Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
2.7. Tăng cường công tác kiểm tra sau thông quan, điều tra chống
buôn lậu 54
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
WTO :Tổ chức thương mại thế giới Tổ chức thương mại thế
giới
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
1
Chuyên đề tốt nghiệp
WCO:Tổ chức hải quan thế giới : Tổ chức hải quan
thế giới
GVA: Hiệp định trị giá hải quan 1994 : Hiệp định trị
giá hải quan 1994
ASEAN:Hiệp hội các nước Đông Nam Á : Hiệp hội các nước
Đông Nam Á
GATT:Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại :
Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
C/O:Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa : Giấy chứng
nhận xuất xứ hàng hóa
TCHQ:Tổng cục hải quan : Tổng cục hải quan
HQHN: : Hải quan Hà Nội
GTT22: : Hệ thống cơ sở dữ liệu giá
KTSTQ: : Kiểm tra sau thông quan
BTC: : Bộ Tài chính
CP: : Chính phủ
QĐ: : Quyết định
NĐ: : Nghị định
TT: : Thông tư
KTTT: : Kiểm tra thu thuế
TGTT: : Trị giá tính thuế
hiểu hết quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Do vậy việc nghiên cứu vấn đề
xác định trị giá tính thuế là hết sức quan trọng, giỳp cỏc bên có liên quan
tớnh đỳng, tớnh đủ số thuế phải nộp, góp phần đẩy nhanh quá trình thông
quan, đưa hàng hóa vào lưu thông.
Với mục tiêu gắn liền lý luận với thực tiễn, qua quá trình thực tập
tại Cục Hải quan TP Hà Nội, được sự giúp đỡ của Phòng nghiệp vụ,
Phòng trị giá, được khảo sát thực tế tại Chi cục Hải quan Bưu điện, đặc
biệt là sự góp ý tận tình của Thạc sỹ Nguyễn Quang Huy em đã chọn đề
tài: “Xỏc định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu ở Cục Hải quan TP Hà
Nội: thực trạng và giải pháp hoàn thiện” với mong muốn đề xuất một
số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác xác định trị giá tính
thuế ở Cục Hải quan TP Hà Nội.
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
3
Chuyên đề tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, các phụ lục
và danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề gồm có 3 chương:
Chương I: Khái quát về cụng tỏc xác định trị giá tính thuế hàng
nhập khẩu ở Cục hải quan TP Hà Nội
Chương II: Thực trạng hoạt động xác định trị giá tính thuế hàng
nhập khẩu ở Cục Hải quan TP Hà Nội.
Chương III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện công tác xác
định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu ở Cục hải quan TP Hà Nội.
Do kiến thức và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên chuyên đề
thực tập của em không thể tránh khỏi thiếu sót, em rất mong nhận được
sự góp ý của các giảng viên để chuyên đề của em được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ Nguyễn Quang Huy cựng cỏc
cụ chỳ, anh chị tại Cục Hải quan TP Hà Nội đã nhiệt tình hướng dẫn,
giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
Em xin chân thành cảm ơn!
lực phấn đấu trên, Nhà nước đã tặng thưởng Hải quan TP Hà Nội những
phần thưởng cao quý: Huân chương Độc lập hạng ba (năm 2010), Huân
chương Lao động hạng ba (năm 1990), Huân chương Lao động hạng nhì
(năm 2000), Huân chương Lao động hạng nhất (năm 2005); Chính phủ
tặng cờ thi đua xuất sắc năm 1998, 2002, 2008; nhiều tập thể, cá nhân
Cục Hải quan TP Hà Nội được nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao
động, Huân chương Chiến công và các danh hiệu khen thưởng của Chính
phủ, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan, UBND các tỉnh, thành phố
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Đảng bộ Cục Hải quan TP Hà Nội được nhận cờ " Đảng bộ trong sạch
vững mạnh tiêu biểu 5 năm 2001-2004 " của Thành ủy Hà Nội. Các tổ
chức đoàn thể quần chúng: Công đoàn, Đoàn thanh niên, Phụ nữ liên tục
đạt danh hiệu tổ chức cơ sở vững mạnh, xuất sắc.
