skkn tạo hứng thú và phát huy tính tích cực của học sinh với bộ môn lịch sử - Pdf 25

“TẠO HỨNG THÚ VÀ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
CỦA HỌC SINH VỚI BỘ MÔN LỊCH SỬ”
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong bài thơ “Bình Ngô đại cáo” – một áng thiên cổ hùng văn của Nguyễn Trãi,
vốn được coi là bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của nước ta có câu:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc – Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”
Chúng ta tự hào mình là con cháu Lạc Hồng, cũng tự hào có một bề dày lịch sử,
sánh ngang với các triều đại phong kiến phương Bắc. Thế nên, từ xưa nhân dân ta đã
coi trọng việc lấy lịch sử để giáo dục thế hệ trẻ, từ việc giáo dục thông qua các tác
phẩm văn học truyền miệng (Thần thoại, truyền thuyết, cổ tích…), đến việc biên soạn
những bộ sử lớn (Đại Việt sử kí, Đại Việt sử kí toàn thư…), hay biên soạn thành
những cuốn sách giáo khoa giảng dạy tại các trường học. Những câu chuyện, cuốn
sách ấy đã góp phần tái hiện lịch sử hào hùng của dân tộc từ thời kì dựng nước, giữ
nước đến đổi mới đất nước. Điều này có tác dụng không nhỏ vào việc giáo dục truyền
thống, lòng tự hào và trách nhiệm đối với quê hương, đất nước, đặc biệt là thế hệ trẻ
(trong đó có bộ phận rất lớn là học sinh, sinh viên).
Ngoài ra, các thế hệ học sinh còn được tiếp cận với những tri thức lịch sử thế giới,
giúp các em hiểu hơn về quan hệ của lịch sử Việt Nam với thế giới, giáo dục tinh thần
quốc tế cao đẹp.
Tuy nhiên để làm được công việc giáo dục học sinh thông qua các bài học lịch sử
lại không phải là vấn đề đơn giản. Bởi vì bộ môn lịch sử có đặc trưng là kiến thức
nhiều, hình ảnh ít, so với các bộ môn khác có thể nói là khô khan nên đa phần học
sinh không hào hứng với môn học này. Thêm vào đó, một số giáo viên gò ép, gây áp
lực với học sinh trong tiết học đã khiến học sinh có tâm lí chán nản, bỏ bê với môn
lịch sử. Điều này đã khiến cho việc giáo dục bằng lịch sử phản tác dụng.
Vấn đề đặt ra ở đây là với một môn học mà học sinh chưa ưa thích thì người giáo viên

Thứ nhất, chương trình và sách giáo khoa Lịch sử ở phổ thông mặc dù đã đổi mới
trong mấy năm qua với việc giảm tải một số nội dung nhưng kiến thức vẫn còn nhiều,
có thể nói là ôm đồm. Kết cấu chương trình vẫn theo kiểu "đồng tâm kết hợp với
đường thẳng" từ bậc tiểu học đến bậc THPT. Vì vậy kiến thức được lặp đi lặp lại
trong sách giáo khoa làm cho người dạy và người học nhàm chán. Mặt khác, thời
lượng qui định giảng dạy sách giáo khoa Lịch sử chỉ có 1 đến 1,5 tiết/tuần như vậy là
quá ít ỏi, rất khó để môn học này có điều kiện khắc sâu, tổng hợp, phát triển tư duy
của học sinh chứ đừng nói đến chuyện tổ chức ngoại khóa lịch sử cho học sinh.
Thứ hai, giáo viên mặc dù được đào tạo cơ bản nhưng phần lớn vẫn sử dụng
phương pháp dạy học truyền thống đọc – chép (đặc biệt là thế hệ giáo viên lớn tuổi),
sự đầu tư giảng dạy bằng công nghệ thông tin, sử dụng đồ dùng trực quan còn hạn
chế. Mặt khác, ở vùng sâu, vùng xa điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn trang thiết
bị phục vụ dạy học lịch sử vẫn còn thiếu.
Trong hai lí do nêu trên, lí do thứ nhất có thể nói là khách quan, nguyên nhân thứ
hai có thể coi là chủ quan. Bởi vì người thầy từ xưa tới nay vẫn phải đảm nhiệm vai
trò chủ động trong bài giảng của mình. Nếu như học trò ngại học lịch sử vì nó dài
dòng, khó nhớ còn đổ lỗi là do khách quan. Nhưng học sinh chán học lịch sử, ngủ
trong giờ học hoặc sợ giờ học lịch sử thì trách nhiệm này thuộc về người giáo viên.
Bởi vì họ đã không đổi mới cách dạy, đã không khơi dậy tính tích cực và hứng thú
của học sinh đối với môn học của mình. Nói như ngôn ngữ của văn học là họ chưa
biết “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo ra những gì chưa có”.
2
Một số chuyên gia cho rằng trước hết cần phải đổi mới cách kiểm tra và ra đề
thi. Vấn đề này tuy không mới, nhưng nó là yếu tố quyết định làm cho học sinh thích
thú học Lịch sử trong tương lai. Việc ra đề hiện nay chủ yếu theo dạng học thuộc bài
là chủ yếu, khó có thể phát huy được khả năng, sự tích cực của học sinh. Cho nên cần
phải đổi mới theo hướng ra đề thi phong phú, đa dạng, phát huy năng lực người học,
khả năng sáng tạo, vận dụng kiến thức, phát huy tính tự học, đánh giá quá trình người
học, đánh giá có sự tham gia của nhiều người và bảo đảm công bằng, chính xác.
Tuy nhiên, đó là phần điểm số, còn phần học, hiểu, vận dụng lại nằm ở vai trò

