skkkn hướng dẫn học sinh lớp 10 cân bằng dinh dưỡng để cơ thể phát triển toàn diện ( qua chương “ các thành phần hóa học của tế bào”) - Pdf 25

SKKN: 2013 - 2014
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
: Nữ
Địa chỉ: D19D- Phường Quang Vinh- TP Biên Hòa- Tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: ĐTDĐ:
Fax: E-mail:
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: ĐHSP
Năm nhận bằng : 2003
Chuyên ngành đào tạo: Sinh học
Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Sinh học
- Số năm có kinh nghiệm: 9
+ PHƯƠNG PHÁP HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG ĐỌC BÀI- CHÉP BÀI CỦA GIÁO
VIÊN VÀ HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC
+ PHỐI HỢP SỬ DỤNG HÌNH ẢNH ĐỘNG TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 10
Tên sáng kiến kinh nghiệm:
HƯỚNG DẪN HỌC SINH KHỐI 10 CÂN BẰNG DINH DƯỠNG TRONG
BỮA ĂN HẰNG NGÀY.
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
NHữNG VấN Đề DINH DƯỡNG LớN HIệN NAY
1 GV: LÊ THỊ XUÂN LAM – Trường THPT NGÔ QUYỀN
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT NGÔ QUYỀN
Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 10
CÂN BẰNG DINH DƯỠNG ĐỂ CƠ THỂ
PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN
(QUA CHƯƠNG “ CÁC THÀNH PHẦN

+ PHƯƠNG PHÁP HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG ĐỌC BÀI- CHÉP BÀI
CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC
+ SỬ DỤNG HÌNH ẢNH ĐỘNG TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 10
+ SỬ DỤNG TỔNG HỢP CÁC PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC ĐỂ DẠY
BÀI “ NGUYÊN PHÂN, GIẢM PHÂN” CÓ HIỆU QUẢ
2 GV: LÊ THỊ XUÂN LAM – Trường THPT NGÔ QUYỀN
SKKN: 2013 - 2014
Tên sáng kiến kinh nghiệm:
HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 10 CÂN BẰNG DINH DƯỠNG ĐỂ CƠ THỂ
PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN ( QUA CHƯƠNG “ CÁC THÀNH PHẦN HÓA
HỌC CỦA TẾ BÀO”)
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Về mặt dinh dưỡng, thế giới hiện nay đang sống ở hai thái cực trái ngược nhau
hoặc bên bờ vực thẳm của sự thiếu ǎn, hoặc bên bờ vực thẳm của sự thừa ǎn.
Theo ước tính của FAO sản lượng lương thực trên thế giới có đủ để đảm bảo
nhu cầu nǎng lượng cho toàn thể nhân loại. Nhưng vào những nǎm cuối của thập
kỷ 80 mới có 60% dân số thế giới được đảm bảo trên 2600 Kcal/người/ngày và vẫn
còn 11 quốc gia có mức ǎn quá thấp dưới 2000 Kcalo/người/ngày.
Tuy nhiên ở các nước công nghiệp phát triển lại đứng bên bờ vực thẳm của
sự thừa ǎn, nổi lên sự chênh lệch quá đáng so với các nước đang phát triển.
Hậu quả của thừa ǎn ngoài bệnh béo phì còn dẫn đến các bệnh tǎng huyết áp,
bệnh đái đường và các cơ quan bị nhiễm mỡ đặc biệt là bệnh thiểu nǎng tim, thiểu
nǎng hô hấp, thiểu nǎng thận.
Thực tế ở các nước đang phát triển hiện tượng thừa ǎn chủ yếu là thừa nǎng
lượng do protein và nhất là lỉpit, nhưng vẫn thiếu các chất dinh dưỡng khác đặc
biệt là các yếu tố vi chất dinh dưỡng.
Nước ta đang phấn đấu thoát khỏi tình trạng nghèo đói và suy dinh dưỡng,
công việc không phải là dễ dàng sau nhiều nǎm chiến tranh. Song việc giải quyết
vấn đề dinh dưỡng ở nước ta không phải là việc phấn đấu đuổi kịp các nước về tiêu
thụ các thực phẩm từ thịt, bơ sữa, dầu mỡ và chất béo ǎn.