1.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy
Cơ cấu tổ chức bộ máy của Cục hải quan TP Hà Nội như sau:
- Lãnh đạo Cục gồm có: Cục trưởng và 5 Phó cục trưởng
- Khối cơ quan Cục gồm: 11 Phòng và tương đương
+ Văn phòng
+ Phòng Tổ chức Cán bộ - Đào tạo
+ Phòng Tài vụ - Quản trị
+ Phòng Nghiệp vụ
+ Phòng Tham mưu xử lý vi phạm và thu thập, xử lý thông tin nghiệp vụ
hải quan
+ Phòng Trị giá tính thuế
+ Trung tâm dữ liệu và công nghệ thông tin
+ Phòng Kiểm tra - Thanh Tra
+ Đội kiểm soát hải quan
+ Đội kiểm soát phòng chống ma túy
nước và các hoạt động khác có liên quan ở địa phương.
- Phối kết hợp với các Sở, Ban, Ngành, đoàn thể, cộng đồng doanh
nghiệp, nhân dân TP Hà Nội và các tỉnh thuộc địa bàn quản lý để hoàn
thành nhiệm vụ được giao.
- Phối kết hợp với các Cục Hải quan tỉnh, thành phố khác để tạo
thuận lợi và thực hiện nhiệm vụ được giao.
1.3.2. Nhiệm v
1/ Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn và triển khai thực hiện các quy định
của Nhà nước về Hải quan trên địa bàn hoạt động của Cục Hải quan.
2/ Thanh tra, kiểm tra các đơn vị thuộc Cục Hải quan trong việc
thực hiện chính sách, pháp luật về Hải quan theo quy chế hoạt động của
Thanh tra Hải quan.
3/ Xử lý vi phạm hành chính hoặc khởi tố đối với các vụ buôn lậu,
vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới theo quy định của pháp luật.
4/ Kiến nghị với Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan những vấn đề
cần sửa đổi, bổ sung các quy định của Nhà nước đối với hoạt động xuất
khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, chính sách thuế đối với
hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
5/ Tổ chức nghiên cứu, tiếp nhận và triển khai ứng dụng tiến bộ
khoa học, công nghệ và phương pháp quản lý Hải quan hiện đại vào các
hoạt động của Cục Hải quan.
6/ Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước, tổ chức hữu quan,
đơn vị trên địa bàn để thực hiện nhiệm vụ được giao.
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
7
Chuyên đề tốt nghiệp
7/ Tổ chức tuyên truyền và hướng dẫn thực hiện chính sách, pháp
luật về Hải quan trên địa bàn.
8/ Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế về Hải quan theo phân cấp
hoặc ủy quyền của Tổng cục trưởng, Bộ trưởng Bộ Tài chính.
đội và công chức làm công tác giá nghiên cứu kỹ quy trình trong đó lưu ý
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
8
Chuyên đề tốt nghiệp
thêm ba trường hợp mặt hàng nhập khẩu có nghi vấn, vẫn chấp nhận trị
giá khai báo nhưng đồng thời phải chuyển các nghi vấn sang bộ phận
kiểm tra sau thông quan để tiếp tục làm rõ. Trong đó có hai trường hợp
thuộc nhiệm vụ của công chức hải quan làm nhiệm vụ tại khâu kiểm tra
chi tiết hồ sơ giá, thuế và một trường hợp thuộc nhiệm vụ của công chức
hải quan làm nhiệm vụ tại khõu phỳc tập.
