1
CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN MÔN TRIẾT TỰ LUẬN VÀ ĐÁP ÁN
Câu 1 - /40
1. Thế giới quan là gì? Anh/Chị hãy phân tích và so sánh các hình thức cơ bản của nó.
a. Thế giới quan:
+ Định nghĩa: thế giới quan là toàn bộ các quan niệm, quan điểm của con người về thế giới, về bản thân
con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới ấy.
+ Kết cấu: Các quan niệm, quan điểm của thế giới quan bao giờ cũng hoà quyện trong mình tri thức với
niềm tin, lý trí với tình cảm, sự thật với những điều hoang đường… trãi rộng trên khắp các lĩnh vực
(kinh tế, chính trị, đạo đức, nghệ thuật…), trên khắp các cấp độ hoạt động của nhận thức (cảm tính, lý
tính, kinh nghiệm – lý luận, đời thường và khoa học…) của con người.
+ Chức năng: TGQ vừa là lăng kính để qua đó, con người nhìn nhận, suy tư, chiêm nghiệm về thế giới;
vừa là cẩm nang hướng dẫn cuộc sống cho con người. TGQ có nhiều chức năng, nhưng chức năng
chính của nó là định hướng hoạt động nhận thức và thực tiễn cho con người trong thế giới mà họ đang
sống.
+ Phân loại:
* Dựa vào chủ thể: TGQ chia thành TGQ cá nhân và TGQ cộng đồng (giai cấp)
* Dựa vào nội dung, TGQ chia thành TGQ thần thoại, TGQ tôn giáo, TGQ triết học và TGQ khoa học.
b. Phân tích và so sánh các hình thức cơ bản của thế giới quan: (sưu tầm)
b1. TGQ thần thoại:
+ Khái niệm: Là TGQ chứa đầy những hình ảnh cảm tính hoang đường hòa quyện vào lý trí ngây thơ
của con người nguyên thủy mông muội về TG muôn loài xung quanh
+ Thời điểm xuất hiện: Từ cộng đồng người nguyên thủy, khi họ muốn giải thích các hiện tượng tự
nhiên, cố truy tìm cội nguồn của cộng đồng mình trong những tưởng tượng viễn vông.
+ Thể hiện: Qua các truyền thuyết, các huyền thoại hoang đường (câu chuyện thần thoại)
+ Đặc điểm: Cố giải thích “các lực lượng của tự nhiên trong tưởng tượng và nhờ trí tưởng tượng”, moi
TGQ thần thoại “đều truy tìm nguồn gốc thị tộc”.
b2. TGQ tôn giáo:
+ Khái niệm: Là TGQ dựa trên niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của các lực lượng siêu nhiên, thần
thánh để giải thích mọi hiện tượng xảy ra trong giới tự nhiên, trần tục và quy định hành vi, thái độ của
con người đối với lực lượng siêu nhiên, thần thánh đó.
một (hay vài) dạng vật chất cụ thể cảm tính nào đó mà sự biến đổi theo lẽ tự nhiên của nó làm cho vạn
vật trong thế giới (bao gồm cả con người hay đời sống tinh thần của họ) được sinh ra hay bị hủy diệt.
- TGQ duy vật chất phác xuất hiện vào thời cổ đại, khi mà hoạt động thực tiễn của con người còn quá
thấp, khi mà nhận thức con người còn quá ngây thơ, đơn giản, chủ yếu dựa trên những kinh nghiệm đời
thường.
- TGQ duy vật chất phác được thể hiện trong tư tưởng của trường phái triết học duy vật như: trường
phái âm dương – ngũ hành, trường phái Milê, trường phái Lôkayata, trường phái nguyên tử… Nó là
TGQ của một bộ phận giai cấp chủ nô hay tầng lớp quý tộc tiến bộ thống trị trong xã hội.
1.2 Thành tựu:
- TGQ duy vật chất phác không dựa vào cái siêu nhiên hay lòng tin, đức tin tôn giáo mà dựa vào cái tự
nhiên, dựa vào lý trí hay lẽ phải đời thường của chính con người để lý giải thế giới và đời sống của họ.
- TGQ duy vật chất phác đã đặt ra những vấn đề mà triết học và khoa học đời sau phải giải đáp; do vậy,
nó thúc đẩy hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người phát triển, nó góp phần củng cố
sức mạnh tinh thần cho các lực lượng chính trị tiến bộ trong XH
1.3 Hạn chế:
- TGQ duy vật chất phác thường đồng nhất vật chất với vật thể cụ thể; do đó, nó thường mang tính trực
quan, tính phỏng đoán, thiếu chứng cứ khoa học.
- TGQ duy vật chất phác không triệt để, vì nó không lý giải được bản tính của các hiện tượng tinh thần
cũng như mối quan hệ giữa cái tinh thần và cái vật chất; nó chỉ giải thích thế giới chứ chưa thật sự góp
phần cải tạo thế giới.
2. Thế giới quan duy vật siêu hình:
2.1 Thực chất:
- TGQ duy vật siêu hình là một hệ thống các quan điểm, quan niệm khá chặt chẽ về TG và con người.
Các quan điểm, quan niệm của TG này đều xuất phát từ luận điểm cơ bản cho rằng, cơ sở của vạn vật
là các phần tử chất gián đoạn hay một môi trường vật chất lien tục nào đó; mà sự vận động, biến đổi
của nó theo các quy luật cơ học (tự nhiên) làm cho vạn vật trong thế giới (bao gồm cả con người và đời
sống tinh thần của họ) được sinh thành hay bị hủy diệt.
- TGQ duy vật siêu hình biểu hiện rõ nét nhất vào thế kỷ XVII – XVIII ở Tây Âu, khi quan điểm cơ
học và PP phân tích mang lại rất nhiều kết quả đáng khích lệ. Nó là kết quả của việc đề cao quan điểm
cơ học và PP phân tích… khi mà khoa học tự nhiên (trừ cơ học) còn quá thô sơ, chủ yếu dựa trên
Nội dung của CNDVBC với tính cách hạt nhân lý luận của thế giới quan khoa học bao gồm hai nhóm
quan niệm. Đó là nhóm quan niệm duy vật về thế giới nói chung và quan niệm duy vật về xã hội nói
riêng.
a/ Quan điểm duy vật về thế giới: thể hiện ở chỗ CNDVBC coi vật chất của thế giới là vật chất và thế
giới thống nhất ở tính vật chất của nó, được diễn tả bởi những nội dung sau đây:
- Nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới: Chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế
giới vật chất, thế giới vật chất tồn tại khách quan vĩnh viễn vô hạn, không ai sinh ra và tiêu diệt được
nó.
- Phạm trù vật chất: Tất cả các sự vật hiện tượng đều là những dạng tồn tại cụ thể của vật chất hay là
những thuộc tính cụ thể của vật chất và trong thế giới này không có gì khác ngoài vật chất đang vận
động.
- Các sự vật hiện tượng trong thế giới vật chất đều nằm trong mối quan hệ chuyển hóa lẫn nhau là
nguyên nhân và kết quả lẫn nhau và đều bị chi phối bởi những qui luật chung giống nhau.