hợp nên số học sinh đã và có nguy cơ thừa cân, béo phì ngày càng tăng, như:
+ Trong bữa ăn gia đình sử dụng nhiều thức ăn chiên, xào
+ Nhiều loại thức ăn, đồ uống chứa nhiều đường
+ Sử dụng nhiều loại thức ăn nhanh chứa nhiều dầu mỡ.
+ Rau, củ, quả không nằm trong thực đơn mỗi bữa ăn.
+ Không có thời gian cho vận động do:
. Thời gian chủ yếu trong ngày là ngồi học.
. Đi học có người chở đi và về.
. Thời gian ăn uống không nhiều, không thoải mái.
4 GV: LÊ THỊ XUÂN LAM – Trường THPT NGÔ QUYỀN
SKKN: 2013 - 2014
Một số gia đình không có thời gian chuẩn bị thức ăn cho con học sinh nên để
học sinh tự lựa chọn thức ăn theo ý thích trong các cửa hàng bán thức ăn nhanh.
Kết quả học sinh sẽ chọn những loại thức ăn yêu thích của mình như chiên, nướng,
xào chứa rất nhiều lipit, thiếu nghiêm trọng các vi chất.
Bên cạnh đó một số học sinh đặc biệt là nữ lại có chế độ ăn kiêng ( để tránh
béo phì) không khoa học như:
+ Ăn rất ít ( cơm, thịt, cá,…)
+ Không sử dụng những sản phẩm có chứa lipit
+ Uống nước chanh, giấm nhiều.
+ Sử dụng các loại trà giảm cân,….
Dẫn tới cơ thể gầy, yếu, dễ bị nhiễm bệnh, trong giờ học tập và hoạt động ngoại
khóa trên trường đều không đủ sức khỏe.
Tất cả các hành động trên của học sinh đều ảnh hưởng trực tiếp sức khỏe và đặc
biệt là sẽ làm ảnh hưởng tới quá trình phát triển toàn diện của cơ thể sau này.
Hướng dẫn học sinh có thể ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng đã được các giáo
viên đặc biệt là giáo viên dạy môn sinh đề cập, tuy nhiên chưa được cụ thể vì thời
gian không nhiều và không có trong nội dung bài học dẫn tới không thể liên hệ
được.
Như vậy, để học sinh có thể tự lựa chọn cho mình một chế độ ăn uống hợp lí,

3. Khái niệm về dinh dưỡng:
6 GV: LÊ THỊ XUÂN LAM – Trường THPT NGÔ QUYỀN
SKKN: 2013 - 2014
Theo Hán Việt tự điển, dinh dưỡng là lấy những chất bổ trong đồ ăn để nuôi
dưỡng thân thể.
Người Mỹ gọi là “Nutrition”.
Việc ăn uống (ẩm thực) là một trong những nhu cầu sinh lý thiết yếu,cho đời
sống con người.Trong đó, đồ ăn (thực phẩm) đóng một vai trò căn bản, trong việc
cung cấp nguồn năng lượng sống cho cơ thể. Đồ ăn (thực phẩm) được cấu tạo bởi
các chất bổ dưỡng (Nutrients), bao gồm những thành phần hóa học, để nuôi sống
cơ thể.
4. Chế độ cân bằng dinh dưỡng là gì?
Theo PGS-TS Trần Đình Toán thì cân bằng dinh dưỡng là yếu tố quan trọng để
cơ thể phát triển khỏe mạnh. Cơ thể cần dung nạp nhiều chất dinh dưỡng theo một
tỷ lệ thích hợp để sản sinh năng lượng và hoạt động một cách bình thường. Vì vậy
để xây dựng một chế độ dinh dưỡng hợp lý, mỗi người cần phải đảm bảo việc có
một khẩu phần ăn đa dạng các loại thực phẩm và đầy đủ 4 nhóm chất cần thiết bao
gồm chất đạm, bột đường, chất béo, vitamin và khoáng chất.
Từ buổi đầu của khoa học dinh dưỡng, các tác giả kinh điển như Voi,Saternikov
đã cho rằng tương quan hợp lý giữa P:L:G trong khẩu phần nên là 1:1:5 (nghĩa là
1g protein nên có1g lipit và 5g gluxit).
5. Dinh dưỡng với tuổi thanh thiếu niên
Tuổi 13 đến 15 được gọi là thiếu niên và từ 16 tuổi là bước vào tuổi thanh
niên. Đây là lứa tuổi song song với sự phát triển nhanh còn là giai đoạn hoạt động
nhiều. Lứa tuổi này trẻ em ăn rất nhiều, có trẻ “ăn không thấy no” vì nhu cầu nhiệt
lượng cao.
Nhu cầu dinh dưỡng không có gì khác lắm so với tuổi nhi đồng ở giai đoạn 7
– 12 tuổi. Tuy nhiên sự khác biệt ở từng trẻ còn phụ thuộc vào mức hoạt động của
từng trẻ và tình trạng phát triển sinh lý. Trong việc nuôi dưỡng cần đặc biệt các chú
ý sau:

niên là rất quan trọng.
- Vitamin A: ở tuổi thanh thiếu niên cần đủ vitamin A để duy trì mạnh mẽ sự phát
triển của cơ bắp. Thiếu vitamin A sức đề kháng của trẻ bị giảm trẻ sẽ dễ mắc bệnh,
sức khoẻ yếu.
- Vitamin D: Thiếu vitamin D có thể gây chứng loãng xương.
Để hỗ trợ cho việc đảm bảo nhu cầu vitamin A và D, trẻ cầm ăn chất béo có tỷ lệ
tốt (15 – 20%) trong bữa ăn và tăng cường sự luyện tập, tiếp xúc với ánh nắng.
- Vitamin C: Cần đảm bảo đều đặn và thường ngày qua việc ăn uống nhiều rau quả.
Nên ăn 300 – 500 g rau quả hàng ngày.
Tóm lại về dinh dưỡng lứa tuổi thanh thiếu niên:
Có thuận lợi, vì nhu cầu dinh dưỡng cao, trẻ đã lớn nên thường “dễ ăn”, dễ
châm chước chất lượng miễn là có ăn đủ để đáp ứng nhu cầu. Trong nuôi dưỡng
cần chú ý đặc điểm và cũng cần có sự giáo dục dinh dưỡng để hướng cho trẻ biết
ăn uống đúng với các nhu cầu.
Ngoài ăn uống thường xuyên, lứa tuổi thanh thiếu niên cần có sự tiếp xúc rộng
rãi với xã hội, nên trẻ còn dễ chấp nhận các loại “ăn uống ngoài các bữa ăn chính”,
đặc biệt là uống.
Nước uống có kèm bổ sung chất dinh dưỡng thường được trẻ ưa thích và đó
cũng là một nguồn dinh dưỡng đáng được chú ý.
8 GV: LÊ THỊ XUÂN LAM – Trường THPT NGÔ QUYỀN
SKKN: 2013 - 2014
Mặt khác đây cũng là giai đoạn mà trẻ em có thể tạo nên các nếp quen xấu qua
việc nghiện ngập các loại thức uống. Nghiện rượu cũng là một vấn đề cần chú ý
đối với lứa tuổi này.
Với sự ăn uống của lứa tuổi thanh thiếu niên, nhiều khi thoát ly khỏi sự nuôi
dưỡng của gia đình, trẻ dễ tìm nhu cầu theo ý thích – cho nên công tác giáo dục
dinh dưỡng để trẻ biết ăn uống tốt trong thời kỳ này có vai trò tích cực nhất định.
6. Vai trò của các chất dinh dưỡng đối với cơ thể
Ăn uống đóng vai trò không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Dinh dưỡng
là yếu tố quyết định sức khỏe và tuổi thọ. Bữa ăn bảo đảm dinh dưỡng là bữa ăn có