- Mặt hàng thuộc danh mục mặt hàng quản lý rủi ro và mặt hàng
ngoài danh mục mặt hàng quản lý rủi ro nhưng thuộc danh mục mặt hàng
trọng điểm cần tập trung quản lý tại đơn vị do Cục trưởng Cục hải quan
TP Hà Nội quyết định, có nghi vấn về mức giá nhưng trị giá khai báo
thấp hơn không quá 5% so với cơ sở dữ liệu giá tại thời điểm kiểm tra thì
giao các Chi cục trưởng căn cứ thực tế lô hàng nhập khẩu, các thông tin
dữ liệu về hàng hóa nhập khẩu, doanh nghiệp nhập khẩu,… để quyết định
việc áp dụng khoản đảm bảo và tổ chức tham vấn đối với lô hàng đó.
- Về mối liên hệ giữa bộ phận giỏ (phũng trị giá tính thuế, bộ phận
kiểm tra tại khâu thông quan và bộ phận phúc tập tại các Chi cục) và bộ
phận kiểm tra sau thông quan: Cục hải quan TP Hà Nội đã quy định việc
phối hợp chặt chẽ giữa bộ phận trị giá và kiểm tra sau thông quan trong
mục tiêu ngăn ngừa và chống gian lận thương mại qua giá tại “Kế hoạch
tổ chức và phối hợp chống gian lận thương mại qua giá giai đoạn 2008-
2010” được ban hành kèm theo công văn số 1587/HQHN-TGTT ngày
1/9/2008 của Cục.
- Về thực hiện chế độ báo cáo công tác quản lý giá trong nội bộ
Cục hải quan TP Hà Nội: ngoài các báo cáo đột xuất theo vụ việc hoặc
yêu cầu cụ thể khác, Cục hải quan TP Hà Nội yêu cầu các Chi cục thực
hiện thống nhất chế độ báo cáo về công tác quản lý giá gồm: báo cáo đề
Nếu có sai
phạm, xử
lý theo
quy định
và xác
định giá
Nếu có nghi
vấn, chuyển
sang kiểm
tra sau
thông quan
Nếu không sai
phạm, không
nghi vấn,
chấp nhận giá
khai báo
Nếu có sai
phạm, xử
lý theo
quy định
và xác
định giá
Trong danh mục quản lý rủi ro về
giá
Có nghi vấn
hồ sơ, không
nghi vấn giá
khai báo,
chấp nhận giá
khai báo
quản lý rủi ro về giá
Nếu
có
nghi
vấn
Ngoài danh mục quản lý rủi ro về giá
Chuyên đề tốt nghiệp
* Đối với hàng luồng xanh: Sau khi thông quan hàng hoá, cán bộ
phúc tập thực hiện kiểm tra hồ sơ, kiểm tra mức giá, đối chiếu với các
nguyên tắc, phương phỏp xác định trị giá do doanh nghiệp khai báo và xử
lý như sau:
- Trường hợp phát hiện các sai phạm về hồ sơ, về mức giá khai báo
thì xử lý hành vi sai phạm theo quy định đồng thời xác định lại giỏ tớnh
thuế theo đúng trình tự, nguyên tắc và các phương phỏp xác định trị giá,
ra thông báo để doanh nghiệp biết và nộp thuế bổ sung theo quyết định
điều chỉnh.
- Trường hợp nghi ngờ về hồ sơ, về mức giá khai báo nhưng chưa
đủ cơ sở để kết luận hành vi sai phạm thì chuyển hồ sơ sang Chi cục kiểm
tra sau thông quan để tiếp tục xác minh hoặc kiểm tra sau thông quan để
kết luận cụ thể.
* Đối với hàng luồng vàng, luồng đỏ: Trước khi thông quan hàng
hoá, công chức bước 2 kiểm tra chi tiết hồ sơ, kiểm tra mức giá khai báo,
đối chiếu với các nguyên tắc, phương phỏp xác định trị giá do doanh
nghiệp khai báo và xử lý như sau:
- Trường hợp phát hiện các sai phạm về hồ sơ, về mức giá khai báo
thì xử lý hành vi sai phạm theo quy định đồng thời xác định lại giỏ tớnh
thuế theo đúng trình tự, nguyên tắc và các phương phỏp xác định trị giá,
ra thông báo để doanh nghiệp biết và nộp thuế bổ sung theo quyết định
điều chỉnh.