- Phạm trù ý thức: Ý thức là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan; nó mang bản tính phản ánh-
sáng tạo-xã hội. Ý thức tồn tại trước hết trong bộ óc con người, và sau đó, thông qua thực tiễn lao
động, nó được vật chất hoá và có được sự tồn tại mới trong các vật phẩm do con người sang tạo ra. Ý
thức có cấu trúc phức tạp bao gồm nhiều yếu tố như tri thức, tình cảm, niềm tin, lý trí, … trong đó, tri
thức (yếu tố cốt lõi) và tình cảm có vai trò quan trọng, thống nhất, chuyển hoá lẫn nhau. Sự thống nhất
giữa tri thức và tình cảm tạo ra động lực tinh thần mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động con người, góp phần
làm cho con người trở thành chủ thể sang tạo ra lịch sử.
- Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:
4
+ Vật chất và ý thức đối lập nhau, tuy nhiên, “sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối
trong những phạm vi hết sức hạn chế…” – V.I.Lênin: Toàn tập, T.18, Nxb Tiến bộ, Matxcova, 1980,
tr.1973
+ Vật chất quyết định nguồn gốc (tự nhiên và xã hội), quyết định nội dung thể hiện, phương thức tồn
tại và quyết định cả vai trò và tác dụng của ý thức. Tuy nhiên, ý thức có tính độc lập tương đối, vì vậy
khi thông qua hoạt động thực tiễn, mà trước hết là thực tiễn lao động, ý thức con người xâm nhập vào
hiện thực vật chất, nhờ đó, nó có được sức mạnh của cái tinh thần. Dựa trên sức mạnh này, ý thức tác
động đến thế giới, góp phần làm cho thế giới biến đổi. Cả giới tự nhiên thứ hai hay đời sống xã hội của
trị - xã hội, dưới sự lãnh đạo của các lãnh tụ - cá nhân có nhân cách vĩ đại, biết tập hợp, giác ngộ, tổ
chức QCNH để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể do lịch sử đặt ra.
2. Phân tích bản chất
Bản chất của CNDVBC với tính cách là hạt nhân của thế giới quan khoa học được biểu hiện như sau:
a. Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học từ quan điểm thực tiễn
- Chủ nghĩa duy tâm nhận thấy tính năng động sáng tạo của ý thức nhưng nó đã tuyệt đối hoá, thần
thánh hoá ý thức thành cái siêu nhiên, thần thánh, đưa ý thức thoát ra khỏi thế giới tự nhiên và đời sống
xã hội của con người (vật chất), để sau đó quay về chi phối thế giới tự nhiên và đời sống xã hội con
người (vật chất). Trong khi đó, chủ nghĩa duy vật cũ lại thiếu quan điểm thực tiễn, đầy tính trực quan
và tính máy móc, nên không nhìn thấy được tính năng động sáng tạo của ý thức, không nhận thấy được
5
vai trò quan trọng của ý thức trong đời sống của con người.
- Khắc phục những nhược điểm trên, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định vật chất có trước và
quyết định ý thức; trọng hoạt động thực tiễn, ý thức con người xâm nhập vào lực lượng vật chất, thông
qua những lực lượng vật chất, nó tác động tích cực làm biến đổi hiện thực vật chất (khách quan) theo
nhu cầu (chủ quan) của con người.
b. Thống nhất thế giới quan duy vật với phép biện chứng
- Chủ nghĩa duy vật cũ, kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiobac mang nặng tính siêu hình, vì vậy những
lý giải về thế giới của nó thường phiến diện, rời rạc, máy móc, còn phép biện chứng chủ yếu được
nghiên cứu trong các hệ thống triết học duy tâm, đặc biệt là hệ thống triết học duy tâm của Heghen nên
nó thường tư biện, thần bí.
- Dựa trên thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản và các thành tựu khoa học lúc bấy giờ, C.Mác đã cải
tạo triệt để chủ nghĩa duy vật cũ để giải thoát chủ nghĩa duy vật ra khỏi tính siêu hình; đồng thời C.Mác
cũng cải tạo triệt để phép biện chứng duy tâm để giải thoát phép biện chứng ra khỏi tính thần bí, tư
biện; từ đó, C.Mác xây dựng nên chủ nghĩa duy vật biện chứng hay phép biện chứng duy vật. C.Mác đã
thống nhất thế giới quan duy vật với phép biện chứng.
c. Tính duy vật triệt để: CNDVBC không chỉ duy vật trong lĩnh vực tự nhiên mà còn duy vật trong lĩnh
vực xã hội.
d. Tính thực tiễn – cách mạng: CNDVBC hướng dẫn con người trong hoạt động thực tiễn cải tạo thế
giới.
· Thế giới vật chất tồn tại khách quan, vĩnh viễn, vô hạn, vô tận
· Trong thế giới vật chất chỉ tồn tại các sự vật, quá trình vật chất cụ thể, có một mức độ tổ chức nhất
định; đang biến đổi, chuyển hóa lẫn nhau; là nguồn gốc, nguyên nhân của nhau; cùng chịu sự chi phối
bởi các quy luật khách quan của thế giới vật chất.
· Ý thức, tư duy (tinh thần) con người chỉ là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao - bộ óc con
người và vật chất xã hội. Thế giới vật chất thống nhất và duy nhất.
- Phạm trù vật chất - phạm trù cơ bản, xuất phát của triết học duy vật biện chứng
· “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong
cảm giác, được cảm giác của chúng ta ghép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm
giác”
· “Trong thế giới, không có gì ngoài vật chất đang vận động và vật chất đang vận động không thể vận
động ở đâu ngoài không gian và thời gian”
- Phạm trù ý thức:
· Ý thức là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan, nó mang bản tính phản ánh – sáng tạo – xã hội.
· Ý thức tồn tại trước hết trong bộ óc con người, và sau đó, thông qua thực tiễn lao động, nó được vật
chất hóa và có được sự tồn tại mới trong các vật phẩm do con người sáng tạo ra.
· Ý thức có cấu trúc rất phức tạp bao gồm các yếu tố như: tri thức, tình cảm, niềm tin, lý trí, ý chí…
trong đó, tri thức (yếu tố cốt lõi) và tình cảm có vai trò rất quan trọng.
· Tri thức là kết quả của quá trình con người nhận thức thế giới, nó phản ánh những hiểu biết của chủ
thể về khách thể. Tình cảm là những rung động tâm lý khá ổn định phản ánh thái độ của chủ thể - cá
nhân con người - trước khách thể - hiện thực. Tri thức và tình cảm thống nhất, chuyển hóa lẫn nhau, sự
thống nhất của chúng tạo ra động lực tinh thần mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động của con người, góp phần
làm cho con người trở thành chủ thể sáng tạo ra lịch sử.
- Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:
· Vật chất và ý thức đối lập nhau, tuy nhiên sự đối lập chỉ là tương đối.
