ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA MÔI TRƯỜNG
c:dTiểu luận
ÁP DỤNG NGUYÊN LÝ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ KHÁNG THUỐC BẢO VỆ
THỰC VẬT Ở NƯỚC TA
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS. Lưu Đức Hải
Nhóm thực hiện: Nhóm 8
1. Đặng Thị Huyền 5. Vũ Thị Thanh
2. Hoàng Thị Tin 6. Lê Thị Lệ Quyên
3. Đỗ Thị Thu Lan 7. Trần Thị Lan Phương
4. Nguyễn Thị Thu Hà (1982)
Lớp: Cao học môi trường K19
Hà Nội 3/2012
Tiểu luận nhóm 8- Cao học Môi trường K19
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN 4
I.1. Khái quát về thuốc bảo vệ thực vật 4
I.2. Tình hình sản xuất và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam: 5
CHƯƠNG II. TÁC ĐỘNG CỦA THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
ĐẾN KINH TẾ VÀ MÔI TRƯỜNG 7
II.1. Tác động tới kinh tế 7
II.2. Các tác động đến môi trường 7
II.2.1. Tác động đến quần thể sv 7
II.2.2. Ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người 8
III.3.1. Nguyên lý bảo toàn vật chất 11
III.3.2. Các nguyên lý sinh thái học 12
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN
I.1. Khái quát về thuốc bảo vệ thực vật
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) hay nông dược là những chất độc có nguồn gốc
từ tự nhiên hay hóa chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống
lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại đến tài nguyên thực vật. Những sinh vật gây
hại chính gồm sâu hại, bệnh hại, cỏ dại, chuột và các tác nhân khác.
Căn cứ vào mục đích sử dụng có thể chia thuốc bảo vệ thực vật gồm các loại:
- Thuốc trừ sâu - Thuốc trừ ve
- Thuốc trừ ốc, sên - Thuốc trừ tuyến trùng
- Thuốc trừ gậm nhấm - Thuốc trừ vi khuẩn
- Thuốc trừ nấm mốc - Thuốc trừ cỏ…
Căn cứ vào bản chất hóa học có thể chia thuốc BVTV thành các nhóm sau:
- Thuốc BVTV thuộc nhóm hợp chất Clo hữu cơ: Sự ra đời của nhóm thuốc Clo
hữu cơ đánh dấu kỷ nguyên sản xuất TBVTV tổng hợp. Điển hình của nhóm này là
DDT, Lindan, Endosulfan. Hầu hết các loại TBVTV thuộc nhóm này đã bị cấm sử
dụng vì chúng là các chất hữu cơ khó phân huỷ, tồn lưu lâu trong môi trường.
- Thuốc BVTV thuộc nhóm Lân hữu cơ: Là các este của axit phosphoric. Đây là
nhóm thuốc rất độc với người và động vật máu nóng, điển hình của nhóm này là
Methyl Parathion, Ethyl Parathion, Mehtamidophos, Malathion Hầu hết các loại
thuốc BVTV trong nhóm này cũng đã bị cấm do độc tính của chúng cao.
- Thuốc BVTV thuộc nhóm Carbamat: Là các este của axit Carbamic có phổ
phòng trừ rộng, thời gian cách ly ngắn, điển hình của nhóm này là Bassa, Carbosulfan,
Lannate
- Thuốc BVTV thuộc nhóm Pyrethroid: Là nhóm thuốc BVTV tổng hợp giống
các Pyrethroid trong hoa cúc. Đây là nhóm thuốc BVTV có độc tính thấp nhưng lại rất
độc với cá và ong. Nhóm này có nhiều hoạt chất như Cypermethin, Permethin,
Delthametrin, Fenvalerat
Thuốc bảo vệ thực vật có hiệu lực đối với dịch hại bằng nhiều cách khác nhau
như qua đường ruột, qua miệng, qua da, qua hít thở
4
5
Tiểu luận nhóm 8- Cao học Môi trường K19
Bảng 1 - Mức độ sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam qua các năm
Năm
Diện tích
canh tác
(triệu ha)
Khối lượng thuốc nhập
khẩu (tấn thành phẩm quy
đổi)
Lượng thuốc bình
quân cho 1 ha
(kg.a.i)
Trước 1990 8,9 13.000 - 15.000 0,3 - 0,4
1990 9,0 15.000 0,5
1991 9,4 20.300 0,67
1992 9,7 23.100 0,77
1993 9,9 24.800 0,62
1994 10,4 20.380 0,66
1995 10,5 25.666 0,85
1996 10,5 32.751 1,06
1997 10,5 30.406 1,01
1998 10,5 42.738 1,35
1999 10,5 33.715 1,05
Nguồn: Cục Bảo vệ thực vật, 2001
Lượng thuốc BVTV sử dụng tăng rõ rệt, song lượng các thuốc BVTV có tính độc
cao lại có xu hướng giảm (xem bảng 1). Mặc dầu một số loại thuốc BVTV đã nằm trong
danh mục cấm sử dụng nhưng thực tế ở một số nơi vẫn có biểu hiện sử dụng chúng.
