30 câu hỏi và đáp án ôn luyện môn Triết Học - Pdf 15

ĐÁP ÁN 30 CÂU TRIẾT
Câu 1: Phân tích nội dung và bản chất của Chủ nghĩa duy vật biện chứng (CNDVBC)
với tính cách là hạt nhân lý luận của Thế gới quan khoa học (TGQKH).
Trả lời:
1. Nội dung: Có 2 nhóm quan điểm:
Quan điểm duy vật về thế giới:
 Tồn tại của thế giới là tiền đề thống nhất thế giới: Trước khi thế giới có thể là một thể thống
nhất thì trước hết thế giới phải tồn tại. Tính thống nhất thật sự của thế giới là ở tính vật chất
của nó, tính vật chất này được chứng minh bằng một sự phát triển lâu dài và khó khăn của
triết học và khoa học tự nhiên.
 Nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới, có nội dung như sau:
 Thế giới vật chất tồn tại khách quan, vĩnh viễn, vô hạn, vô tận.
 Trong thế giới vật chất chỉ tồn tại các quá trình vật chất cụ thể, có mức độ tổ chức nhất
định; đang biến đổi chuyển hóa lẫn nhau là nguồn gốc, nguyên nhân của nhau; cùng chịu sự
chi phối bởi các quy luật khách quan của TGVC.
 Ý thức, tư duy con người chỉ là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao; thế giới
thống nhất và duy nhất.
 Phạm trù vật chất: vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được
đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản
ánh và tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác.
 Phạm trù ý thức, quan hệ giữa ý thức và vật chất: Ý thức của con người tồn tại trước hết
trong bộ óc con người, sau đó thông qua thực tiễn lao động nó tồn tại trong các vật phẩm do
con người sáng tạo ra. Ý thức gồm nhiều yếu tố: tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí… trong đó
tri thức và tình cảm có vai trò rất quan trọng. Thông qua hoạt động thực tiễn, ý thức con
người xâm nhập vào hiện thực vật chất tạo nên sức mạnh tinh thần tác động lên thế giới góp
phần biến đổi thế giới.
Quan điểm duy vật về xã hội:
 Xã hội là một bộ phận đặc thù của tự nhiên, nó là kết quả phát triển lâu dài của tự nhiên, có
quy luật vận động, phát triển riêng, sự vận động, phát triển của xã hội phải thông qua hoạt
động thực tiễn.
 Sản xuất vật chất là cơ sở đời sống xã hội: Nền sản xuất vật chất trong từng giai đoạn lịch sử

nhân loại tiến bộ, được luận chứng bằng những cơ sở lý luận khoa học  CNDVBC trở
thành hệ tư tưởng của giai cấp vô sản có sự thống nhất tính khoa học và tính cách mạng.
 CNDVBC không chỉ giải thích thế giới mà còn góp phần cải tạo thế giới.
 CNDVBC khẳng định sự tất thắng của cái mới: nó xóa bỏ cái cũ lỗi thời, xây dựng cái
mới tiến bộ.
 CNDVBC là một hệ thống mở, là kim chỉ nam cho mọi hành động.
Câu 2: Anh ( chị) hảy phân tích cơ sở lý luận, nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của
nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã
vận dụng như thế nào vào sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta?
+ Cơ sở lý luận :
Nguyên tắc khách quan trong xem xét được xây dựng dựa trên nội dung của nguyên
lý về tính thống nhất vật chất của thế giới. Yêu cầu của nguyên tắc này được tóm tắt như
sau :khi nhận thức khách thể ( đối tượng ), sự vật,hiện tượng tồn tại trong hiện thực – chủ thể
tư duy phải nắm bắt, tái hiện nó trong chính nó mà không được thêm hay bớt một cách tùy
tiện .
- Vật chất là cái có trước tư duy. Vật chất tồn tại vĩnh viễn và ở một giai đọan phát triển nhất
định của mình nó mới sản sinh ra tư duy. Do tư duy phản ánh thế giới vật chất, nên trong quá
trình nhận thức đối tượng ta không được xuất phát từ tư duy, từ ý kiến chủ quan của chúng ta
về đối tượng.mà phải xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ bản chất của nó, không được
”bắt” đối tượng tuân theo tư duy mà phải “bắt” tư duy tuân theo đối tượng. Không ép đối
tượng thỏa mãn một sơ đồ chủ quan hay một “Lôgíc” nào đó, mà phải rút ra những sơ đồ từ
đối tượng, tái tạo trong tư duy các hình tượng, tư tưởng- cái lôgíc phát triển của chính đối
tượng đó.
- Toàn bộ “nghệ thuật” chinh phục bản chất của sự vật, hiện tượng được gói ghém trong sự
tìm kiếm, chọn lựa, sử dụng những con đường, cách thức, phương tiện thâm nhập hữu hiệu
vào “thế giới” bên trong của sự vật. “nghệ thuật” chinh phục như thế không mang đến cho sự
vật, hiện tượng một cái gì đó xa lạ với chính nó. Điều này đặt ra cho chủ thể một tình thế khó
khăn. Làm như thế nào để biết chắc chắn những suy nghĩ của chúng ta về sư vật là khách
quan, là phù hợp với bản thân sự vật? Nguyên tắc khách quan đòi hỏi được bổ sung thêm yêu
cầu phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể và nguyên tắc tính đảng .