· Vật chất quyết định nguồn gốc (tự nhiên và xã hội), tuyết định nội dung thể hiện, phương thức tồn tại
và quyết định cả vai trò và tác dụng của ý thức.
· Tuy nhiên, ý thức có tính độc lập tương đối, vì vậy khi thông qua hoạt động thực tiễn, mà trước hết là
thực tiễn lao động, ý thức con người xâm nhập vào hiện thực vật chất, nhờ đó, nó có được sức mạnh
của cái tinh thần. Dựa vào sức mạnh này, ý thức tác động đến thế giới, góp phần làm cho thế giới biến
- Quần chúng nhân dân là chủ thể chân chính sáng tạo ra lịch sử:
· Quần chúng nhân dân là lực lượng trực tiếp sản xuất ra mọi của cải vật chất, sáng tạo ra mọi giá trị
tinh thần, là lực lượng quyết định thành bại của mọi cuộc biến đổi cách mạng xảy ra trong xã hội.
· Trong điều kiện lịch sử khác nhau, vai trò chủ thể của quần chúng nhân dân biểu hiện khác nhau.
Cùng với quá trình giải phóng quần chúng nhân dân ra khỏi các lực lượng đen tối của tự nhiên và xã
hội, vai trò sang tạo ra lịch sử của quần chúng nhân dân càng ngày càng to lớn.
· Sức mạnh của quần chúng nhân dân chỉ thật sự được phát huy cao độ khi họ được hướng dẫn bởi các
tổ chức chính trị - xã hội, dưới sự lãnh đạo của các lãnh tụ - cá nhân có nhân cách vĩ đại.
2. Bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng với tính cách là hạt nhân của thế giới khoa học:
2.1 Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học từ quan điểm thực tiễn:
- Chủ nghĩa duy vật cũ thiếu quan điểm thực tiễn, đầy tính trực quan và máy móc, nên không nhìn thấy
được tính năng động sáng tạo của ý thức, không nhận thấy được vai trò quan trọng của ý thức trong đời
sống của con người.
- Khi khắc phục những nhược điểm trên, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định vật chất có trước và
quyết định ý thức; trong hoạt động thực tiễn, ý thức con người xâm nhập vào lực lượng vật chất, thông
qua những lực lượng vật chất, nó tác động tích cực làm biến đổi hiện thực vật chất (khách quan) theo
nhu cầu (chủ quan) của con người. Như vậy, chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ đối lập của chủ
nghĩa duy tâm (cả duy tâm khách quan lẫn duy tâm chủ quan) mà còn đối lập với chủ nghĩa duy vật
tầm thường.
2.2 Thống nhát thế giới quan duy vật với phép biện chứng:
- Chủ nghĩa duy vật cũ (thế kỷ XVII – XVIII), kể cả CN duy vật của Phoiơbắc mang nặng tính siêu
hình, phép biện chứng chủ yếu được nghiên cứu trong các hệ thống triết học duy tâm, đặc biệt là hệ
thống triết học duy tâm của Hêghen nên nó thường tư biện, thần bí.
- C.Mác đã cải tạo triệt để CNDV cũ để giải thoát CNDV ra khỏi tính siêu hình; đồng thời C.Mác cũng
cải tạo triệt để phép biện chứng duy tâm để giải thoát phép biện chứng ra khỏi tính thần bí, tư biện; từ
đó, C.Mác xây dựng nên CNDVBC hay phép biện chứng duy vật. C.Mác đã thống nhất TGQ duy vật
với phép biện chứng.
2.3 Tính duy vật triệt để:
- CNDVBC không chỉ duy vật trong lĩnh vực tự nhiên mà con duy vật trong lĩnh vực xã hội; CNDV
lịch sử là cống hiến vĩ đại của C.Mác cho kho tàng tư tưởng của loài người.
- CNDVBC là một hệ thống mở, là kim chỉ năm cho hành động.
Câu 3/ Chương 5/ Trang 40
TRẢ LỜI
1. Nội dung: Có2 nhóm quan điểm:
Quan điểm duy vật về thế giới:
Ø Tồn tại của thế giới là tiền đề thống nhất thế giới: Trước khi thế giới có thể là một thể thống nhất thì
trước hết thế giới phải tồn tại. Tính thống nhất thật sự của thế giới là ở tính vật chất của nó, tính vật
chất này được chứng minh bằng một sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học và khoa học tự
nhiên.
Ø Nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới, có nội dung như sau:
§ Thế giới vật chất tồn tại khách quan, vĩnh viễn, vô hạn, vô tận.
§ Trong thế giới vật chất chỉ tồn tại các quá trình vật chất cụ thể, có mức độ tổ chức nhất định; đang
biến đổi chuyển hóa lẫn nhau là nguồn gốc, nguyên nhân của nhau; cùng chịu sự chi phối bởi các quy
luật khách quan của TGVC.
§ Ý thức, tư duy con người chỉ là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao; thế giới thống nhất
và duy nhất.
Ø Phạm trù vật chất: vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại
cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không
phụ thuộc vào cảm giác.
Ø Phạm trù ý thức, quan hệ giữa ý thức và vật chất: Ý thức của con người tồn tại trước hết trong bộ óc
con người, sau đó thông qua thực tiễn lao động nó tồn tại trong các vật phẩm do con người sáng tạo ra.
Ý thức gồm nhiều yếu tố: tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí… trong đó tri thức và tình cảm có vai trò
rất quan trọng. Thông qua hoạt động thực tiễn, ý thức con người xâm nhập vào hiện thực vật chất tạo
nên sức mạnh tinh thần tác động lên thế giới góp phần biến đổi thế giới.
9
Quan điểm duy vật về xã hội:
Ø Xã hội là một bộ phận đặc thù của tự nhiên, nó là kết quả phát triển lâu dài của tự nhiên, có quy luật
vận động, phát triển riêng, sự vận động, phát triển của xã hội phải thông qua hoạt động thực tiễn.
Ø Sản xuất vật chất là cơ sở đời sống xã hội: Nền sản xuất vật chất trong từng giai đoạn lịch sử gắn liền
với một phương tiện sản xuất nhất định, sự thay đổi PTSX sẽ làm thay đổi mọi mặt của đời sống xã
Phân tích cơ sở lý luận, nếu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của
chủ ngĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng nghuyên tắc này
như thế nào vào sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta?
Câu trả lời:
1. Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng:
Khắc phục những hạn chế của nguyên tắc khách quan trong triết học tư sản thời cận đại (không thể hiện
được tầm quan trọng của nhân tố chủ quan, của ý thức trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực
tiễn của con người); đồng thời chỉ ra sai lầm của các trào lưu triết học duy tâm (tuyệt đối hoá nhân tố
chủ quan), chủ nghĩa duy vật biện chứng, dựa trên nội dung lý luận của nguyên lý thống nhất thế giới
trong tính vật chất, xây dựng các yêu cầu của nguyên tắc khách quan.