Mặc dù cơ thể không thể hấp thu chất xơ, nhưng những ai ăn nhiều chất xơ sẽ
ít bị béo phì, ít bị bệnh tim, phòng táo bón. Các chất xơ giúp đưa nhanh chất thải ra
khỏi đường tiêu hóa.
Tuy vậy cũng không nên ăn quá nhiều chất xơ vì có thể sẽ bị cản trở việc hấp
thu các dưỡng chất cần thiết.
e. Vitamin
Vitamin là chất hữu cơ cần thiết và tuy số lượng ít nhưng chúng bắt buộc phải có
trong thức ăn.
Vitamin A: Vitamin A giúp bảo vệ mắt và các bệnh khô mắt. Thiếu vitamin A da sẽ
khô, tăng sừng hóa nang lông, bề mặt da thường nổi gai. Vitamin A còn có vai trò
khá rõ rệt với miễn dịch thể và miễn dịch tế bào.
10 GV: LÊ THỊ XUÂN LAM – Trường THPT NGÔ QUYỀN
SKKN: 2013 - 2014
Vitamin D3: Giúp cho việc chuyển hóa chất glucid thành năng lượng, đóng góp
vào sự phát triển của xương, giúp cho cơ thể phát triển bình thường, ăn ngon
miệng và không bị bệnh tê phù.
Dầu cá thu là nguồn vitamin D tốt nhất, sau đó là gan động vật, trứng, bơ
Nhóm vitamin B: Trong các nhóm vitamin B, vai trò của folat và pyridoxin đáng
chú ý hơn cả. Nếu thiếu các chất trên sẽ làm chậm sự tổng hợp các tế bào tham gia
vào cơ chế miễn dịch.
Vitamin C: Trong cơ thể, vitamin C tham gia vào các phản ứng ôxy hóa khử, đó là
các yếu tố cần thiết cho tổng hợp colagen là chất gian bào ở thành mạch, mô liên
kết, xương, răng.
Vitamin E: Bảo vệ chất béo trong cơ thể không bị ôxy hóa. Là chất chống ôxy hóa
(anti - oxydant) chủ yếu chống lại các gốc tự do.
Các chất khoáng và vi khoáng:
Nếu chúng ta ăn uống thiếu chất khoáng sẽ sinh nhiều bệnh như thiếu máu
(thiếu sắt), bị bướu cổ (thiếu iốt), thiểu sản men răng (thiếu fluor), còi xương ở trẻ
em, xốp xương ở người lớn (thiếu canxi)
Bên cạnh đó yếu tố vi lượng còn tham gia vào các quá trình chuyển hóa. Do đó

Chế độ dinh dưỡng sai có nguy cơ đưa tới một số bệnh tật. Sai có thể là quá
dư, quá thiếu hoặc không cân đối.
Thiếu dinh dưỡng, cơ thể sẽ chậm phát triển, trí nhớ kém, sức đề kháng với
bệnh tật giảm, cơ thể suy nhược và đưa tới giảm tuổi thọ.
Dinh dưỡng dư thừa sẽ dẫn đến các bệnh kinh niên, như bệnh tim, ung thư,
cao huyết áp, tai biến động mạch não, tiểu đường. Ngoài ra còn có thể mắc phải
những bệnh khác như xơ gan, viêm túi ruột hoặc tai nạn, tự tử do tiêu thụ nhiều
rượu.
Dinh dưỡng sai mà lại thiếu vận động cơ thể còn đưa tới nhiều ảnh hưởng
không tốt khác cho sức khỏe.
Dinh dưỡng không đúng cũng gây ra tổn thương về nhiều phương diện cho
các thế hệ sau.
7. Bữa ăn hợp lí đảm bảo nhu cầu năng lượng mỗi ngày:
12 GV: LÊ THỊ XUÂN LAM – Trường THPT NGÔ QUYỀN
SKKN: 2013 - 2014
Các chất dinh dưỡng tham gia cấu tạo nên cơ thể không phải là vật liệu cố
định mà luôn được thay thế và đổi mới. Thành phần cấu tạo của một người nặng
trung bình 50 kg bao gồm khoảng:
- 32 kg nước
- 11 kg đạm
- 4 kg chất béo (lipit)
- 2,5 kg chất khoáng
- 0,3-0,5 kg gluxit
Nhờ có chất đồng vị phóng xạ, đến nay người ta đã xác định là một nửa chất
protein của cơ thể được đổi mới trong vòng 80 ngày. Protein ở gan, ở máu đổi mới
còn nhanh hơn, một nửa đổi mới trong vòng 10 ngày.
Trong một đời người, chất protein có thể đổi mới tới 200 lần. Ngoài nhu cầu
ǎn để phát triển cơ thể khi còn trẻ , để đổi mới cơ thể trong suốt đời người, người ta
còn phải ǎn để đảm bảo nǎng lượng cho duy trì các hoạt động của cơ quan và lao
động. Nǎng lượng tiêu hao của cơ thể được cung cấp bởi thức ǎn. Thức ǎn ǎn vào

