về sinh
cảnh tự nhiên, chưa đựng giá trị đa dạng sinh thái lớn.
Hiện nay sản lượng khai thác thủy sản rất cao ( Việt Nam đạt 2536 triệu tấn), chủ yếu là
các loài tôm, cua, cá….
Duy trì và cung cấp các loài gen quý hiếm như Trai Ngọc, Bào ngư, Đồi mồi, Bò biển
2. TÌNH TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN SUY THOÁI ĐẤT NGẬP NƯỚC
Số lượng kiểu loại và diện tích đất ngập nước nhân tạo tăng lên nhưng diện tích các
kiểu đất ngập nước tự nhiên giảm đi ngày càng mạnh;
Chất lượng môi trường các hệ sinh thái đất ngập nước bị suy thoái ngày càng mạnh, đa
dạng sinh học các vùng đất ngập nước có xu hướng giảm;
Rừng ngập mặn, trong gần 5 thập kỷ qua, diện tích đã giảm hơn 70% do chất độc hóa
học (trước đây) và phong trào nuôi tôm công nghiệp (gần đây). Hệ sinh thái biển và nguồn lợi
hải sản cũng bị suy thoái và là một trong những vấn đề môi trường bức súc nhất, đặc biệt là các
HST san hô và cỏ biển. Kết quả điều tra từ năm 2004 đến 2007 tại 7 vùng rạn san hô trọng
điểm của Việt nam cho thấy chỉ 2,9 % diện tích rạn san hô được đánh giá trong điều kiện phát
triển rất tốt, 11,6% - tốt và 44,9% xấu và rất xấu.
Tài nguyên nước trong các hệ thống sông, hồ chứa trên cả nước đang bị suy thoái ngày
càng nghiêm trọng. Hai nguyên nhân chủ yếu là do sự khai thác quá mức cho những mục đích
khác nhau và BĐKH.
Các đe doạ đối với đất ngập nước có xu hướng gia tăng như thiên tai, sức ép dân số,
khai thác quá mức và bất hợp lý, bất cập về phương thức, quá trình đô thị hóa, các hoạt động
công – nông nghiệp, biến đổi khí hậu, cơ chế, bộ máy quản lý, thiếu sự kết hợp giữa chiến lược
phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên, môi trường
3. QUẢN LÝ HỆ SINH THÁI ĐẤT NGẬP NƯỚC
3.1. Nguyên tắc, định hướng:
• Khai thác sử dụng ĐNN một cách khôn khéo, không làm biến đổi các chức năng
vùng ĐNN giai đoạn 2004-2010;
• Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam (1995). Hiện nay đang dự thảo “Kế hoạch
hành động về ĐDSH của Việt Nam đến 2015 và định hướng năm 2020”;
• Dự thảo: “Kế hoạch hành động quốc gia nhằm ngăn ngừa các xu hướng suy thoái môi
trường Biển Đông và vịnh Thái Lan đến năm 2010, trong khuôn khổ của Dự án UNEP/GÈ
“Ngăn ngừa các xu hướng suy thoái môi trường Biển Đông và Vịnh Thái Lan”. Kế hoạch này
bao gồm Kế hoạch hành động của các hợp phần: rừng ngập măn, Cỏ biển, rạn san hô, ĐNN
ven biển, bảo vệ nguồn thủy sản và chống ô nhiễm từ đất liền.
3.2.2. Một số giải pháp cụ thể
1. Quan trắc ĐNN - Wetland Monitoring
Cũng giống như hầu hết các HST, các vùng ĐNN thay đổi qua nhiều năm. Vì vậy, công
tác quan trắc, đánh giá sự biến động của các HST ĐNN là một trong những nhiệm vụ quan
trọng của công tác quản lý.
Các dữ liệu quan trắc là rất cần thiết để xác định liệu các mục tiêu của dự án có thể đạt
được hay không.