- Vật chất có trước tư duy. Vật chất tồn tại vĩnh viễn; khi vật chất phát triển ở một giai đoạn nhất định
10
của mình, nó sản sinh ra tư duy. Do tư duy phản ánh thế giới vật chất, nên quá trình nhận thức phải
xuất phát từ bản thân hoặc bản chất của đối tượng; từ đó, rút ra những sơ đồ, tái tạo trong tư duy các
hình tượng, tư tưởng – cái logic phát triển của chính đối tượng đó.
- “Nghệ thuật” chinh phục bản chất của sự vật, hiện tượng (tìm kiếm, chọn lựa, sử dụng những con
đường, cách thức, phương tiện thâm nhập hữu hiệu vào “thế giới” bên trong của sự vật, hiện tượng) sẽ
làm cho sự vật, hiện tượng có một cái gì đó xa lạ với chính nó. Vậy, để suy nghĩ của chúng ta về sự vật
là khách quan, phù hợp với chúng, nguyên tắc khách quan cần được bổ sung thêm yêu cầu phát huy
tính năng động sang tạo của chủ thể và nguyên tắc về tính đảng.
+ Giới tự nhiên và xã hội không bộc lộ tất cả bản chất của mình thành các hiện tượng điển hình. Do đó,
để phản ánh khách thể như một chỉnh thể, chủ thể tư duy phải phát huy tính năng động sáng tạo, tức là
phải biến đổi, thậm chí cải tạo đối tượng theo hướng phù hợp với quy luật của hiện thực và của lĩnh
vực nghiên cứu.
+ Các hiện tượng xã hội bao gồm cả vật chất và tinh thần, chứa đầy những cái chủ quan, những cái lý
tưởng; và luôn chịu sự tác động của các lực lượng tự phát của tự nhiên lẫn các lực lượng tự giác của
con người. Trong trường hợp này, khách tể tư duy và chủ thể tư duy quyện chặt vào nhau bằng hệ
thống những mối liên hệ xã hội chằng chịt. Do đó, trong nhận thức các hiện tượng xã hội, cần kết hợp
nguyên tắc khách quan với yêu cầu phát huy tính năng động và sáng tạo của chủ thể và nguyên tắc tính
đảng. Nghĩa là, nguyên tắc khách quan trong xem xét phải: Xuất phát từ chính đối tượng; Phân biệt
11
Đảng ta kết luận: “Mọi đường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật
khách quan”.
b) Phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò của các yếu tố chủ quan (tình cảm, ý
chí, lý trí,…), tức là phát huy vai trò nhân tố con người trong hoạt động nhân thức và thực tiễn cải tạo
đất nước. Cụ thể:
- Coi sự thống nhất nhiệt tình cách mạng và tri thức khoa học là động lực tinh thần thúc đẩy công cuộc
Đổi mới; Chống lại thái độ thủ động, ỷ lại, bảo thủ, trì trệ; Bồi dưỡng nhiệt tình, phẩm chất cách mạng;
Khơi đậy lòng yêu nước, ý chí quật cường, tài trí người Việt Nam; Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và tận
dụng nhân tài.
- Coi trọng và đẩy mạnh giáo dục tư tưởng (chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh); Nâng
cao và đổi mới tư duy lý luận (về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội)
- Phổ biến tri thức khoa học cho cán bộ, Đảng viên, nhân dân.
- Kiên quyết khắc phục và ngăn ngừa tái diễn bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ, hành động giản
đơn, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan ảo tưởng, bất chấp quy luật khách quan.
CÂU HỎI: CÂU 4 / 40
Anh (hãy) phân tích cơ sở lý luận, nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách
quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng nguyên
tắc này như thế nào vào sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta?
Cơ sở lý luận:
1. Phép biện chứng:
a. Khái niệm phép biện chứng:
Biện chứng khách quan là phạm trù dùng để chỉ biện chứng của bản thân sự vật, hiện tượng, quá trình
tồn tại độc lập và ở bên ngoài ý thức con người.
Biện chứng chủ quan là phạm trù dùng để chỉ tư duy biện chứng và biện chứng của chính quá trình
phản ánh hiện thực khách quan vào bộ não của con người.
Phép biện chứng với tư cách là một học thuyết, một lý luận triết học, đó là biện chứng chủ quan, là sự
phản ánh khách quan vào trong bộ não của con người.
Ph. Ăngghen định nghĩa: “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến
của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”.
nhau, sự ảnh hưởng,sự tương tác và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới hay
giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính của sự vật hiện tượng, một quá trình.
Liên hệ phổ biến là một khái niệm dùng để chỉ mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới (cả tự nhiên, xã
hội và tư duy) dù đa dạng phong phú, nhưng đều nằm trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng
khác; đều chịu sự chi phối, tác động ảnh hưởng của sự vật, hiện tượng.
Cơ sơ của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới. Bởi lẽ, dù các sự vật trong thế
giới có đa dạng đến đâu chăng nữa thì cũng là những hình thức tồn tại cụ thể của vật chất. Cho nên,
chúng đều chịu sự chi của quy luật vật chất. Ngay cả thức, tinh thần cũng là thuộc tính của một dạng
vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người. Do vậy, ý thức tinh thần cũng bị chi phối bởi quy luật vật
chất.
+ Các tính chất của mối liên hệ:
Theo triết học duy vật biện chứng, mối liện hệ có các tính chất sau:
Tính khách quan – nghĩa là, mối liên hệ không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, chỉ phụ
thuộc vào bản thân sự vật, hiện tượng. Mối liên hệ là mối liên hệ vốn có của bản thân sự vật, hiện
tượng.
Tính phổ biến – nghĩa là, mối liên hệ tồn tại cả trong tự nhiên, xã hội và tư duy; có ở cả mọi lúc, mọi
nơi. Ngay trong cùng một sự vật, hiện tượng, trong bất kỳ thời gian nào, không gian nào luôn có mối
liên hệ giữa các yếu tố cấu thành sự vật.
Tính đa dạng, phong phú – rất nhiều mối liên hệ khác nhau phụ thuộc vào góc độ xem xét; chẳng hạn
mối liên hệ bên trong – bên ngoài; mối liên hệ tất nhiên –ngẫu nhiên; mối liên hệ trực tiếp – gián tiếp;
mối liên hệ chủ yếu – thứ yếu; mối liên hệ xa – gần,… Mỗi cặp mối liên hệ này có vai trò khác nhau
trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. sự phân chia của các cặp mối liên hệ này
cũng chỉ là tương đối.
+ Ý nghĩa phương pháp luận:
Từ tính khách quan và mối quan hệ phổ biến của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức
và thực tiễn cần có quan điểm toàn diện.
Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và xử lý tình huống thực tiễn cần phải xem xét sự vật
trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật
và trong sự tác động qua lại giữa các sự vật đó với các sự vật khác. Như vậy, quan điểm toàn diện đối
lập với quan điểm phiến diện, siêu hình trong nhận thức và thực tiễn.
Các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng:
Thế giới vật chất tồn tại khách quan, vĩnh viễn, vô hạn, vô tận; trong nó không gì khác ngoài những
quá trình vật chất đang biến đổi và chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc nguyên nhân của nguyên nhân.