- Trường hợp nghi ngờ về hồ sơ, nghi ngờ về mức giá khai báo
a. Người mua không bị hạn chế quyền định đoạt hoặc sử dụng hàng
hoá sau khi nhập khẩu, ngoại trừ các hạn chế sau:
- Hạn chế về việc mua bán, sử dụng hàng hoá theo quy định của
pháp luật Việt Nam, như: các quy định về việc hàng hóa nhập khẩu phải
dán nhãn mác bằng tiếng Việt, hàng hóa nhập khẩu có điều kiện, hoặc
hàng hóa phải chịu một hình thức kiểm tra trước khi được thông quan…
- Hạn chế về nơi tiêu thụ hàng hóa sau khi nhập khẩu.
- Những hạn chế khác nhưng không làm ảnh hưởng đến trị giá của
hàng hoá: những hạn chế này là một hoặc nhiều yếu tố có liên quan trực
tiếp hay gián tiếp đến hàng hóa nhập khẩu, nhưng không làm tăng hoặc
giảm giá thực thanh toán cho hàng hóa đó.
b. Giá cả hoặc việc bán hàng không phụ thuộc vào những điều kiện
hay các khoản thanh toán mà vỡ chỳng không thể xác định được trị giá
của hàng hoá cần xác định trị giá tính thuế.
c. Sau khi bán lại hàng hoá, chuyển nhượng hoặc sử dụng hàng hóa
nhập khẩu, người nhập khẩu không phải trả thêm bất kỳ khoản tiền nào từ
số tiền thu được do việc định đoạt hoặc sử dụng hàng hoá mang lại,
không kể các khoản điều chỉnh cộng.
d. Người mua và người bán không có mối quan hệ đặc biệt hoặc
nếu có thì mối quan hệ đú khụng ảnh hưởng đến trị giá giao dịch.
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
12
Chuyên đề tốt nghiệp
Theo thống kê của Hải quan Hà Nội thỡ trờn 90% lô hàng nhập
khẩu được áp dụng phương pháp trị giá giao dịch.
2.2.2. Điều kiện áp dng phương pháp tr giá tính thuế ca hng hoá
nhập khẩu giống hệt
Khi không thể xác định trị giá tính thuế theo phương pháp trị giá
giao dịch thì phải áp dụng phương pháp tiếp theo là trị giá tính thuế của
hàng hóa nhập khẩu giống hệt. Điều kiện áp dụng:
khẩu tương tự về cùng số lượng với lô hàng đang xác định trị giá tính
thuế.
b.1.3. Nếu không tìm được lô hàng nhập khẩu nêu tại điểm b.1.1.
và b.1.2. thì lựa chọn lô hàng nhập khẩu khác nhau về cấp độ thương mại
nhưng cùng số lượng, sau đó điều chỉnh trị giá giao dịch của lô hàng nhập
khẩu tương tự về cùng cấp độ thương mại với lô hàng đang xác định trị
giá tính thuế.
b.1.4. Nếu không tìm được lô hàng nhập khẩu nêu tại điểm b.1.1.,
b.1.2., b.1.3. thì lựa chọn lô hàng nhập khẩu khác nhau cả về cấp độ
thương mại và số lượng, sau đó điều chỉnh trị giá giao dịch của lô hàng
nhập khẩu tương tự về cùng cấp độ thương mại và số lượng với lô hàng
đang xác định trị giá tính thuế.
b.2. Điều kiện về quãng đường và phương thức vận tải, bảo hiểm:
Lô hàng nhập khẩu tương tự cú cựng khoảng cách và phương thức vận
chuyển hoặc đã được điều chỉnh về cùng khoảng cách và phương thức
vận chuyển giống như lô hàng đang được xác định trị giá tính thuế. Nếu
có sự chênh lệch đáng kể về phí bảo hiểm thì điều chỉnh về cùng điều
kiện bảo hiểm với lô hàng đang xác định trị giá tính thuế.