có thể liên hệ thực tế cho học sinh đầy đủ nhất. Nên đối tượng áp dụng ở đây là
học sinh lớp 10 .
Giải pháp tôi đưa ra là giải pháp thay thế một phần các giải pháp mà nhiều giáo
viên khác đã áp dụng.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
Không những để tạo hứng thú học tập môn Sinh học và tạo niềm say mê học tập
ở các em, người giáo viên cần làm cho học sinh hiểu rõ vị trí, vai trò của môn học
này, đồng thời gieo vào các em cảm xúc tốt đẹp và tâm lí thích học tập môn Sinh
học.
Bản chất của học sinh là rất ham học hỏi, tò mò về những cái mới mẽ, nhất là
những hiện tượng, sự việc có liên quan đến bản thân. Do đó khi dạy về các ảnh
hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của mình thì học sinh sẽ rất chú tâm
nghe và theo dõi
Học sinh luôn hướng tới cái đẹp của cuộc sống và luôn muốn mình trở thành
một con người hoàn thiện sau này.
Để giúp học sinh có thể phát triển toàn diện về mặt thể chất tôi hướng dẫn học
sinh khối 10 cân bằng sinh dưỡng trong các bữa ăn hằng ngày thông qua các bài
học trong chương “ Các thành phần hóa học của tế bào” sinh học 10 ban cơ bản.
15 GV: LÊ THỊ XUÂN LAM – Trường THPT NGÔ QUYỀN
SKKN: 2013 - 2014
CÁC BÀI HỌC ÁP DỤNG:
Bài 3: CÁC NGUYÊN TỐ HÓA HỌC VÀ NƯỚC
I. Mục tiêu bài học:
1. Kiến thức:
- Nêu được các thành phần hoá học của tế bào
- Kể tên được các nguyên tố cơ bản của vật chất sống, phân biệt được nguyên tố
đại lượng và nguyên tố vi lượng.
- Kể tên được các vai trò sinh học của nước đối với tế bào.
- Hiểu được vai trò của các nguyên tố hóa học và nước đối với cơ thể.
2. Kĩ năng:

nào và có vai trò gì?
HS: trả lời như SGK
GV: tại sao cần cung cấp đủ Fe, đặc biệt
đối với nữ ?
HS: Fe bị mất đi trong quá trình kinh
nguyệt, nên thiếu sắt dẫn tới thiếu máu.
GV: Nguyên tố vi lượng là nguyên tố
nào ? Có vai trò gì? Và có trong những
loại thực phẩm nào?
HS: trả lời như SGK
GV Bổ sung vai trò của nguyên tố vi
lượng:
+ Khi thiếu iốt tuyến giáp trạng tǎng hoạt
động, cố gắng bù trừ lượng thiếu và tuyến
giáp phì đại tạo nên bướu cổ.
+ Nhu cầu sắt ở lứa tuổi trưởng thành tǎng
lên nhiều do cơ thể phát triển nhiều tổ
chức mới - mỗi ngày lượng sắt mất đi ở
người trưởng thành vào khoảng 1 mg ở
nam và 0,8 mg ở nữ nhưng ở nữ lại có
lượng sắt mất thêm theo kinh nguyệt vào
khoảng 2 mg/ ngày.
Sắt ở thịt được hấp thu khoảng 30%, đậu
tương 20%, cá 15%, các thức ǎn thực vật
như ngũ cốc, rau và đậu đỗ (trừ đậu
tương) chỉ hấp thu khoảng 10%. Vitamin
C hỗ trợ hấp thu sắt còn các phytat,
photphat cản trở sự hấp thu sắt.
Nguồn sắt trong thức ǎn: sắt có nhiều
trong các thức ǎn nguồn gốc động vật,