Việc quán triệt nguyên lý về sự thống nhất về thế giới trong tính vật chất, xác định đúng mối quan hệ
giữa vật chất và ý thức, hiểu rõ vai trò và tác dụng của ý thức đến hoạt động cải tạo thế giới của con
người sẽ giúp chúng ta vạch ra nguyên tắc khách quan nhằm điều chỉnh hoạt động nhận thức đúng đắn
và thực tiễn cải tạo thế giới một cách hiệu quả. Nguyên tắc này yêu cầu:
Trong hoạt động nhận thức, chủ thể cần phải:
Một là, xuất phát từ hiện thực khách quan, tái hiện lại nó như nó vốn có mà không được tùy tiện đưa ra
những nhận định, đánh giá chủ quan.
Hai là, biết phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể, đưa ra các giả thuyết khoa học về khách thể,
đồng thời biết cách tiến hành những thí nghiệm để kiểm chứng các giả thuyết đó.
Trong hoạt động thực tiễn, chủ thể cần phải:
Một là, xuất phát từ hiện thực khách quan, phát hiện ra nhưng quy luật chi phối nó.
Hai là, dựa trên các quy luật khách quan đó vạch ra các mục tiêu, kế hoạch, tìm kiếm các biện pháp,
phương thức để tổ chức thực hiện, kịp thời điều chỉnh, uốn nắn hoạt động của con người theo lới ích và
mục tiêu được đặt ra.
Nghĩa là, chủ thể phải biết lấy hiện thực khách quan (thực tế) chứ không phải lấu ý muốn, tình cảm chủ
quan làm căn cứ cho mọi hoạt động cải tạo thế giới của mình. Còn trong mọi hoạt động cải tạo thế giới
của mình cần biết phát huy tính năng động sáng tạo của hiện thực chủ quan (ý thức).
Nguyên tắc khách quan đối lập với chủ nghĩa chủ quan duy ý chí, đồng thời nó cũng xa lạ với thái độ
thờ ơ lãnh đạm, thụ động, chờ thời.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào sự nghiệp cách mạng
hiện nay ở nước ta?
Công cuộc đổi mới hiện nay do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo là dựa trên nguyên
tắc khách quan của phép biện chứng duy vật, đặc biệt đã và đang vận dụng nguyên tắc này vào sự
14
nghiệp cách mạng nước ta trong tình hình mới. Nguyên tắc khách quan được quán triệt đi từ nhận thức
đến hành động, nhận thức đúng từ đó chúng ta đề ra những phương thức, biện pháp để giải quyết đưa
sự nghiệp cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Quá trình này đòi hỏi sự nhận thức đúng
nguyện vọng chủ quan ảo tưởng biểu hiện trong một số chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Xuất phát từ hiện thực khách quan của nước ta yếu kém về năng lực tư duy, lạc hậu về lý luận, ít kinh
nghiệm trong xây dựng và quản lý đất nước. Đồng thời do sai lầm ấu trĩ “tả” khuynh, xảy ra trong một
điều kiện lịch sử rất đặc biệt của dân tộc ta (Biết phát huy tối đa sức mạnh tinh thần, khao khát thoát ra
khỏi cuộc sống lầm than, nô lệ) nhưng lại không xuất phát từ hiện thực, bất chấp quy luật khách quan,
coi thường tri thức khoa học nên tạo ra những chính sách sai lầm, gây ra những hậu quả về nhiều mặt
(kinh tế, xã hội ) rất nghiêm trọng & kéo dài.
Trước thời kỳ đổi mới (ĐH6), Đảng ta đã mắc bệnh chủ quan, duy ý chí trong việc xây dựng mục tiêu
và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỷ thuật, cải tạo XHCN và quản lý kinh tế, Đảng ta đã nóng vội
muốn xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, muốn sau khi cải tạo XHCN chỉ còn lại hai thành
phần: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể hay có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp
nặng mà không chú ý phát triển công nghiệp nhẹ, chúng ta đã duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập
trung quan liêu bao cấp cơ chế xin cho, có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền lương,
15
tiền tệ.
Để khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp. Trước hết phải đổi
mới tư duy lý luận, nâng cao năng lực trí tuệ, trình độ lý luận của Đảng, trong hoạt động thực tiễn phải
tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, đổi mới tổ chức
và phương thức hoạt động của hệ thống chí trị, chống bảo thủ, trì trệ, quan liêu. Phải nhận thức đúng
đắn và hành động phù hợp với hệ thống quy luật khách quan, trong đó các quy luật đặc thù của CNXH
ngày càng chi phối mạnh mẽ phương hướng phát triển chung của xã hội. Tiêu chuẩn đánh giá sự vận
động đúng đắn các quy luật thông qua chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là sản xuất phát
triển, lưu thông thông suốt, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được ổn định và
nâng cao, con người mới XHCN ngày càng hình thành rõ nét, xã hội ngày càng lành mạnh, chế độ
XHCN ngày càng được cũng cố. Điều đó là điều kiện đảm bảo sự dẫn dắt đúng đắn của Đảng. Mọi chủ
trương, chính sách gây tác động ngược lại là biểu hiện sự vận dụng không đúng quy luật khách quan,
phải được sửa đổi hai bãi bỏ.
Trên cơ sở quy luật khách quan đó, Đảng ta khẳng định “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải
xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”. Để làm được điều đó, chúng ta phải tôn trọng hiện
thực khách quan, tôn trọng vai trò quyết định của vật chất.
16
Ø Coi trọng công tác tư tưởng, đẩy mạnh giáo dục tư tưởng (chủ nghĩa Mác–Lênin, tư tưởng HCM);
Nâng cao và đổi mới tư duy lý luận (về CNXH & con đường đi lên CNXH);
Ø Phổ biến tri thức KH cho cán bộ, đảng viên, nhân dân.
Ø Kiên quyết khắc phục & ngăn ngừa tái diễn bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ, hành động giản
đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan ảo tưởng; bất chấp quy luật khách quan.
Chương 5 trang 40 - Câu 6: Bằng lý luận và thực tiễn, anh/chị hãy chứng minh rằng ý thức con
người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo thế giới?
Ý thức là một trong hai phạm trù thuộc vấn đề cơ bản của triết học. Nó là hình thức cao của sự phản
ánh của thực tại khách quan, hình thức mà riêng con người mới có. Ý thức của con người là cơ năng
của cái “ khối vật chất đặc biệt phức tạp mà người ta gọi là bộ óc con người” (theo LêNin).
Ý thức của con người tồn tại trước hết trong bộ óc của con người và sau đó, thông qua thực tiễn lao
động, nó tồn tại trong các vật phẩm do con người sáng tạo ra (vật chất xã hội – vật chất mang/chứa ý
thức). Ý thức bao gồm nhiều yếu tố như tri thức, tình cảm, niềm tin, lý trí, ý chí…. Trong đó, tri thức
(yếu tố cốt lõi) và tình cảm có vai trò rất quan trọng. Tri thức và tình cảm thống nhất, chuyển hoá lẫn
nhau; sự thống nhất của chúng tạo ra động lực tinh thần mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động của con người,
góp phần làm cho con người trở thành chủ thể sáng tạo ra lịch sử.