2.2.4. Điều kiện áp dng phương pháp xác đnh tr giá tính thuế theo
phương pháp khấu trừ.
Khi không đủ điều kiện để áp dụng ba phương pháp trờn thỡ hải
quan Hà Nội sẽ áp dụng phương pháp khấu trừ. Phương pháp xác định trị
giá tính thuế theo phương pháp khấu trừ sẽ được áp dụng khi:
- Hàng hoá nhập khẩu sau khi gia công, chế biến còn nguyên trạng
như khi nhập khẩu.
- Hàng hoá nhập khẩu sau khi gia công, chế biến vẫn giữ nguyên
đặc điểm, tính chất, công dụng như khi nhập khẩu, là hàng hoá được bán
ra trên thị trường Việt Nam.
Trường hợp sau khi gia công, chế biến hàng hoá nhập khẩu không
còn nguyên trạng như khi nhập khẩu, nhưng vẫn có thể xác định được
2.3. Xây dựng cơ sở dữ liệu để kiểm soát hoạt động xác định trị giá tính
thuế hàng nhập khẩu của doanh nghiệp
Một trong những điều kiện cần thiết và cơ sở pháp lý để tra cứu,
đối chiếu xác định trị giá tính thuế theo GATT là nguồn thông tin dữ liệu
giá. Nguồn tin từ hệ thống dữ liệu trị giá tính thuế (GTT22) là kho dữ liệu
điện tử được cập nhật thường xuyên, trong đó ghi lại tất cả các thông tin
về trị giá khai báo, trị giá tính thuế của các mặt hàng nhập khẩu theo các
tờ khai nhập khẩu. Hệ thống cũng cho phép tham khảo thông tin về các
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
15
Chuyên đề tốt nghiệp
trường hợp nghi ngờ, gian lận về trị giá, các phương pháp xác định trị giá
đã được thực hiện. Có thể nói đây là nguồn thông tin quan trọng nhất, đa
dạng nhất mà cơ quan hải quan có được.
2.3.1. Các ngun thông tin được sử dng
Cục hải quan TP Hà Nội đã sử dụng các nguồn thông tin để kiểm
tra, tham vấn và xác định trị giá trong thời gian qua bao gồm:
- Nguồn thông tin dữ liệu về hồ sơ các lô hàng nhập khẩu do doanh
nghiệp khai báo.
- Nguồn thông tin dữ liệu về hồ sơ các lô hàng nhập khẩu do cơ
quan Hải quan điều chỉnh sau tham vấn.
- Nguồn thông tin dữ liệu do cơ quan Hải quan thu thập được như:
Nguồn thông tin trên mạng Internet, nguồn thông tin từ giá bán thị trường
qua khảo sát, nguồn thông tin do các Hiệp hội cung cấp,…
2.3.2. Yêu cầu trong xây dựng cơ sở dữ liệu
Cục hải quan TP Hà Nội yêu cầu các Chi cục trong việc cập nhật
các thông tin vào hệ thống GTT22 như sau: cập nhật đầy đủ, chi tiết,
chính xác và kịp thời các thông tin vào hệ thống GTT22 do người khai
hải quan khai báo hoặc do cơ quan hải quan thu thập được trong quá trình
kiểm tra, tham vấn, xác định giá. Thường xuyên kiểm tra, theo dõi, rà
ngày 21/5/2008 của Bộ tài chính.
Về việc sử dụng thông tin dữ liệu giá để xác định trị giá tính thuế
sau khi bác bỏ trị giá giao dịch: thực hiện đúng theo quy định tại điểm b
mục 3 phần II Quyết định số 1102/QĐ-BTC ngày 21/5/2008 của Bộ
trưởng Bộ tài chính; thực hiện đúng trình tự, nguyên tắc các phương pháp
xác định trị giá tính thuế quy định tại thông tư số 40/2008/TT-BTC.