….những đánh giá có giá trị hơn, những cách giải quyết đúng hơn thường là những đánh giá,
những cách giải quyết thuộc về các lực lượng xã hội biết đứng trên lập trường của giai cấp
tiên tiến, của những lực lượng cách mạng của thời đại đó. Vì vậy tính khách quan trong xem
xét các hiện tượng xã hội nhất quán với nguyên tắc tính đảng. Việc xem thường nguyên tắc
này dễ dẫn đến vi phạm yêu cầu của nguyên tắc khách quan trong xem xét, dễ biến nó thành
chủ nghĩa khách quan, cản trở việc nhận thức đúng đắn các hiện tượng xã hội phức tạp.
+ Những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan trong xem xét :
Nguyên tắc khách quan trong xem xét có mối liên hệ mật thiết với các nguyên tắc
khác của lôgíc biện chứng. Nó thể hiện ở yêu cầu cụ thể sau :
 Trong hoạt động nhận thức :
Chủ thể phải :
Một là : Xuất phát từ hiện thực khách quan, tái hiện lại nó như nó vốn có mà
không được tùy tiện đưa ra những nhận định chủ quan .
Hai là : Phải biết phát huy tính năng động, sáng tạo của chủ thể, đưa ra các giả
thuyết khoa học có giá trị về khách thể, đồng thời biết cách tiến hành kiểm chứng các giả
tuyết đó bằng thực nghiệm
 Trong hoạt động thực tiễn :
Chủ thể phải :
Một là : Xuất phát từ hiện thực khách quan, phát hiện ra những quy luật chi phối
nó.
Hai là : Dựa trên các quy luật khách quan đó, chúng ta vạch ra các mục tiêu, kế
họach, tìm kiếm các biện pháp, phương thức để tổ chức thực hiện. Kịp thời điều chỉnh, uốn
nắng họat động của con người đi theo lợi ích và mục đích đã đặt ra .
Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức có nghĩa là phát huy vai trò tri thức, tình
cảm, ý chí, lý trí ….tức là phát huy vai trò nhân tố con người trong họat động nhận thức và
họat động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan, vươn lên làm chủ thế giới .
+ Đảng Cộng Sản Việt Nam đã vận dụng như thế nào vào sự nghiệp cách mạng của
Việt Nam :
Phải tôn trọng hiện thực khách quan, tôn trọng vai trò quyết định của vật chất. Cụ thể
là :

Trả lời:
Ở Việt Nam, do bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ & hành động giản đơn, nóng
vội chạy theo nguyện vọng chủ quan ảo tưởng đã xuất hiện trước Đổi mới có nguyên nhân
và gây ra tác hại lớn.
Xuất phát từ hiện thực khách quan của nước ta yếu kém về năng lực tư duy, lạc hậu về
lý luận, ít kinh nghiệm trong xây dựng và quản lý đất nước; Đồng thời do sai lầm ấu trĩ “tả”
khuynh, xảy ra trong một điều kiện lịch sử rất đặc biệt của dân tộc ta (Biết phát huy tối đa
sức mạnh tinh thần, khao khát thoát ra khỏi cuộc sống lầm than, nô lệ ) nhưng lại không
xuất phát từ hiện thực, bất chấp quy bluật, coi thường tri thức KH,… Nên tạo ra những chính
sách sai lầm, gây ra những hậu quả về nhiều mặt (kinh tế, xã hội…) rất nghiêm trọng & kéo
dài.
Để có thể khắc phục triệt để chủ nghĩa chủ quan phải quán triệt thực hiện nguyên tắc
khách quan. Vì nguyên tắc khách quan là nguyên tắc đầu tiên của tư duy biện chứng, Vận
dụng nguyên tắc khách quan kết hợp với chủ quan trong hoạt động nhận thức sẽ tránh được
những sai lầm trong chính sách phát triển đất nước.
Trên cơ sở quy luật khách quan đó, Đảng ta khẳng định “Mọi đường lối chủ trương
của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”. Để làm được điều đó
Phải tôn trọng hiện thực kh.quan, tôn trọng vai trò quyết định của VC, tức:
 Xuất phát của hiện thực kh.quan của đất nước, của thời đại để hoạch định chiến
lược, sách lược phát triển đất nước;
 Biết tìm kiếm, khai thác, tổ chức những lực lượng vật chất (cá nhân – cộng đồng, kinh
tế – quân sự, trong nước – ngoài nước, quá khứ – tương lai,…) để hiện thực hóa
chúng.
 Coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng; Coi đại đoàn kết toàn dân tộc là động
lực chủ yếu phát triển đất nước. Biết kết hợp hài hòa các dạng lợi ích khác nhau (kinh
tế, chính trị, tinh thần, ; cá nhân, tập thể, xã hội) thành động lực thúc đẩy công cuộc
đổi mới
Đồng thời phải phát huy tính năng động, sáng tạo của YT, ph.huy vai trò của các yếu
tố chủ quan (t.thức, t.cảm, ý chí, lý trí, ), tức ph.huy vai trò nhân tố CN trong h.động nhận
thức & thực tiễn cải tạo đất nước. Cụ thể:

Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ra rất phong phú. Trên cơ sở những cái đã có trước, ý
thức có khả năng tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực
tế, có thể tiên đoán, dự báo tương lai, có thể tạo ra những ảo tưởng, những huyền thoại,
những giả thuyết khoa học hết sức trừu tượng và khái quát cao. Những khả năng ấy càng nói
lên tính chất phức tạp và phong phú của đời sống tâm lý – ý thức ở con người mà khoa học
còn phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu để làm sáng tỏ bản chất của những hiện tượng ấy.
Ý thức ra đời trong quá trình con người hoạt động cải tạo thế giới, cho nên quá trình
phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người là quá trình năng động sáng tạo, thống nhất
3 mặt sau:
Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh. Sự trao đổi này mang
tính chất hai chiều, có định hướng, có chọn lọc các thông tin cần thiết.
Hai là, mô hình hoá đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần. Thực chất,
đây là quá trình “ sáng tạo lại” hiện thực của ý thức theo nghĩa: mã hoá các đối tượng vật
chất tạo thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất.
Ba là, chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, tức quá trình hiện thực hoá
tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn biến cái quan niệm thành cái thực tại, biến các ý
tưởng phi vật chất trong tư duy thành các dạng vật chất ngoài hiện thực. Trong giai đoạn này,
con người lựa chọn những phương pháp, phương tiện, công cụ để tác động vào hiện thực
khách quan nhằm thực hiện mục đích của mình.
Tính sáng tạo của ý thức là sáng tạo của sự phản ánh, theo quy luật của sự phản ánh mà
kết quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần. Sáng tạo và phản ánh là hai mặt thuộc
bản chất ý thức.
Tác động của ý thức xã hội đối với con người là vô cùng to lớn. Nó không những là
kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn mà còn là động lực thực tiễn. Sự thành công hay thất
bại của thực tiễn, tác động tích cực hay tiêu cực của ý thức đối với sự phát triển của tự nhiên,
xã hội chủ yếu phụ thuộc vào vai trò chỉ đạo của ý thức mà biểu hiện ra là vai trò của khoa
học, văn hoá và tư tưỏng.
Nền kinh tế của nước ta từ một điểm xuất phát thấp, tiềm lực kinh tế- kỹ thuật yếu,
trong điều kiện sự biến đổi khoa học- công nghệ trên thế giới lại diễn ra rất nhanh, liệu nước
ta có thể đạt được những thành công mong muốn trong việc tạo ra nền khoa học- công nghệ

học phải thông qua hoạt động của con người thì mới trở thành lực lượng vật chất.
Khoa học vốn là sản phẩm của tư duy, của trí tuệ. Nếu không thông qua hoạt động của người
lao động (công nhân, nông dân, tầng lớp trí thức…), mà chỉ tự bản thân nó thôi, thì như Mác
nói khoa học không thể biến thành cái gì cả, không thể sinh ra tác động tích cực hay tiêu cực.
Theo Mác, triết học phải có nhiệm vụ phản ánh mọi xung đột của đời sống hiện thực, những
điều kiện kinh tế, vật chất của những xung đột hiện thực ấy, đồng thời vạch ra con đường và
những cách giải quyết các xung đột đó. Vì vậy, triết học phải tìm được cho mình một lực
lượng nằm ngay trong bản thân hiện thực, có khả năng phủ định xã hội hiện tại, xây dựng
một xã hội mới. Lực lượng ấy chính là giai cấp vô sản. Như vậy theo Mác, triết học tiên tiến
phải gắn liền với các lực lượng tiến bộ.
+ Ý nghĩa triết học: Cho thấy vị trí vai trò của triết học, của lý luận khoa học trong sự nghiệp
đấu tranh giải phóng nhân dân lao động thoát khỏi sự nô dịch của giai cấp bóc lột.
Câu 7: Lý luận? Phương pháp? Anh ( chị) hãy nêu những yêu cầu phương pháp luận
và phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện. Việc tuân thủ nguyên tắc toàn diện
sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và trong hoạt động
thực tiễn.
7.1 Anh ( chị) hãy nêu những yêu cầu phương pháp luận và phân tích cơ sở lý luận của
nguyên tắc toàn diện
Định nghĩa phương pháp luận: Là học thuyết (lý luận) về phương pháp; nó vạch ra cách thức
xây dựng và nghệ thuật vận dụng phương pháp. Phương pháp luận còn được coi như “ một
hệ thống các quan điểm, nguyên tắc xuất phát, những cách thức chung để thực hiện hoạt
động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người.
Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
Mối liên hệ phổ biến là mối liên hệ giữa các mặt (thuộc tính) đối lập tồn tại trong mọi sự vật,
trong mọi lĩnh vực hiện thực.
Mối liên hệ mang tính khách quan và phổ biến. Nó chi phối tổng quát sự vận động, phát triển
của mọi sự vật, quá trình xãy ra trong thế giới; và là đối tượng nghiên cứu của phép biện
chứng.
Mối liên hệ phổ biến được nhận thức trong các phạm trù biện chứng như mối liên hệ giữa:
mặt đối lập- mặt đối lập; chất – lượng, cái cũ – cái mới; cái riêng- cái chung; nguyên nhân-