Nguồn thuốc trôi nổi đi cùng với kinh doanh trái phép khiến thuốc BVTV càng
mở rộng phạm vi gây hại.
con người ngày càng dễ có nguy cơ bị ngộ độc thực phẩm và ảnh hưởng tiêu cực tới
sức khoẻ dẫn đến tăng chi phí dành cho y tế.
II.2. Các tác động đến môi trường
Thuốc bảo vệ thực vật tuy đem lại hiệu quả trong việc phòng trừ sâu bệnh và
tăng năng suất cây trồng nhưng đồng thời có tác động không nhỏ tới môi trường.
II.2.1. Tác động đến quần thể sv
a. Tác động đến cây trồng
- Do sử dụng với cây trồng ở nồng độ cao hoặc tổng lượng cao nên làm cho
thuốc bảo vệ thực vật tác động tới mô, tế bào của cây trồng gây ra hiệu ứng cháy, táp
lá, thân, làm ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây. Các triệu chứng và mức
độ tác động rất đa dạng.
b. Tác động đến vi sinh vật
- Do sử dụng không hợp lý nên thuốc hóa học bảo vệ thực vật có tác động xấu
đến quần thể sinh vật có ích trên đồng ruộng, trong đất, nước; làm phá vỡ cân bằng đã
ổn định của quần thể sinh vật.
- Do sử dụng một số thuốc liên tục hoặc nhiều loại thuốc có tính năng gần
giống nhau nên hình thành các dạng dịch hại đột biến có khả năng chịu đựng cao với
thuốc hóa học bảo vệ thực vật.
7
Tiểu luận nhóm 8- Cao học Môi trường K19
- Làm phát sinh ra những đối tượng gây hại mới và có thể gây hiện tượng tái
phát của sâu, bệnh hại.
II.2.2. Ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người
- Do sử dụng không hợp lý: nồng độ, liều lượng quá cao, thời gian cách ly
ngắn, sử dụng các loại thuốc đã bị cấm sử dụng, tình trạng vứt bao bì thuốc BVTV
bừa bãi sau sử dụng, rửa bình bơm và dụng cụ pha chế thuốc BVTV không đúng nơi
quy định, thuốc hóa học bảo vệ thực vật đã gây ra ô nhiễm môi trường đất, nước,
không khí và nông sản.
- Gây độc cho bản thân người phun thuốc do không hiểu đúng cách phòng trừ
và bảo vệ đối với người tiếp xúc trực tiếp .
thành hoặc không nở được, sâu non bị chết sau khi nở, không hoá nhộng hoặc không
trưởng thành được.
e. Triệt sản: Là những chất phá huỷ khả năng sinh sản của côn trùng.
f. Cơ chế tác động của thuốc vi sinh trừ sâu: Các thuốc trừ sâu từ vi khuẩn
Bacillus thuringiensis gây bệnh cho sâu bởi các độc tố do vi sinh vật sản sinh ra. Sâu
ăn phải thuốc có chứa bào tử vi khuẩn, ở ruột sâu, vi khuẩn phát triển và sinh ra độc tố.