Thông tin giá thu thập từ các nguồn khác (thị trường, Internet ) phải
được phân tích, đánh giá, tổng hợp, theo đúng phương pháp, trình tự
quy định tại Phụ lục Quyết định số 1102/QĐ-BTC ngày 21/5/2008 của
Bộ trưởng Bộ tài chính và trình lãnh đạo phê duyệt trước khi sử dụng;
không sử dụng mức giá tại danh mục quản lý rủi ro, danh mục trọng điểm
hoặc mức giá giả định để xác định trị giá.
2.3.3. Công tác kiểm tra v nâng cấp hệ thống cơ sở dữ liệu
Thời gian vừa qua, Phòng trị giá tính thuế đã phối hợp với Trung
tâm CNTT cài đặt nâng cấp hệ thống GTT22 tại các Chi cục, đồng thời
làm việc với đoàn khảo sát của Tổng cục hải quan tại Cục và Chi cục hải
quan Bắc Hà Nội về việc cài đặt GTT22 mới nâng cấp. Khi xảy ra lỗi cập
nhật tờ khai trị giá còn thiếu tại các Chi cục, trong quá trình các Chi cục
khắc phục, Phòng trị giá đã phối hợp với Trung tâm CNTT để tìm nguyên
nhân báo cáo Tổng cục hải quan.
Phòng trị giá còn thường xuyên kiểm tra, rà soát dữ liệu giá của các
Chi cục trên hệ thống GTT22, từ đó kịp thời chấn chỉnh những sai sót của
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
17
Chuyên đề tốt nghiệp
các Chi cục trong công tác cập nhật dữ liệu giá. Bên cạnh đó, kịp thời hỗ
trợ các Chi cục khi có vướng mắc về công tác giá dưới hình thức văn bản
hoặc cử cán bộ chuyên quản trực tiếp xuống các Chi cục phối hợp làm
việc.
2.4. Giải quyết những vấn đề phát sinh trong khâu xác định trị giá tính
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
18
Chuyên đề tốt nghiệp
các khiếu nại này theo đúng thẩm quyền và pháp luật, không còn khiếu
nại nào chưa được Phòng giải quyết.
3. Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác xác định trị giá tính thuế
hàng nhập khẩu tại Cục hải quan TP Hà Nội.
3.1. Những nhân tố thuận lợi
Từ Cục đến các Chi cục hải quan đã triển khai được một hệ thống
quản lý công tác giỏ tớnh thuế tuân thủ nội dung Hiệp định trị giá GATT
phù hợp với quản lý hiện đại, đang phát triển đúng hướng phù hợp với
yêu cầu phát triển thương mại, hội nhập và hiện đại hóa hải quan.
Các văn bản pháp quy về công tác giỏ tớnh thuế, các văn bản
hướng dẫn chỉ đạo công tác giỏ tớnh thuế của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải
quan được triển khai kịp thời, công tác giá ngày càng hoàn thiện.
Hơn nữa, có thể thấy sau khi áp dụng nguyên tắc kiểm tra giá là
quản lý rủi ro về giá căn cứ vào Danh mục mặt hàng quản lý rủi ro về giá
và Danh mục mặt hàng trọng điểm cũng đảm bảo việc quản lý giá thông
thoáng mà vẫn chặt chẽ. Bên cạnh đó, việc triển khai các văn bản hướng
dẫn thực hiện công tác giá từ Cục đến Chi cục thông suốt, kịp thời và rõ
ràng hơn. Các Chi cục cũng đã chú trọng hơn đến việc hướng dẫn, giải
đáp những khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp liên quan đến những
quy định mới về công tác giá. Do đó, việc chấp hành của doanh nghiệp
trong khai báo cũng nghiêm túc hơn, sát với trị giá giao dịch hơn.