tất nhiên, quan trọng…. của nó.
- Nắm vững sự chuyển hóa các mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất,
yếu tố, mặt,…)của bản thân sự vật; kịp thời sử dụng các công cụ, phương tiện, biện
pháp bổ sung để phát huy hay hạn chế hay hạn chế sự tác động của chúng, nhằm lèo
lái sự vật vận động, phát triển theo đúng quy luật và hợp lợi ích của chúng ta.
- Quán triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tắc toàn diện sẽ giúp chủ thể khắc phục được
chủ nghĩa phiến diện, chủ nghĩa chiết trung, chủ nghĩa ngụy biện,… trong hoạt động
thực tiễn và nhận thức của chính mình.
+ Chủ nghĩa phiến diện là cách xem xét chỉ thấy một mặt, một mối quan hệ, tính chất
nào đó mà không thấy được nhiều mặt, nhiều mối quan hệ, nhiều tính chất của sự vật.
+ Chủ nghĩa chiết trung là cách xem xét chỉ chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ
của sự vật chứ không rút ra được mặt bản chất, không thấy được mối liên hệ cơ bản
của sự vật, mà coi chúng như nhau, kết hợp chúng một cách vô nguyên tắc, tùy tiện.
+ Chủ nghĩa ngụy biện là cách xem xét qua đó đánh tráo cái cơ bản với cái không cơ
bản, cái chủ yếu với cái thứ yếu,… hay ngược lại nhằm đạt được mục đích hay lợi ích
của mình một cách tinh vi.
- Trong xã hội nguyên tắc toàn diện đòi hỏi chúng ta không chỉ liên hệ nhận thức với
nhận thức mà còn liên hệ nhận thức với cuộc sống; phải chú ý đến lợi ích của các chủ
thể (các cá nhân hay giai tầng) khác nhau trong xã hội và biết phân biệt đâu là lợi ích
cơ bản (sống còn) và lợi ích không cơ bản (sống còn) và lợi ích không cơ bản; phải
biết phát huy (hay hạn chế) mọi tiềm năng hay nguồn lực từ khắp các lĩnh vực hoạt
động xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, ) từ các thành phần kinh tế khác, từ các tổ
chức, chính trị xã hội… để có thái độ, biện pháp, đối sách hành động thích hợp mà
không sa vào chủ nghĩa bình quân, quan điểm dàn điều, tức không thấy được trọng
tâm cốt lõi trong cuộc sống vô cùng phức tạp.
7.2 Việc tuân thủ nguyên tắc toàn diện sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt
động nhận thức và trong hoạt động thực tiễn.
Việc quán triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tắc toàn diện sẽ giúp chúng ta khắc phục
được chủ nghĩa phiến diện, chủ nghĩa chiết trung, chủ nghĩa ngụy biện… trong hoạt động
thực tiễn và nhận thức của chính mình.

– tiên đoán) và cải tạo thế giới.
- Có hai loại nguyên lý: nguyên lý của khoa học (công lý, tiên đề, quy luật nền tảng)
và nguyên lý của triết học. Phép biện chứng duy vật có hai nguyên lý cơ bản. Đó là nguyên
lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển.
8.2. Nguyên tắc là gì?
- Nguyên tắc là những yêu cầu nền tảng đòi hỏi chủ thể phải tuân thủ đúng trình tự
nhằm đạt mục đích đề ra một cách tối ưu.
8.3. Mối liên hệ giữa nguyên lý và nguyên tắc
- Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý thể hiện qua các nguyên tắc tương ứng.
Nghĩa là cơ sở lý luận của các nguyên tắc là các nguyên lý: cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn
diện và nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển
là nội dung nguyên lý về sự phát triển…
8.4. Những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc phát triển
• Trong hoạt động nhận thức yêu cầu chủ thể phải:
- Phát hiện những xu hướng biến đổi, chuyển hóa, những giai đoạn tồn tại của bản
thân sự vật trong sự tự vận động và phát triển của chính nó;
- Xây dựng được hình ảnh chỉnh thể về sự vật như sự thống nhất các xu hướng, những
giai đoạn thay đổi của nó; từ đó phát hiện ra quy luật vận động, phát triển (bản chất) của sự
vật.
• Trong hoạt động thực tiễn yêu cầu chủ thể phải:
- Chú trọng đến mọi điều kiện, khả năng…tồn tại của sự vật để nhận định đúng các xu
hướng, những giai đoạn thay đổi có thể xảy ra đối với nó;
- Thông qua hoạt động thực tiễn, sử dụng nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp thích
hợp (mà trước hết là công cụ, phương tiện, biện pháp vật chất) để biến đổi những điều kiện,
phát huy hay hạn chế những khả năng…tồn tại của sự vật nhằm lèo lái sự vật vận động, phát
triển theo hướng hợp quy luật và có lợi cho chúng ta.
8.5. Cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển
Cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển là nội dung nguyên lý về sự phát triển.
• Sự vận động và sự phát triển
- Vận động là thuộc tính cố hữu, là phương thức tồn tại của vật chất; vận động được