2. Thuốc trừ bệnh: Có 2 cơ chế tác động chính:
a. Tác động trực tiếp: Ức chế các phản ứng sinh tổng hợp trong tế bào của vi
sinh vật gây bệnh.
b. Tác động gián tiếp: Thuốc làm tăng sức đề kháng của cây ký chủ đối với ký
sinh.
9
Tiểu luận nhóm 8- Cao học Môi trường K19
3. Thuốc trừ cỏ:
- Hình thành các hoocmon kích thích sinh trưởng giả
- Ức chế quá trình quang hợp:
- Ức chế tổng hợp sắc tố (chlorophyl và carotenoid)
- Ức chế phân chia tế bào (phá vỡ quá trình phân bào nguyên nhiễm):
- Ức chế tổng hợp vitamin (tổng hợp Folate)
- Ức chế tổng hợp Lipid
- Ức chế tổng hợp Aminoacid (Leucin, Valin, Glutamin)
4. Thuốc trừ chuột: Có 3 cơ chế chính:
- Gây chết nhanh.
- Gây chết chậm
- Gây bệnh cho chuột
5. Chất điều hoà sinh trưởng cây trồng: Các chất này chủ yếu là kích thích sinh
trưởng cây trồng theo cơ chế chính là:
- Kích thích tăng trưởng thể tích tế bào ở lá, thân, quả.
- Kích thích hình thành tế bào mới, làm tăng cường sự nảy chồi, đâm rễ, ra hoa.
- Bổ xung và tăng cường hoạt động của các men trong quá trình sinh tổng hợp
thường tích lũy trong mô mỡ.
Các chất hữu cơ khó phân hủy có thể hấp thụ dễ dàng vào các mô béo và tích tụ
trong cơ thể của các sinh vật sống, mật độ các chất này trở lên cao hơn theo chiều lên
của chuỗi thức ăn, đặc biệt là trong các loài sinh vật lớn hơn và sống lâu hơn.
Một số loại thuốc trừ sâu có tính năng hoá học ổn định, khó phân huỷ, nên sẽ
tích luỹ trong môi trường. Sau nhiều lần sử dụng lượng tích luỹ này có thể cao đến
mức gây độc cho môi trường.
DDT giết chết khá nhiều chim chuyên ăn côn trùng có hại. Do DDT có thành
phần tương đối ổn định nên khó bị phân giải trong môi trường tự nhiên và thâm nhập
vào cơ thể các loại chim theo hệ thống nước, thực vật phù du, động vật phù du, tôm cá
nhỏ DDT khi ở trong nước có nồng độ không đáng kể, nhưng khi xâm nhập vào cơ
thể chim, nồng độ của DDT sẽ tăng lên hàng triệu lần khiến chim nếu không bị chết
cũng mất khả năng sinh sản. Đây là điều mà con người không ngờ tới
Cũng do được sử dụng khắp thế giới, DDT qua nước và thực phẩm xâm nhập
vào cơ thể con người, phá hủy nội tiết tố giới tính của con người, gây ra các bệnh về
11
Tiểu luận nhóm 8- Cao học Môi trường K19
thần kinh, ảnh hưởng tới công năng của gan. Hậu quả này xảy ra cũng ngoài dự kiến
của con người.
Năm 1974 toàn thế giới hoàn toàn ngừng sản xuất DDT, nhưng hậu quả của
DDT trong môi trường còn rất nghiêm trọng. DDT có thời gian bán phân hủy 20-30
năm. Theo dự đoán của các nhà khoa học, phải đến sau năm 1993 DDT trong nước
biển mới phân hủy về cơ bản.
III.3.2. Các nguyên lý sinh thái học
a. Sự thích nghi:
Hệ quả 4: Việc sử dụng thuốc trừ sâu mới tạo nên kết quả tốt vào năm đầu,
nhưng sau đó, côn trùng trở nên kháng thuốc.