Cục Hải quan TP Hà Nội đã rất chú trọng đến công tác đào tạo
nhằm nâng cao nhận thức cho đội ngũ làm công tác giá ngay từ khi bắt
đầu thực hiện Thông tư số 40/2008/TT-BTC. Cục đã nghiêm túc chọn
lựa, xây dựng nên một đội ngũ cán bộ có trình độ, có kinh nghiệm, được
đào tạo đúng chuyên môn làm công tác giá tại Chi cục. Cục đã ra quyết
định công khai danh sách các công chức chuyên trách làm công tác giá tại
nên vẫn còn tình trạng nhiều sai sót lặp đi lặp lại. Bên cạnh đú, cỏc Chi
cục bố trí cán bộ làm công tác giá chưa theo hướng chuyờn sõu nờn cũn
cú hiện tượng cán bộ làm công tác giá bị phân công làm công tác khác.
+ Cán bộ làm công tác giá ở Chi cục chưa chủ động tự đào tạo, còn
phụ thuộc vào chương trình đào tạo của Cục. Khi được đào tạo thì tinh
thần, thái độ học tập còn chưa nghiêm túc. Kỹ năng tham vấn, cập nhật
các thông tin mới về biến động giá cả trên thị trường quốc tế của một số
cán bộ, công chức tại đơn vị còn bị hạn chế.
+ Việc sử dụng thông tin giá chủ yếu căn cứ vào chương trình
GTT22 một phần là do cán bộ công chức chưa chủ động thu thập thông
tin từ nguồn khác một phần là do các thông tin hỗ trợ công tác giỏ cũn
nghèo nàn.
+ Chương trình GTT22 đang trong quá trình hoàn thiện, dẫn tới
hay xảy ra lỗi trong khi chạy, làm ảnh hưởng tới công tác nghiệp vụ. Hệ
thống thông tin dữ liệu tuy đã được nâng cấp, cập nhật kịp thời và đầy đủ
hơn trước đây, nhưng một số trường hợp vẫn còn thiếu thông tin chi tiết
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
20
Chuyên đề tốt nghiệp
để có thể lựa chọn làm lô hàng giống hệt hoặc tương tự ảnh hưởng đến
việc sử dụng làm căn cứ xác định trị giá tính thuế.
+ Các văn bản liên quan đến công tác giỏ còn chậm, chưa kịp thời,
hay thay đổi, một số nội dung còn chồng chéo, không rõ ràng gây khó
khăn cho cán bộ thực hiện. Nhiều thời điểm thiếu căn cứ pháp lý dẫn đến
tồn tại song song nhiều phương pháp xác định trị giá: Từ ngày 1/1/2004
đến ngày 31/8/2004 tồn tại 3 phương pháp tính thuế: hàng hóa là vật tư
nhập khẩu trực tiếp đưa vào sản xuất, hàng hóa của doanh nghiệp hoạt
động theo Luật đầu tư nước ngoài được xác định giá theo hợp đồng quy
định tại thông tư 08/2002/TT-BTC ngày 23/1/2002; hàng hóa nhập khẩu
từ những nước chưa ký kết với Việt Nam về thực hiện trị giá hải quan
hiện nay chưa đồng bộ mà mang tính chắp vá gây khó khăn cho hải quan
trong khai thác dữ liệu: phần mềm quản lý đăng ký tờ khai – hệ thống cơ
sở dữ liệu giá GTT22 – phần mềm cập nhật thông tin kiểm hóa – phần
mềm thống kê hải quan – phần mềm khai hải quan điện tử hoạt động
chưa hoàn toàn tương thích và đồng bộ.