hướng theo xu thế phủ định của phủ định.
8.6. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động
nhận thức và hoạt động thực tiễn.
- Quán triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tắc phát triển sẽ giúp chủ thể khắc phục
được quan điểm (tư duy) siêu hình trong hoạt động thực tiễn và nhận thức của chính mình.
Câu 9. Phân tích nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. Ý
nghĩa của nó đối với quan điểm vừa hợp tác, vừa đấu tranh trong tình hình hiện nay?
1. Đặt vấn đề.
Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (còn gọi là quy luật mâu thuẫn), là một
trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, là hạt nhân của phép biện chứng, nó
vạch ra nguồn gốc bên trong sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng.
2. Các khái niệm.
Trước khi phép biện chứng mácxít ra đời, tư tưởng biện chứng về những đối lập đạt được
đỉnh cao nhất trong học thuyết của triết học cổ điển Đức, tiêu biểu nhất là Cantơ và Hêghen.
Song, do bị chi phối bởi quan niệm duy tâm, nên không thể phát triển học thuyết mâu thuẫn
biện chứng đến độ triệt để.
Kế thừa một cách có phê phán những thành tựu có giá trị nhất trong toàn bộ lịch sử triết học
và dựa trên những thành quả mới nhất của khoa học hiện đại, C.Mác và PH.Ăngghen đã phát
triển học thuyết mâu thuẫn biện chứng lên một tầm cao mới. Các nhà kinh điển của chủ
nghĩa Mác đã cho rằng, chúng ta phải tìm xung lực vận động và phát triển của sự vật trong
chính sự vật đó, trong những mâu thuẫn của bản thân sự vật. Quan điểm lý luận đó được thể
hiện trong quy luật thống nhất và đấu tranh của của các mặt đối lập.
Nội dung cơ bản của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập được làm sáng tỏ
thông qua một loạt những phạm trù cơ bản: “ mặt đối lập”, “sự thống nhất” và “ đấu tranh
của các mặt đối lập”
Tất cả các sự vật, hiện tượng trên thế giới đều chứa đựng những mặt trái ngược nhau. Trong
nguyên tử có điện tử và hạt nhân; trong sinh vật có đồng hóa và dị hóa; trong kinh tế thị
trường có cung và cầu, v.v Những mặt trái ngược nhau đó, trong phép biện chứng duy vật
gọi là mặt đối lập. Mặt đối lập là phạm trù dùng để chỉ những mặt có những đặc điểm, những
thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách

Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan và phổ biến, nó tồn tại trong tất cả các sự vật và
hiện tượng, ở mọi giai đoạn tồn tại và phát triển của sự vật và hiện tượng.
4. Phân loại mâu thuẫn
a) Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài:
Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập của cùng
một sự vật. Mâu thuẫn bên ngoài đối với một sự vật là mâu thuẫn diễn ra trong mối liên hệ
giữa sự vật đó với các sự vật khác nhau. (Thí dụ, sự tác động qua lại giữa đồng hoá và dị hoá
của một sinh vật là mâu thuẫn bên trong, sự tác động qua lại giữa cơ thể và môi trường - khi
xét cơ thể là một sự vật - là mâu thuẫn bên ngoài). Mâu thuẫn bên trong có vai trò quyết định
trực tiếp với quá trình vận động và phát triển của sự vật. Tuy nhiên, mâu thuẫn bên trong và
mâu thuẫn bên ngoài không ngừng tác động nhau.
b) Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản: Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định
bản chất của sự vật, quy định sự phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật, nó tồn tại trong
suốt quá trình tồn tại của sự vật. Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn đặc trưng cho một
phương diện nào đó của sự vật, nó quy định sự vận động và phát triển của một mặt nào đó
của sự vật.
c) Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu:
Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển nhất định của
sự vật, giải quyết nó sẽ tạo điều kiện giải quyết mâu thuẫn khác ở cùng giai đoạn (những
mâu thuẫn thứ yếu). Sự phát triển hơn nữa của sự vật, chuyển hoá nó sang giai đoạn tồn tại
khác của mình phụ thuộc vào việc giải quyết mâu thuẫn chủ yếu.
c) Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng:
Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn người, những xu
hướng xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau (Thí dụ mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ
nghĩa tư bản, giữa tư sản và vô sản). Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những
lực lượng, khuynh hướng xã hội có đối lập về lợi ích không cơ bản, cục bộ, tạm thời (Thí dụ
mâu thuẫn giữa tầng lớp nông dân, giữa các bộ phận công nhân khác nhau, giữa lao động trí
óc và lao động chân tay, ở nước ta hiện nay).
Phân biệt mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng có ý nghĩa quan trọng trong
việc xác định phương pháp giải quyết mâu thuẫn.

 Điểm nút - mốc (giới hạn) mà sự thay đổi về Lượng vượt qua nó sẽ làm Chất thay
đổi căn bản.
 Bước nhảy - sự chuyển hóa về Chất do những thay đổi về Lượng trước đó gây ra;
Bước nhảy là giai đoạn cơ bản trong tiến trình phát triển của sự vật, nó tồn tại
khách quan, phổ biến, đa dạng (Bước nhảy toàn bộ/Bước nhảy cục bộ; Bước nhảy
đột biến/Bước nhảy dần dần; Bước nhảy tự nhiên/Bước nhảy xã hội/Bước nhảy tư
duy).
Nội dung quy luật:
 Mọi sự vật đều được đặc trưng bằng sự thống nhất giữa Chất và Lượng.
 Sự vật bắt đầu vận động, phát triển bằng sự thay đổi về Lượng (liên tục, tiệm tiến);
nếu Lượng thay đổi trong độ, chưa vượt quá điểm nút thì Chất không thay đổi căn
bản; khi Lượng thay đổi vượt qua độ, quá điểm nút thì Chất sẽ thay đổi căn bản,
bước nhảy xảy ra.
 Bước nhảy làm cho Chất thay đổi (gián đoạn, đột biến) – Chất (Sự vật ) cũ mất đi,
Chất (Sự vật) mới ra đời; Chất mới gây ra sự thay đổi về Lượng (làm thay đổi quy
mô tồn tại, tốc độ, nhòp điệu vận động, phát triển của sự vật ).
 Sự thay đổi về Lượng gây ra sự thay đổi về Chất; sự thay đổi về Chất gây ra sự thay
đổi về Lượng là phương thức vận động, phát triển của mọi sự vật trong thế giới;
phát triển vừa mang tính liên tục vừa mang tính gián đoạn.
Phân tích:
Trong quá trình vận động và phát triển, Chất và Lượng của sự vật cũng biến đổi.
Sự thay đổi của Lượng và của Chất không diễn ra độc lập với nhau, mà chúng có quan hệ
chặt chẽ với nhau. Nhưng không phải bất kỳ sự thay đổi nào của Lượng cũng ngay lập
tức làm thay đổi căn bản Chất của sự vật. Lượng của sự vật có thể thay đổi trong một
giới hạn nhất đònh mà không làm thay đổi căn bản Chất của sự vật đó. Khi vượt qua giới
hạn đó sẽ làm cho sự vật không còn là nó, chất cũ mất đi, chất mới ra đời (bước nhảy xảy
ra).
Vd: Khi xét các trạng thái tồn tại khác nhau của nước với tư cách là những chất
khác nhau (chất – trạng thái), ứng với chất – trạng thái đó, Lượng ở đây là nhiệt độ, thì
dù Lượng có thay đổi trong một phạm vi khá lớn (0 độ C< t<100 độ C), nước vẫn ở trạng