Thông qua hoạt động thực tiễn, mà trước hết là thực tiễn lao động, ý thức con người xâm nhập vào hiện
thực vật chất, nhờ đó, nó có được sức mạnh của cái tinh thần. Dựa trên sức mạnh này, ý thức tác động
đến thế giới, góp phần làm cho thế giới biến đổi. Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn
góp phần sáng tạo nên thế giới theo nhu cầu thực tiễn xã hội.
Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ra rất phong phú. Trên cơ sở những cái đã có trước, ý thức có khả
năng tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế, có thể tiên đoán, dự
báo tương lai, có thể tạo ra những ảo tưởng, những huyền thoại, những giả thuyết khoa học hết sức trừu
tượng và khái quát cao. Những khả năng ấy càng nói lên tính chất phức tạp và phong phú của đời sống
tâm lý – ý thức ở con người mà khoa học còn phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu để làm sáng tỏ bản chất
của những hiện tượng ấy.
Ý thức ra đời trong quá trình con người hoạt động cải tạo thế giới, cho nên quá trình phản ánh hiện
thực khách quan vào bộ óc người là quá trình năng động sáng tạo, thống nhất 3 mặt sau:
Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh. Sự trao đổi này mang tính chất hai chiều,
Như vậy, ý thức mà biểu hiện trong đời sống xã hội là các vấn đề khoa học- văn hoá- tư tưởng có vai
trò vô cùng quan trọng. Tìm hiểu về ý thức và tri thức để có những biện pháp đúng đắn tạo điều kiện
cho sự phát triển toàn diện xã hội.
Câu 6 - Chương 5 - Bằng lý luận và thực tiễn, anh/chị hãy chứng minh rằng ý thức con người
không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo thế giới?
Ý thức là một trong hai phạm trù thuộc vấn đề cơ bản của triết học. Nó là hình thức cao của sự phản
ánh của thực tại khách quan, hình thức mà riêng con người mới có. Ý thức của con người là cơ năng
của cái “ khối vật chất đặc biệt phức tạp mà người ta gọi là bộ óc con người” (theo LêNin).
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người, song đây là sự phản ánh đặc biệt –
phản ánh trong quá trình con người cải tạo thế giới. Quá trình ấy diển ra ở 3 mặt: sự trao đổi thông tin
giữa chủ thể và đối tượng phản ánh, mô hình hoá đối tượng trong tư duy hình ảnh tinh thần và chuyển
vào mô hình hoá từ tư duy ra hiện thực khách quan hay gọi là hiện thực hoá mô hình tư duy - đây là
giai đoạn cải tạo hiện thực khách quan. Chủ nghĩa duy vật biện chứng còn cho rằng ý thức không phải
là hiện tượng tự nhiên thuần tuý mà còn gọi là hiện tượng xã hội ý thức bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử
xã hội, phản ánh những quan hệ xã hội khách quan. Đây chính là bản chất xã hội của ý thức.
Ý thức của con người tồn tại trước hết trong bộ óc của con người và sau đó, thông qua thực tiễn lao
động, nó tồn tại trong các vật phẩm do con người sáng tạo ra (vật chất xã hội – vật chất mang/chứa ý
thức). Ý thức bao gồm nhiều yếu tố như tri thức, tình cảm, niềm tin, lý trí, ý chí…. Trong đó, tri thức
(yếu tố cốt lõi) và tình cảm có vai trò rất quan trọng. Tri thức và tình cảm thống nhất, chuyển hoá lẫn
nhau; sự thống nhất của chúng tạo ra động lực tinh thần mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động của con người,
góp phần làm cho con người trở thành chủ thể sáng tạo ra lịch sử.
Thông qua hoạt động thực tiễn, mà trước hết là thực tiễn lao động, ý thức con người xâm nhập vào hiện
thực vật chất, nhờ đó, nó có được sức mạnh của cái tinh thần. Dựa trên sức mạnh này, ý thức tác động
đến thế giới, góp phần làm cho thế giới biến đổi. Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn
góp phần sáng tạo nên thế giới theo nhu cầu thực tiễn xã hội.
Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ra rất phong phú. Trên cơ sở những cái đã có trước, ý thức có khả
năng tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế, có thể tiên đoán, dự
báo tương lai, có thể tạo ra những ảo tưởng, những huyền thoại, những giả thuyết khoa học hết sức trừu
tượng và khái quát cao. Mặt khác, thông qua quá trình lao động, ý thức con người nhận biết và phát
triển các quy trình, những cái có sẳn lên một tầm cao mới phục vụ tốt hơn cho con người, đồng thời mở
ro có thể xảy ra, những hạn chế, những thất bại có thể có trong quá trình hoạt động. Như vậy LL không
chỉ giúp con người hoạt động có hiệu quả mà còn:
-Là cơ sở để khắc phục những hạn chế hiểu biết của con người.
-Là cơ sở để tăng năng lực hoạt động của con người
-LL có vai trò giác ngộ mục tiêu, lý tưởng của con người.
-Liên kết các cá nhân thành cộng đồng, tạo thành sức mạnh cải tạo tự nhiên và xã hội.
Từ LL xây dựng mô hình TT theo những mục đích khác nhau của quá trình hoạt động, dự báo các diễn
biến, các mối quan hệ, lực lượng tiến hành và những phát sinh của nó trong quá trình phát triển để phát
huy các nhân tố tích cực, hạn chế được những yếu tố tiêu cực. Vì vậy có thể nói rằng TT cao hơn LL,
vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến mà cả tính hiện thực trực tiếp.
Chính vì vậy, C.Mác đã nói rằng: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê
phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng
sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”.
Chương 5 trang 40
Câu 7: Anh/Chị hãy phân tích hoàn cảnh xuất hiện, nội dung và ý nghĩa triết học câu nói của
C.Mác: "Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực
lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực
lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng"
- Hoàn cảnh xuất hiện: trong Lời nói đầu của bộ “ Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêgen”
của C.Mác - Gồm ba tác phẩm của Mác phê phán quan điểm của Hêghen về nhà nước và pháp quyền.
Sự tán dương của tác giả với chế độ quân chủ lập hiến, chế độ quan liêu và quân chủ Phổ. Nêu vai trò
19
lịch sử của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh nhằm cải tổ xã hội.
- Nội dung và ý nghĩa triết học:
+Nội dung: Ở đây, "Vũ khí của sự phê phán" và "lý luận" là khoa học, tư tưởng khoa học, lý luận khoa
học, còn "sự phê phán của vũ khí” và "lực lượng vật chất" là hoạt động vật chất, hoạt động thực tiễn
của con người. Như vậy, C Mác đã giải trình rất rõ ràng, lý luận khoa học phải thông qua hoạt động của
con người thì mới trở thành lực lượng vật chất.