3.2.2. Từ phía doanh nghiệp
Hiện nay, Ngành hải quan đang áp dụng cơ chế doanh nghiệp tự kê
khai, tự tính thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Theo đó, doanh
nghiệp sẽ tự ỏp mó hàng hóa, thuế suất và xác định giỏ tớnh thuế trên cơ
sở những quy định đã được biết trước. Tuy nhiên, một bộ phận doanh
nghiệp chưa am hiểu các phương pháp xác định trị giá tính thuế theo Hiệp
định nên nhận thức về quyền lợi và nghĩa vụ còn hạn chế. Đa số các
doanh nghiệp chỉ nhận thức về mặt quyền lợi (được ỏp giỏ tớnh thuế theo
trị giá khai báo, không bị áp đặt theo trị giá tối thiểu như trước kia) nhưng
chưa tự giác thực hiện các nghĩa vụ với cơ quan hải quan như: khai báo
trung thực trị giá, cung cấp các thông tin về giá và trả lời các câu hỏi nghi
vấn của cơ quan Hải quan trong quá trình tham vấn. Doanh nghiệp đã gây
ra một số trở ngại làm giảm tiến độ thông quan hàng hóa. Điều này gây
khá nhiều khó khăn cho cán bộ Hải quan khi thực hiện nhiệm vụ.
Doanh nghiệp luôn có xu hướng gian lận và tìm kiếm những kẽ hở,
sử dụng nhiều thủ đoạn gian lận giá tinh vi như khai thấp giá thực tế phải
thanh toán, lợi dụng quy định về hàng khuyến mại, giảm giá để khấu trừ
khoản này ra khỏi trị giá tính thuế hoặc không khai báo một số khoản
phải cộng như phí bảo hiểm, tiền bản quyền, trị giá phần mềm.
Nguyên nhân một phần là do người khai báo không hiểu rõ luật
nờn khụng khai báo đúng hoặc cố tình khai báo thấp đi giá trị lô hàng để
trốn thuế do luật pháp nước ta chưa chặt chẽ lắm. Doanh nghiệp khai báo
không đầy đủ các yếu tố liên quan đến hàng hóa như chi phí bao bì, đóng
gói, phí bản quyền, các chi phí tham gia vào quá trình sản xuất… Các số
liệu này phải rõ ràng, khách quan thì mới đẩy nhanh quá trình làm thủ tục
Nguyên nhân: Nhìn chung, các hình thức gian lận về trị giá hải
quan trong thực tế vô cùng đa dạng và phức tạp. Có thể nêu một vài
nguyên nhân chủ yếu sau:
- Do sự áp dụng mô hình quản lý rủi ro, đơn giản hóa thủ tục hải
quan trong khi chưa có sự chuẩn bị chu đáo, đồng bộ về cơ sở pháp lý
cho việc xác định trị giá hải quan.
- Các cơ sở về thông tin còn thiếu dẫn đến nhiều hạn chế khi đấu
tranh với các hành vi gian lận.
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
23
Chuyên đề tốt nghiệp
- Kiến thức chuyờn sõu về các lĩnh vực như: xuất xứ hàng hóa,
chứng từ vận tải, chứng từ thanh toỏn… của một số cán bộ hải quan còn
yếu, không phát hiện ra những điều bất hợp lý trong bộ chứng từ khai
báo. Ngoài những nguyên nhân chủ quan từ ngành Hải quan, cần phải kể
đến những nguyên nhân khách quan từ hệ thống các cơ quan khác cũng
như nhận thức của xã hội nói chung về trị giá hải quan. Chính sự phát
triển không đồng bộ giữa các ngành là một trong những nguyên nhân
khiến ngành Hải quan gặp khó khăn trong phát huy khả năng của mình.
CHƯƠNG II
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
24
Chuyên đề tốt nghiệp
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ
HÀNG NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TP HÀ NỘI
1. Thực trạng hoạt động nhập khẩu hàng hóa tại Cục hải quan TP
Hà Nội
Tính chung trong 10 năm, kim ngạch nhập khẩu qua địa bàn quản
lý của Cục Hải quan TP Hà Nội tăng bình quân 32%/năm, lượng hành
khách xuất nhập cảnh tăng 36%/năm, phương tiện xuất nhập cảnh tăng