pháp luận.
a/ KN phủ định biện chứng, phủ định của phủ định:
Phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ một mắt khâu của q trình tự phát
triển của sự vật đưa đến sự ra đời của cái mới tiến bộ hơn so với cái cũ bị phủ định. Phủ định
biện chứng cũng là sự khẳng định. Phủ định biện chứng gắn liền với giải quyết mâu thuẫn và
bước nhảy về chất xảy ra bên trong sự vật; nó mang tính khách quan – nội tại, tính kế thừa –
tiến lên.
Phủ định của phủ định là phạm trù triết học dùng để chỉ sự xác lập lại cái cũ , tức khằng định
lại cái bị phủ định, ở một trình độ cao hơn trong q trình tự phát triển của bản thân sự vật.
Trong sự phủ định của phủ định, cái cũ bị phủ định trong lần phủ địnhthứ nhất đưa đến sự ra
đời của cái mớ; cái mới này chứa sự phủ định mình trong lần phủ định sau đó. Lần phủ định
nào làm xuất hiện cái mới, tức ái được khẳng định, nhưng trong cái mới này có lặp lại (yếu
tố) cái cũ, đã bị phủ định trong lần phủ định thứ nhất, ở một trình độ cao hơn thì lần phủ định
đó được gọi là phủ định của phủ định.
Qua nhiều lần phủ định biện chứng ( có cả phủ định của phủ định) sự vật loại dần cái tiêu
cực, tích lũy dần cái tích cực, làm cho cái mới ra đời quay về với cái cũ, cái khẳng định quay
trở lại với cái bị phủ định ở một trình độ cao hơn.
b/ Nội dung quy luật:
- Theo quan điểm duy vật biện chứng, triết học Mac thấy rõ sự chuyển hố từ những thay
đổi về lượng thành những thay đổi về chất, sự đấu tranh của các mặt đối lập dẫn tới mâu
thuẫn được giải quyết, sự vật cũ mất đi và sự vật mới ra đời. Mỗi sự thay thế ấy làm thành
một chuỗi mắc xích phát triển của hiện thực và tư duy. Sự ra đời cái mới là kết quả của sự
phụ định cái cũ, cái lỗi thời. Do đó, mọi sự vật đều liên hệ lẫn nhau và ln vận động,
phát triển; phát triển là một chuỗi các lần phủ định biện chứng có gắn liền với việc giải
quyết mâu thuẫn và thực hiện bước nhảy về chất xảy ra bên trong sự vật.
- Những nhà triết học theo quan điểm siêu hình hiểu phủ định là sự can thiệp của những lực
lượng bên ngồi là phá huỷ, thủ tiêu sự vật, chấm dứt sự phát triển của nó cả trong tự
nhiên và xã hội , làm mất đi cái cũ và xuất hiện cái mới tiến bộ hơn. Do vậy , phủ định là
vòng khâu liên hệ giữa cái mới với cái cũ, cái mới ( cái được khẳng định) ra đời trên cơ sở
laọi bỏ yếu tố tiêu cực, đồng thời lưu giữ, cải tạo những yếu tố tích cực của cái cũ ( cái bị