có khoảng 30 mg canxi. Trong thịt các
loại chỉ có từ 10-20 mg canxi nhưng trong
các loại rau đậu đều có trên 60 mg, đặc
biệt đậu tương có 165 mg và vừng 1200
mg. Những loại rau có trên 100 mg canxi
trong 100 g rau gồm rau muống, mùng tơi
rau rền, rau đay, rau ngót. Các loại thủy
sản thường có nhiều canxi, xương cá cũng
là một canxi tốt nếu ǎn kho nhừ.
+ VITAMIN
Nhiều vitamin hình thành nên các men
cần thiết cho quá trình chuyển hóa vật
chất trong cơ thể. Phần lớn các vitamin
phải đưa từ thức ǎn vào cơ thể. Người ta
chia các vitamin thành 2 nhóm:
- Nhóm vitamin tan trong chất béo: Là
vitamin A,D,E,K thường đi kèm với chất
béo của thức ǎn. Một khẩu phần có hàm
lượng lipit thấp thường ít các vitamin này
hoặc cơ thể kém sử dụng các vitamin này.
- Nhóm vitamin tan trong nước: Bao gồm
vitamin nhóm B, vitamin C, vitamin P,
vitamin U. Cơ thể dễ dàng được thỏa mãn
nhu cầu các vitamin này khi dùng thức ǎn
tươi.
1. Vitamin A.
Ở thực phẩm thực vật, vitamin A tồn tại
dưới dạng provitamin A.
Khi thiếu vitamin A, da và niêm mạc khô,
sừng hóa, vi khuẩn dễ xâm nhập gây viêm

Ngoài ra vitamin B2 có ảnh hưởng tới khả
nǎng cảm thụ ánh sáng của mắt nhất là đối
với sự nhìn màu. Khi thiếu vitamin B2 sẽ
có tổn thương ở giác mạc và nhân mắt.
Riboflavin có nhiều trong các lá xanh, đậu
đỗ, phủ tạng của động vật
5. Vitamin PP ( Nia xin, axit nieotinic).
Thiếu nia xin và tryptophan là nguyên
nhân của bệnh Pellagra. Các biểu hiện
chính của bệnh là viêm da nhất là vùng
da tiếp xúc ánh nắng mặt trời, viêm
niêm mạc, ỉa chảy, có các rối loạn về
19 GV: LÊ THỊ XUÂN LAM – Trường THPT NGÔ QUYỀN
SKKN: 2013 - 2014
tinh thần.
Thịt gia cầm, bò, lợn nhất là phủ tạng
chứa nhiều vitamin PP. Lớp ngoài của các
hạt gạo, ngô, mì, đậu lạc vừng rất giàu
vitamin PP.
6. Vitamin C ( axit ascorbie) .
Vitamin C kích thích tạo colagen của mô
kiên kết, sụn, xương, rǎng, mạch máu. Vì
thế khi thiếu vitamin C, các triệu chứng
thường biểu hiện ở các tổ chức liên kết
và xương (xuất huyết dưới da, chảy máu
chân rǎng, đau mỏi xương khớp).
vai trò của vitamin C như kích thích sự
phát triển ở trẻ em, phục hồi sức khỏe, vết
thương mau lành, tǎng sức bền mao mạch,
tǎng khả nǎng lao động, sự dẻo dai và