Khoa học vốn là sản phẩm của tư duy, của trí tuệ. Nếu không thông qua hoạt động của người lao động
(công nhân, nông dân, tầng lớp trí thức…), mà chỉ tự bản thân nó thôi, thì như Mác nói khoa học không
hoá lẫn nhau.
Sự thống nhất của các mặt đối lập còn biểu hiện ở sự tác động ngang nhau của chúng. Song đó chỉ là
trạng thái vận động của mâu thuẫn ở một giai đoạn phát triển khi diễn ra sự cân bằng của các mặt đối
lập.
Các mặt đối lập không chỉ thống nhất, mà còn luôn “đấu tranh” với nhau. Đấu tranh của các mặt đối lập
là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó. Hình thức đấu tranh
của các mặt đối lập hết sức phong phú, đa dạng, tuỳ thuộc vào tính chất, vào mối liên hệ qua lại giữa
các mặt đối lập và tuỳ điều kiện cụ thể diễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng.
20
Câu hỏi số: 1 Chương số 6 G - Anh/ chị hãy trình bày khái quát các hình thức lịch sử của phép
biện chứng?
Cùng với sự phát triển của tư duy con người, phương pháp biện chứng đã qua ba giai đoạn phát triển,
được thể hiện trong triết học với ba hình thức lịch sử của nó: Phép biện chứng tự phát, phép biện chứng
duy tâm, phép biện chứng duy vật.
+ Hình thức thứ nhất là phép biện chứng tự phát thời cổ đại. Các nhà biện chứng cả phương Đông lẫn
phương Tây thời kỳ này đã thấy các sự vật, hiện tượng của vũ trụ sinh thành, biến hóa trong những sợi
dây liên kết vô tận. Tuy nhiên những gì các nhà biện chứng thấy được chỉ là trực kiến, chưa phải là kết
quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học.
+ Hình thức thứ hai là phép biện chứng duy tâm. Đỉnh cao của hình thức này được thể hiện trong triết
học cổ điển Đức, người khởi đầu là Cantơ và người hoàn thiện là Heghen. Có thể nói, lần đầu tiên
trong lịch sử phát triển của tư duy nhân loại, các nhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống
những nội dung quan trọng nhất của phương pháp biện chứng. Song theo họ biện chứng ở đây bắt đầu
từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần, thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm nên biện chứng của các
nhà triết học cổ điển Đức là biện chứng duy tâm.
+Hình thức thứ ba là phép biện chứng duy vật. Phép biện chứng duy vật được thể hiện trong triết học
do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng, sau đó được V.I.Lênin phát triển. C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ
tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép trong phép biện chứng duy tâm để xây
dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển
dưới hình thức hoàn bị nhất.
Câu 2 (chương 6, trang 86) :Nêu những yêu cầu phương pháp luận và phân tích cơ sở lý luận của
ràng buộc lẫn nhau.Mối liên hệ tồn tại khách quan, phổ biến và đa dạng.
- Trong muôn vàn mối liên hệ chi phối sự tồn tại của chúng có những mối liên hệ phổ biến, chúng chi
phối một cách tổng quát quá trình vận động phát triển của mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong thế giới
- Phân tích:
+ Quan điểm biện chứng cho rằng mối liên hệ là sự tác động qua lại, ràng buộc lẫn nhau mà sự thay đổi
cái này sẽ tất yếu kéo theo sự thay đổi cái kia.Đối lập với sự liên hệ là sự tách biệt.Sự tách biệt cũng là
sự tác động qua lại nhưng sự thay đổi cái này sẽ không tất yếu kéo theo sự thay đổi cái kia.Các sự vật,
hiện tượng , quá trình khác nhau trong thế giới vừa tách biệt nhau, vừa liên hệ ràng buộc, thâm nhập,
chuyển háo lẫn nhau, thế giới là một hệ thống chỉnh thể thống nhất mà mọi yếu tố bộ phận của nó luôn
tác động qua lại chuyển hóa lẫn nhau.
+ Quan điểm biện chứng duy vật luôn cho rằng cơ sở của sự liên hệ qua lại, ràng buộc lẫn nhau đó ở
trong vật chất, và mối liên hệ mang tính khách quan – tức tồn tại không phụ thuộc vào ý thức con
người, và mang tính phổ biến – tức tồn tại trong mọi sự vật hiện tượng, trong mọi lĩnh vực hiện thực
+ Mối liên hệ phổ biến là mối liên hệ giữa các mặt các thuộc tính đối lập tồn tại trong mọi sự vật, hiện
tượng, trong mọi lĩnh vực hiện thực, nó được nhận thức trong các (cặp) phạm trù biện chứng và là đối
tượng nghiên cứu của phép biện chứng duy vật nhằm phát hiện ra các quy luật phổ biến chi phối một
cách tổng quát sự tồn tại, vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng, quá trình xảy ra trong thế
giới- cả hiện thực khách quan lẫn chủ quan
3. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt
động thực tiễn
- Quán triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tắc toàn diện sẽ giúp chủ thể khắc phục được chủ nghĩa phiến
diện, chủ nghĩa chiết trung, chủ nghĩa ngụy biện trong hoạt động thực tiễn và nhận thức của chính mình
- Không sa vào chủ nghĩa bình quân, quan điểm dàn đều, tức không thấy được trọng tâm, trọng điểm,
điều cốt lõi trong cuộc sống vô cùng phức tạp.
Câu 3 (chương 6, trang 86) :Nêu những yêu cầu phương pháp luận và phân tích cơ sở lý luận của
nguyên tắc phát triển.Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong
hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
Yêu cầu phương pháp luận:
- Trong hoạt động nhận thức, chủ thể phải:
+ Phát hiện những xu hướng, khả năng biến đổi, chuyển hóa, những giai đoạn tồn tại của bản thân sự
- Quán triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tắc phát triển sẽ giúp chủ thể khắc phục được quan điểm (tư
duy) siêu hình, lối xem xét cứng nhắc, đầu óc bảo thủ giáo điều trong hoạt động thực tiễn và nhận
thức của mình
Câu hỏi số: 4/Chương số: 6/Giáo trình Triết học II (TS. Bùi Văn Mưa) trang số: 86
Anh chị hãy phân tích nội dung quy luật quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập và
vạch ra ý nghĩa phương pháp luận của nó.
Trong ba qui luật của phép biện chứng duy vật, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là
“ hạt nhân của phép biện chứng”, bởi vì qui luật này đã chỉ rõ nguồn gốc, động lực bên trong của sự
vận động và phát triển của các sự vật.
I. Nội dung của qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập ( qui luật mâu thuẫn )
1. Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan và phổ biến:
- Mâu thuẫn là một khái niệm để chỉ sự liên hệ và tác động lẫn nhau của các mặt đối lập. Đó là những
mặt có khuynh hướng phát triển trái ngược nhau, cùng tồn tại trong một sự vật. Mâu thuẫn là sự thống
nhất của hai mặt đối lập.