* Về mặt lý luận:
+ Quy luật phủ định của phủ định của phép tư duy biện chứng chỉ ra rằng: Bất cứ sự vật hiện
tượng nào trong thế giới đều trải qua quá trình sinh ra, tồn tại, phát triển và diệt vong. Sự vật
cũ mất đi được thay bằng sự vật mới. Sự thay thế đó là tất yếu của quá trình vận động và
phát triển của sự vật.
+ Sự vật là một tập hợp các yếu tố tương tác với nhau, trong sự tương tác đó nảy sinhvài yếu
tố (biến đổi) trái ngược nhau, tạo nên cơ sở các mặt đối lập trong sự vật. Các mặt đối lập này
không tách rời nhau, chứa những yếu tố giống nhau cùng tồn tại trong sự vật, tác động qua
lại lẫn nhau. Dù vậy, các mặt đối lập luôn đấu tranh với nhau, tác động qua lại theo xu hướng
loại bỏ lẫn nhau.
+ Sự thống nhất của các mặt đối lập nay chỉ mang tính tương đối nhưng sự đấu tranh mang
tính tuyết đối. Sự đấu tranh này gắn liền với sự vận động và thay đổi của sự vật. Mâu thuẫn
biện chứng phát triển tương ứng với quá trình thống nhất giữa các mặt đối lập còn sự đấu
tranh giữa các mặt đối lập thì chuyển dần từng bước từ bình lặng tới quyết liệt, làm xuất hiện
khả năng chuyển hoá của các mặt đối lập.
+ Mâu thuẫn biện chứng là nguồn gốc của mọi sự phát triển, chúng đều trải qua các giai
đoạn: từ sự xuất hiện của các mặt đối lập, sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập,
rồi chuyển hoá các mặt đối lập. Khi mâu thuẫn được giả quyết , cái cũ mất đi cái mới ra đời
tiến bộ, ưu việt hơn cái cũ và tự nó cũng chứa đựng những mâu thuẫn mới, hay thay đổi
những vai trò tác động cảu các mâu thuẫn cũ.
* Về mặt thực tiễn:
+ Thực tế đã chứng minh vận cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới luôn là qúa trình khó
khăn, lâu dài, phức tạp, cái mới có thể thất bại tạm thời nhưng cuối cùng nó sẽ chiến thắng
cái cũ. Điều đó được minh chứng rõ ràng trong cuộc đấu tranh giữa giai cấp phong kiến và
giai cấp công nhân trong xã hội ta đưa đất nước đi lên từ chế độ phong kiến bỏ qua tư bản
chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội.
+ Cùng là hai giai cấp tồn tại tong cùng một chế độ xã hội nhưng giữa các giai cấp này luôn
chứa đựng những mâu thuẫn, phủ định lẫn nhau, mâu thuẫn lên đến cao trào chính là cuộc
đấu tranh của giai cấp công nhân lao động lật đổ giai cấp phong kiến. Quá trình đấu tranh ấy
diễn ra lâu dài và quyết liệt, mặc dù có gặp phải những khó khăn chống cự của chế độ cũ

theo xu thế phủ định của phủ định.
* Quy luật: là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất nhiên, chung, lặp lại giữa các sự
vật, hiện tượng và chi phối sự vận động, phát triển của chúng. PBCDV gồm 3 quy luật cơ
bản sau:
1 – QL thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập:
- Mặt đối lập: SV là một tập hợp các yếu tố (thuộc tính) tương tác với nhau và với môi
trường. Kết quả của sự tương tác này là các yếu tố tạo nên bản thân SV có một sự biến đổi
nhất định, trong đó có một vài yếu tố biến đổi trái ngược nhau. Những yếu tố trái ngược
nhau (bên cạnh những yếu tố giống hay khác nhau) tạo nên cơ sở của các mặt đối lập trong
SV. MĐL tồn tại k.quan và phổ biến.
- Thống nhất của các mặt đối lập là các MĐL kg tách rời nhau tức MĐL này lấy MĐL
kia làm điều kiện, tiền đề cho sự tồn tại của mình; là các MĐL đồng nhất nhau tức trong
chúng chứa những yếu tố giống nhau cho phép chúng đồng tồn tại trong SV; là các MĐL tác
động ngang nhau, tức sự thay đổi trong MĐL này tất yếu sẽ kéo theo sự thay đổi trong MĐL
kia, và ngược lại.
- Đấu tranh của các MĐL: Dù tồn tại trong sự thống nhất, song các MĐL luôn đấu
tranh với nhau, tức chúng luôn tác động qua lại theo xu hướng bài trừ, phủ định hay loại bỏ
lẫn nhau. Hình thức và mức độ đấu tranh của các MĐL rất đa dạng, trong đó thủ tiêu lẫn
nhau là một hình thức đặc biệt của các MĐL.
- Mâu thuẫn BC, tức sự thống nhất và đấu tranh của các MĐL, tồn tại k.quan phổ biến
và đa dạng (MT bên trong – MT bên ngoài; MT cơ bản – MT kg cơ bản; MT chủ yếu – MT
thứ yếu; MT trong tự nhiên – MT trong xã hội – MT trong tư duy). Sự tác động lên bản
thân sự vật là nguồn gốc, động lực của mọi sự vận động, phát triển xảy ra trong thế giới.
- Chuyển hóa của các MĐL (giải quyết MTBC): sự thống nhất mang tính tương đối
gắn liền với sự ổn định của SV; sự đấu tranh mang tính tuyệt đối gắn liền với sự VĐ, thay
đổi của SV. MTBC phát triển tương ứng với quá trình thống nhất các MĐL chuyển từ mức
độ trừu tượng sang cụ thể; còn sự đấu tranh các MĐL chuyển từ mức bình lặng sang quyết
liệt từ đó làm xuất hiện các khả năng chuyển hóa của các MĐL. Khi đk k.quan hội đủ, một
trong khả năng đó biến thành hiện thực, các MĐL tự thực hiện quá trình chuyển hóa. MTBC
sẽ được giải quyết khi các MĐL tự phủ định chính mình để biến thành cái khác. Với hai