trong dăm ba ngày là đã có nhiều nguy
cơ tử vong?
GV bổ sung:
Chiếm khoảng 60-70% trọng lượng của cơ
thể, nước phân phối ở khắp nơi như
máu, cơ bắp, não bộ, phổi, xương
khớp
Mỗi ngày cơ thể mất đi khoảng 1,5 lít nước
qua đại tiểu tiện, đổ mồ hôi, hơi thở. Khi
làm việc, vận động cơ thể sẽ mất thêm
nước. Vì vậy, để giữ lượng nước của cơ thể
bình thường, cần phải uống nước để thay
thế phần mất đi. Nhu cầu nước của mỗi
người thay đổi tùy theo tuổi tác, nhiệt độ cơ
thể, cân nặng, mức độ vận động, làm việc,
thời tiết
Vai trò của nước trong cơ thể : ( thông tin y
học- thuocthang.vn)
Nước giữ nhiều vai trò rất quan trọng trong
cơ thể, dưới đây là vài thống kê:
- Duy trì nhiệt độ trung bình của cơ thể
- Chuyên chở chất dinh dưỡng và ôxy nuôi
tất cả tế bào.
- Giúp chuyển hóa thực phẩm ra năng
lượng, cần thiết cho các chức năng cơ thể.
- Giúp cơ thể hấp thụ các chất dinh dưỡng.
- Loại bỏ các chất thải của cơ thể qua hệ
tiết niệu, da, ruột, hơi thở.
- Bao che các cơ quan sinh tử trong cơ thể,
tránh tổn thương do sự cọ xát, va chạm.

nốc một hơi hết ly nước. Mà nên từ từ uống
từng ngụm một để cho nước có thì giờ thấm
qua thành ruột vào mạch máu, tưới mát các
mô bào và thỏa mãn nhu cầu khát của một
cơ thể bị thiếu nước.
22 GV: LÊ THỊ XUÂN LAM – Trường THPT NGÔ QUYỀN
SKKN: 2013 - 2014
Vai trò của nước :
- Là thành phần chủ yếu trong mọi
cơ thể sống.
- Là dung môi hoà tan các chất, là
môi trường phản ứng, tham gia các
phản ứng sinh hóa
V. Củng cố:
Trả lời câu hỏi trong SGK
VI. Dặn dò:
Đọc bài cacbohydrat và lipit
23 GV: LÊ THỊ XUÂN LAM – Trường THPT NGÔ QUYỀN
SKKN: 2013 - 2014
Bài 4: CACBOHIDRAT VÀ LIPIT
I. Mục tiêu bài học:
1.Kiến thức:
- Nêu được cấu tạo hoá học của cacbohiđrat, lipit
- Kể được các vai trò sinh học của cacbohiđrat, lipit trong tế bào.
2. Kỹ năng
- Nhận biết được một số thành phần hoá học của tế bào.
- Rèn luyện tư duy khái quát trừu tượng.
3. Thái độ
- Có nhận thức đúng về vai trò sinh học của cacbohiđrat, lipit để có ý thức chăm
sóc sức khỏe bản thân, gia đình và xã hội.

HS: Chủ yếu là cơm, hoặc bánh mì,….
Gv bổ sung:
Vai trò dinh dưỡng của gluxit.
Đối với người vai trò chính của gluxit là sinh
nǎng lượng. Hơn một nửa nǎng lượng của
khẩu phần do gluxit cung cấp, 1g gluxit khi
đốt cháy trong cơ thể cho 4 Kcal. Ở gan,
glucoza được tổng hợp thành glycogen. Gluxit
ǎn vào trước hết chuyển thành nǎng lượng,
số dư một phần chuyển thành glycogen và
một phần thành mỡ dự trữ.
ở mức độ nhất định, gluxit tham gia tạo hình
như một thành phần của tế bào và mô. Trong
cơ thể luôn luôn xẩy ra quá trình phân giải
gluxit để tạo nǎng lượng nhưng hàm lượng
gluxit máu luôn luôn ở mức 80-120 mg%.
Ăn uống đầy đủ gluxit sẽ làm giảm phân hủy
protein đến mức tối thiểu. Ngược lại khi lao
động nặng nếu cung cấp gluxit không đầy đủ
sẽ làm tǎng phân hủy protein. Ăn uống quá
nhiều gluxit thừa sẽ chuyển thành lipit và đến
mức độ nhất định sẽ gây ra hiện tượng béo
phệ.
GV: Tại sao trẻ em ăn nhiều bánh kẹo ngọt
trước bữa ăn thường không ăn cơm được nữa?
HS: Có cảm giác đã no. Do gluxit trong kẹo
được phân giải nhanh chóng cung cấp năng
lượng cho cơ thể.
GV bổ sung thêm:
Gluxit tinh chế và gluxit bảo vệ.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status