Sử dụng các quan trắc trong thời gian dài để trợ giúp trong việc duy trì các công trình
và quản lý các khu vực để giữ cho nó vận hành theo đúng chức năng.
Ví dụ:
Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ còn gọi là Rừng Sác là một quần thể gồm các loài
động, thực vật rừng trên cạn và thuỷ sinh, được hình thành trên vùng châu thổ rộng lớn của các
cửa sông Đồng Nai, Sài gòn và Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây.
Tổng diện tích khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ là 75.740 ha, trong đó:
vùng lõi 4.721 ha, vùng đệm 41.139 ha, và vùng chuyển tiếp 29.880 ha Diện tích rừng đã phủ
xanh hơn 31 nghìn héc-ta, trong đó có gần 20 nghìn héc-ta rừng trồng, hơn 11 nghìn héc-ta
được khoanh nuôi tái sinh tự nhiên và các loại rừng khác.
Về thực vật: nhiều loại cây, chủ yếu là bần trắng, mấm trắng, các quần hợp đước đôi -
bần trắng cùng xu ổi, trang, đưng v.v… và các loại nước lợ như bần chua, ô rô, dừa lá, ráng,
v.v… Thảm cỏ biển với các loài ưu thế Halophyla sp., Halodule sp., và Thalassia sp.; đất canh
tác nông nghiệp với lúa, khoai mỡ, các loại đậu, dừa, các loại cây ăn quả.
Về động vật: khu hệ động vật thủy sinh không xương sống với trên 700 loài, khu hệ cá
nguồn lợi sinh vật tự tái sinh kết hợp nuôi trồng các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao.
- Chống ô nhiễm trong HST đầm phá.
- Không chuyển đổi mục đích sử dụng đầm phá một cách tùy tiện.
3. Phục hồi ĐNN
Mục đích của việc phục hồi ĐNN là khôi phục lại các chức năng và giá trị của các HST
ĐNN đã bị thay đổi do chuyển đổi mục đích sử dụng thông qua việc khôi phục lại chế độ thủy
văn và thảm thực vật trở về như lúc ban đầu.
Các hoạt động chủ đạo hướng tới việc phục hồi:
- Loại bỏ các nhân tố gây mất mát hay suy thoái ĐNN và để tự nhiên làm công việc
phục hồi.
- Tạo điều kiện cho sự tái sinh tự nhiên của các quần xã thực vật ĐNN, tái thiết lập nơi
ở một cách tự nhiên của các động vật, và khôi phục lại thủy văn và nền đất của ĐNN.
4. Xây dựng các vùng đất ngập nước:
- Xây dựng các vùng đất ngập nước là việc tạo ra một vùng ĐNN ở nơi mà trước đó
nó chưa từng tồn tại – thường là một việc khó khăn.
-Thách thức lớn nhất trong dự án xây dựng các vùng đất ngập nước là đem nước tới
vị trí mà nó chưa từng có và thiết lập một hệ thực vật trên nền đất mà không phải là đất no ẩm
(hydric).
Các yếu tố của việc thiết kế một dự án phục hồi hay xây dựng các vùng ĐNN thông
thường là:
- Các tiêu chí để lựa chọn địa điểm (site-selection criteria),
- Phân tích thủy văn (hydrologic analysis),
- Nguồn nước và chất lượng nước (water source and quality),
- Sự thêm vào các chất nền (substrate augmentation and handling),
- Chọn giống cây trồng (plant material selection and handling),
- Sự sắp đặt các vùng đệm (buffer zones placement),
- Quản lý trong thời gian dài (long-term management).
5. Công tác trồng rừng và phòng chống cháy rừng
6. Nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục và nhận thức về đất ngập nước.
Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về ĐNN, về vai trò ĐNN đến nhũng
khai thác quá mức và bất hợp lý, bất cập về phương thức, cơ chế, bộ máy quản lý, thiếu sự kết
hợp giữa chiến lược phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên, môi trường