* Ngoài những nguyên lý và QL, PBC còn có sáu cặp phạm trù: cái riêng và các chung,
nguyên nhân và kết quả, tất nhiên và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức, bản chất và hiện
tượng, khả năng và hiện thực.
Tóm lại, PBC DV là hệ thống các quan điểm của con người về thế giới, là hệ thống
các phương pháp nhận thức và cải tạo thế giới, là hệ thống các giá trị để con người đánh giá
và điều chỉnh các hành vi trong hoạt động của mình.
Câu hỏi 14: Cơ sở nào để khẳng định nguyên tắc lịch sử - cụ thể (LS-CT) là “linh hồn”
phương pháp luận của triết học Mác – Lênin? Nêu những yêu cầu cơ bản của nguyên
tắc LSCT.
a/ - Cơ sở khẳng định nguyên tắc lịch sử - cụ thể (LS-CT) là “linh hồn” phương
pháp luận của triết học Mác – Lênin
- Triết học Mác-Lênin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư
duy triết học trong lịch sử nhân lọai.
- Triết học Mác-Lênin xem xét lịch sử xuất phát từ con người và cho rằng con người
là sản phẩm của lịch sử.
b/- Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc LS-CT
1.Trong hoạt động nhận thức, chủ thể phải tìm hiểu quá trình hình thành, tồn tại và phát triển
cụ thể của những sự vật cụ thể trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Nghĩa là:
- Phải biết sự vật đã ra đời và đã tồn tại như thế nào, trong những điều kiện, hoàn cảnh nào, bị
chi phối bởi những quy luật nào;
- Hiện giờ sự vật đang tồn tại như thế nào trong những điều kiện, hoàn cảnh ra sao, do những
quy luật nào chi phối;
- Trên cơ sở đó, phải nắm bắt được sự vật có thể sẽ phải tồn tại như thế nào (trên những nét cơ
bản) trong tương lai
2.Trong hoạt động thực tiễn, chủ thể phải xây dựng được những đối sách cụ thể, áp dụng cho
những sự vật cụ thể, đang tồn tại trong những điều kiện, hoàn cảnh, quan hệ cụ thể mà
không nên áp dụng những khuôn mẫu chung chung cho bất cứ sự vật nào, trong bất kỳ điều
kiện, hoàn cảnh, quan hệ nào.
3.Nguyên tắc LS-CT được V.I. Lênin cô đọng trong nhận định: “Xem xét mỗi vấn đề theo quan
điểm sau đây: một hiện tượng nhất định đã xuất hiện trong lịch sử như thế nào, những hiện

trong sự thống nhất.
5.Nguyên tắc LS-CT đã được các lãnh tụ của giai cấp vô sản vận dụng: Xuất phát từ tình hình
cụ thể của CNTB ở giai đoạn tiền độc quyền, tự do cạnh tranh mà C. Mác cho rằng, cách
mạng XHCN chỉ có thể thắng lợi ở tất cả các nước TBCN tiên tiến.
Sang thế kỷ 20, CNTB đã chuyển sang giai đoạn độc quyền, đế quốc chủ nghĩa. Khi
vận dụng nguyên tắc này vào xem xét tình hình thế giới lúc này có những thay đổi lớn mà
V.I. Lênin đã đi đến kết luận đúng đắn là: cách mạng XHCN chỉ có thể thắng lợi ở vài
nước, ở khâu yếu nhất của CNTB.
Đảng CS Việt Nam, Đảng CS Trung Quốc cũng đang quán triệt và vận dụng sáng tạo
nguyên tắc này vào thực tiễn cách mạng mỗi nước để xây dựng cho quốc gia mình một con
đường riêng đi lên CNXH.
Vận dụng nguyên tắc LS-CT, từ năm 1930, Đảng ta đã lựa chọn con đường CNXH.
Ngày nay, để xây dựng thành công CNXH, Đảng đề ra đường lối xây dựng nền kinh tế thị
trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất,
đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng XHCN; phát huy cao độ nội
lực đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát
triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; thực hiện tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển
văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với
tăng cường an ninh, quốc phòng; bảo vệ và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh.
Câu 15. Phép biện chứng tư duy, tư duy biện chứng là gì? Mối quan hệ giữa chúng?
Phép biện chứng tư duy là một hệ thống tư tưởng phản ánh những mối liên hệ cơ bản
và phổ quát – các nguyên lý, quy luật biện chứng – chi phối những hình thức tư duy biện
chứng. Về nguồn gốc, phép biện chứng tư duy chính là sự phản ánh của phép biện chứng
khách quan vào trong bộ óc con người.
Tư duy biện chứng là một hệ thống các nguyên tắc có quan hệ với nhau điều phối
hoạt động của chủ thể tư duy trong việc nhận thức và cải tạo thực tiễn thế giới. Về nguồn
gốc, tư duy biện chứng được xây dựng từ những nội dung cơ bản của phép biện chứng tư
duy, trước hết là từ nội dung của các nguyên lý, quy luật cơ bản.
 Mối quan hệ giữa phép biện chứng tư duy và tư duy biện chứng

động. Con người chủ động thích nghi với thế giới bên ngoài bằng cách cải tạo thể giới
thoả mãn theo nhu cầu của mình.
1.2.3 Khi hoạt động thực tiễn, để đạt hiệu quả cao, con người tạo ra những vật phẩm không
có sẵn trong tự nhiên, đó chính là những công cụ, và sử dụng chúng.
I.3. Thực tiễn có tính chất lịch sử xã hội
1.3.1 Trình độ và hình thức hoạt động thực tiễn thay đổi qua các giai đoạn khác nhau của xã
hội.

Trích đoạn Quan điểm của triết học Mac-Lênin về bản chất con ngườ Quan điểm của triết học Mac-Lênin về giải phĩng con ngườ
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status