Sử dụng thuốc BVTV không đúng kỹ thuật sẽ gây hiện tượng sâu hại quen
thuốc dẫn đến kháng thuốc và chống thuốc, số lượng sâu hại sẽ tăng lên theo cấp số
nhân và nhanh chóng trở thành 1 quần thể dịch hại kháng thuốc. Vì vậy mỗi loại thuốc
như cường độ thuốc bảo vệ thực vật với tính tự phát, những thói quen sử dụng thuốc,
từ những vùng miền khác nhau. Thuốc bảo vệ thực vật ra đời cũng tạo ra phương án
tối ưu tiêu diệt nhanh các loài sâu bệnh hại, tuy nhiên nó đã phát sinh đủ loại, đủ cấp
sâu bệnh khác nhau kháng thuốc:
1)Trong một vòng đời, một số sâu bệnh sinh ra trong môi trường thuốc hàm
lượng ít do phun với liệu lượng nhẹ hoặc đang bị phân huỷ, không gây chết sẽ tạo
sức đề kháng cho lần phun thuốc sau.
2)Trong một thế hệ, khi 1 lớp sâu bệnh trải qua một vòng đời khi tiếp xúc liên
tục với hoá chất, sẽ tạo sự chọn lọc, những cá thể khoẻ với thuốc, sẽ sinh ra thế hệ con
khoẻ với thuốc, cứ thế 1vài năm, vài chục năm sẽ tạo ra loại sâu bệnh kháng thuốc.
3) Do tập tính, có một số sâu bệnh, như nhện đỏ, sâu xanh da láng vv… chúng
thường sinh sôi nơi ẩn khuất, ít bị trực tiếp với chúng, mà chúng chỉ được ngửi hơi của
thuốc, chỉ là môi trường rèn luyện cho chúng miễn dịch như là một loại vaccin của
chúng vậy.
b. Tương tác giữa hai hay nhiều loại
Hệ quả 12: Các trường hợp lạm dụng thuốc trừ sâu bỏ qua các nguyên lý sinh
thái, không những không kiểm soát được sâu bệnh mà còn làm cho số lượng sâu gia
tăng.
Phun thuốc BVTV trên đồng ruộng không chỉ tiêu diệt các loài sâu, bệnh, cỏ
dại gây hại cây trồng mà còn tiêu diệt các loài thiên địch có ích. Đa số các loài thiên
địch bị tiêu diệt trước và chết nhiều hơn do chúng dễ mẫn cảm với thuốc BVTV hơn
nhiều so với các loài sâu hại. Thực tế rất nhiều loại chim có ích đã bị chết vì thuốc trừ
sâu, trứng của nhiều loại chim bị nhiễm thuốc trừ sâu không thể nở thành chim non
được. Trong khi đó các loại sâu bọ có hại sinh sôi nảy nở rất nhanh và mau chóng
nhờn thuốc. Tuy phun với liều lượng lớn, chúng vẫn không chết mà vẫn sinh sôi nảy
nở. Thuốc sâu càng phun nhiều càng làm ô nhiễm không khí, nước, đất và cây trồng.
13
Tiểu luận nhóm 8- Cao học Môi trường K19
Bên cạnh đó, các loài sâu hại sau khi bị phun thuốc, những cá thể còn sống sẽ
phục hồi quần thể nhanh hơn nhiều so với các loài thiên địch vì các loại thuốc BVTV
của thuốc hóa học, bảo vệ môi trường cũng như sức khoẻ con người. Một số loại thuốc
TTSSH:
14
Tiểu luận nhóm 8- Cao học Môi trường K19
- Thuốc trừ sâu sinh học trị các loại sâu cuốn lá, sâu khoang.
- Thuốc trừ sâu sinh học diệt trừ sâu đục thân, sâu xám, mối.
- Thuốc trừ sâu sinh học DyLan 2EC trừ sâu, diệt nhện an toàn cho chè, rau .