- Mâu thuẫn có tính khách quan vì là cái vốn có trong các sự vật hiện tượng và tính phổ biến – tồn tại
trong tất cả các lĩnh vực ( tự nhiên, xã hội và tư duy )
- Do mâu thuẫn có tính khách quan và phổ biến, nên mâu thuẫn có tính đa dạng và phức tạp. Mâu thuẫn
trong mỗi sự vật và trong các lĩnh vực khác nhau cũng khác nhau. Trong mỗi sự vật, hiện tượng không
phải chỉ có một mâu thuẫn, mà có nhiều mâu thuẫn. Mỗi mâu thuẫn và mỗi mặt của mâu thuẫn lại có
đặc điểm, có vai trò tác động khác nhau đối với sự vận động và phát triển của sự vật. Vì vậy, cần phải
có phương pháp phân tích và giải quyết mâu thuẫn một cách cụ thể.
2. Mâu thuẫn là một chỉnh thể, trong đó, hai mặt đối lập vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau
- Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự liên hệ, qui định, ràng buộc lẫn nhau của các mặt đối lập, mặt
này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại cho mình.
- Sự đấu tranh của các mặt đối lập là sự xung đột, thay thế, bài trừ và phủ định lẫn nhau của các mặt đối
23
lập
- Trong một mâu thuẫn, sự thống nhất của các mặt đối lập không tách rời với sự đấu tranh của chúng,
bởi trong sự qui định, ràng buộc lẫn nhau, hai mặt đối lập vẫn luôn có xu hướng phát triển trái ngược
nhau, đấu tranh với nhau
các mặt đối lập và vạch ra ý nghĩa phương pháp luận của nó.
Nội dung Quy luật thống nhất đấu tranh của các mặt đối lập cần được phân tích như sau:
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (hay còn gọi là quy luật mâu thuẫn) là hạt nhân
của phép biện chứng. V.I. Lê nin viết “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự
thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi
hỏi phải có những giải thích và một sự phát triển thêm”
+ Khái niệm các mặt đối lập, mâu thuẫn, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Khái niệm:
- Mặt đối lập là những mặt có những yếu tố, những bộ phận, những thuộc tính, … có khuynh hướng
biến đổi trái ngược nhau, nhưng cùng tồn tại trong một thể thống nhất.
- Thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, ràng buộc lẫn nhau và tạo cơ sở, tiền đề tồn
tại cho nhau của các mặt đối lập.
24
- Mâu thuẫn biện chứng: là mâu thuẫn trong đó bao hàm sự thống nhất và đấu tranh của các mặt mâu
thuẫn
+ Phân tích nội dung quy luật:
- Sự vật nào cũng là thể thống nhất của các mặt đối lập: Đó là thống nhát của những mâu thuẫn . Như
vây, mọi sự vật đều có mâu thuẫn từ chính bản thân nó. Chẳng hạn, Nguyên tử là thể thống nhất giữa 2
mặt đối lập của hạt nhân mang điện tích dương và điện tử mang điện tích âm. Lượng có khi được xác
địng bằng những con số cụ thể, cũng có khi xác địng bẳng sự trừu tượng hóa, ví dụ: cách mạng ngày
càng lớn mạnh, ngày càng trưởng thành. - Nhưng bên cạnh thống nhất các mặt đối lập thì các mặt đối
lập có sự đấu tranh với nhau. Sự đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động lẫn nhau, bài trừ, phủ định
nhau. Sự vật khác nhau thì phương thức đấu tranh cũng khác nhau. Sự đấu tranh của các mặt đối lập
đưa đến sự chuyển hóa của các mặt đối lập
+ Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển
- Đấu tranh các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự phát triển. Sự vật là thể thống nhất của các
mặt đối lập, chừng nào thể thống nhất này còn tồn tại thì sự vật còn tồn tại . - Đấu tranh của các mặt đối
lập làm cho thể thống nhất cũ bị phá, thể thống nhất mới được xác lập, sự vật phát triển Ví dụ: Trong
xã hội, “đấu tranh” giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là nguồn gốc, động lực phát triển của
xã hội.
hội/Bước nhảy tư duy).
* Nội dung quy luật
Mọi sự vật đều được đặc trưng bằng sự thống nhất giữa Chất và Lượng.
Sự vật bắt đầu vận động, phát triển bằng sự thay đổi về Lượng (liên tục, tiệm tiến); nếu Lượng thay đổi
trong độ, chưa vượt quá điểm nút thì Chất không thay đổi căn bản; khi Lượng thay đổi vượt qua độ,
quá điểm nút thì Chất sẽ thay đổi căn bản, bước nhảy xảy ra.
Bước nhảy làm cho Chất thay đổi (gián đoạn, đột biến) – Chất (Sự vật ) cũ mất đi, Chất (Sự vật) mới ra
đời; Chất mới gây ra sự thay đổi về Lượng (làm thay đổi quy mô tồn tại, tốc độ, nhịp điệu vận động,
phát triển của sự vật ).
Sự thay đổi về Lượng gây ra sự thay đổi về Chất; sự thay đổi về Chất gây ra sự thay đổi về Lượng là
phương thức vận động, phát triển của mọi sự vật trong thế giới; phát triển vừa mang tính liên tục vừa
mang tính gián đoạn.
* Phân tích:
Trong quá trình vận động và phát triển, Chất và Lượng của sự vật cũng biến đổi. Sự thay đổi của
Lượng và của Chất không diễn ra độc lập với nhau, mà chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhưng
không phải bất kỳ sự thay đổi nào của Lượng cũng ngay lập tức làm thay đổi căn bản Chất của sự vật.
Lượng của sự vật có thể thay đổi trong một giới hạn nhất định mà không làm thay đổi căn bản Chất của
sự vật đó. Khi vượt qua giới hạn đó sẽ làm cho sự vật không còn là nó, chất cũ mất đi, chất mới ra đời
(bước nhảy xảy ra).
Vd: Khi xét các trạng thái tồn tại khác nhau của nước với tư cách là những chất khác nhau (chất – trạng
thái), ứng với chất – trạng thái đó, Lượng ở đây là nhiệt độ, thì dù Lượng có thay đổi trong một phạm
vi khá lớn (0 độ C< t<100 độ C), nước vẫn ở trạng thái lỏng (tức là chưa thay đổi về chất – trạng thái).
Khi nhiệt độ của nước giảm đến 0 độ C nước sẽ chuyển sang trạng thái rắn và khi đạt đến 100 độ C
nước sẽ chuyển sang trạng thái hơi (bước nhảy xảy ra). Ở đây, 0 độ C và 100 độ được gọi là điểm nút.
Sự thay đổi về chất là kết quả của sự thay đổi về lượng khi đạt đến điểm nút. Sau khi ra đời, chất mới
có tác động trở lại sự thay đổi của lượng. Chất mới có thể làm thay đổi quy mô tồn tại của sự vật, làm
thay đổi nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật đó.
* Ýnghĩa phương pháp luận:
Trong hoạt động nhận thức chủ thể phải:
Phát hiện chính xác các quy định về chất và lượng của sự vật; thấy được sự thống nhất giữa chúng để