15
Tiểu luận nhóm 8- Cao học Môi trường K19
CHƯƠNG IV. CÁC GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐÊ
Nguyên nhân chính gây ra hiện tượng nhờn thuốc ở sâu bệnh chính là do việc
sử dụng thuốc không hợp lý, không đúng kỹ thuật của bà con nông dân. Vì vậy, khi sử
dụng thuốc cần phải có kiến thức nhất định để ngăn ngừa hoặc hạn chế tác hại của
thuốc có thể gây nên đối với chính bản thân người sản xuất, người tiêu dùng, cây
trồng, vật nuôi và môi trường sống, đồng thời phát huy những mặt tích cực của nó. Để
đảm bảo sử dụng thuốc BVTV có hiệu quả, cần thực hiện các biện pháp sau:
IV.1. Về pháp lý
- Nhà nước cần có chế độ ưu đãi, hỗ trợ cho các chương trình sản xuất và ứng
dụng các sản phẩm hữu cơ, vi sinh vào công tác phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên
thực vật.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ
thực vật. Phối hợp các lực lượng liên ngành trong kiểm tra, kiểm soát việc nhập lậu
thuốc BVTV.
IV.2. Về kỹ thuật
- Sử dụng thuốc khi thực sự cần thiết:
Cần thường xuyên kiểm tra tình hình dịch hại trên đồng ruộng để quyết định có
cần dùng thuốc hay không. Không nên phun thuốc định kỳ nhiều lần mà không dựa
vào tình hình dịch hại.
- Áp dụng kỹ thuật sử dụng thuốc theo nguyên tắc “4 đúng”
+ Đúng thuốc: Căn cứ đối tượng dịch hại cần diệt trừ và cây trồng hoặc nông
17
Tiểu luận nhóm 8- Cao học Môi trường K19
KẾT LUẬN
Thuốc BVTV là một loại vật tư kỹ thuật quan trọng góp phần hạn chế dịch hại,
bảo vệ cây trồng, là yếu tố quan trọng giữ vững và nâng cao sản lượng, chất lượng
nông sản.Tuy nhiên, do các loại thuốc BVTV thường là các chất hoá học có độc tính
cao nên mặt trái của thuốc BVTV là rất độc hại với sức khoẻ cộng đồng và là một đối
tượng có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường sinh thái nếu không được quản lý chặt
chẽ và sử dụng đúng cách.
Tình hình quản lí thuốc BVTV còn rất lỏng lẻo dẫn đến việc sử dụng thuốc giả,
thuốc kém chất lượng ngày một gia tăng. Người dân chỉ chú trọng đến mục đích diệt
trừ sâu bệnh mà không cần quan tâm đến các vấn đề môi trường và sức khoẻ cộng
đồng. Mức độ tiếp cận thông tin về thuốc BVTV của người dân còn rất hạn chế dẫn
đến thiếu những hiểu biết cơ bản khi dùng thuốc và tự bảo vệ mình. Phương thức trộn
thuốc tuỳ tiện, tự phát không tuân thủ các quy định về kỹ thuật và an toàn lao động;
tăng liều lượng, tần suất phun chỉ với mục giết hết sâu bệnh; ý thức về bảo hộ lao động
và sức khoẻ cộng đồng còn rất thấp, đa số người dân phun thuốc đều chưa đủ điều kiện
về phòng hộ lao động khi phun thuốc.
Trong nền nông nghiệp thâm canh cao hiện nay, việc tăng liều lượng thuốc,
tăng số lần phun thuốc, dùng thuốc BVTV không theo hướng dẫn, lạm dụng thuốc
BVTV đã dẫn đến hậu quả gây ra hiện tượng kháng thuốc, làm thuốc mất hiệu lực, để
lại tồn dư thuốc BVTV quá mức cho phép trong nông sản, thực phẩm, gây ảnh hưởng
đến sức khỏe con người và môi trường.
Các nguyên lý sinh thái đã giải thích rõ ràng và cụ thể hơn các tác động của
thuốc BVTV đối với môi trường và sức khỏe con người. Đồng thời cũng thấy được
ảnh hưởng mạnh mẽ của việc lạm dụng thuốc BVTV gây ra hiện tượng kháng thuốc,
làm bùng phát dịch hại trên diện rộng, gây thiệt hại về kinh tế, môi trường và phát
triển nông nghiệp thiếu bền vững.
Vì vậy vấn đề cần nhất hiện nay là đề xuất được giải pháp kiểm soát dịch hại
tổng hợp một cách hiệu quả, thân thiện với môi trường góp phần phát triển nông