Xuất phát từ thực tiễn dạy và học lịch sử hiện nay, Đảng và Nhà nước ta rất
quan tâm và chú trọng đổi mới cách dạy, cách học môn lịch sử. Trước tầm quan trọng
trên, để nhằm mục đích giảng dạy môn lịch sử tốt hơn nữa, và các em học sinh ngày
càng yêu thích môn lịch sử hơn nữa, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học lịch sử
trong các trường phổ thông luôn là một vấn đề quan tâm của toàn Đảng, toàn dân và
toàn xã hội.
Trong những năm gần đây, việc dạy học lịch sử ở các trường phổ thông đã có sự
đầu tư rất lớn để thay đổi phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của
học sinh. Đó là việc tập huấn công nghệ thông tin trong các trường học, các hội thi công
nghệ thông tin, các đợt tập huấn về ứng dụng phương pháp dạy học mới
Thực tế cho thấy rằng, ở trường phổ thông đã có nhiều thầy giáo, cô giáo tâm huyết
với bộ môn lịch sử, thường xuyên đổi mới phương pháp dạy học, góp phần nâng cao
tính hấp dẫn của môn học và tính tích cực của học sinh. Thầy Thái ở trường THPT
Đoàn Kết – huyện Tân Phú – tỉnh Đồng Nai (đã nghỉ hưu vài năm nay) là một ví dụ.
Cách dạy của thầy đã truyền lửa cho môn học, truyền nhiệt huyết đam mê lịch sử cho
học sinh bởi cách vào bài, cách kể chuyện, dẫn giải khá lôi cuốn và bàn tay nghệ sĩ
của thầy có thể vẽ nên những chân dung lịch sử ngay trên bảng mà không cần đến
những hình chú thích trong sách giáo khoa. Ngay cả giọng hát thuộc dạng Ô-pê-ra của
thầy cũng có thể cất nên những bài hát truyền thống rực lửa làm say lòng người. Rất
tiếc những người thầy như thế, được học sinh nhắc mãi khi đã ra trường lại rất ít, bản
thân thầy thì đã không còn đứng trên bục giảng.
Trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia môn Lịch sử, có nhiều học sinh đạt kết
quả cao và được tuyển thẳng vào trường đại học và cao đẳng, đi học nước ngoài theo
chuyên ngành. Ðó là công lao rất lớn của các thầy, cô giáo nhưng cũng không thể
không nói đến niềm hứng thú của học sinh đối với bộ môn này. Bởi vì nếu không yêu
thích chắc chắn các em sẽ không bao giờ tham gia, không thể ép buộc. Thực tế giảng
dạy của tôi cũng cho thấy việc tập hợp được một đội tuyển thi học sinh giỏi sử là rât
khó khăn vì các em rất ngại môn này do kiến thức nhiều, sự kiện và ngày tháng rất
khó nhớ, dễ nhầm lẫn. Nếu không biết cách kích thích, tạo hứng thú cho các em thì
đừng bao giờ nghĩ tới việc lập đội tuyển. Nhằm tôn vinh những người dạy và học lịch

được năng lực nhận thức độc lập, phát triển tính tích cực học tập của các em. Tuy nhiên,
việc phát huy tính tích cực của học sinh hiện nay của nhiều giáo viên chưa tốt do chưa có
sự đổi mới phương pháp. Thường thì các giáo viên quan niệm đặt nhiều câu hỏi hoặc cho
học sinh ngồi thành từng nhóm thảo luận là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát
huy tính tích cực. Kết quả là giờ học biến thành giờ hỏi – đáp thông thường mang tính chất
căng thẳng, khô khan, thậm chí biến thành cơ hội để học sinh ngồi nói chuyện với nhau.
Mặt khác, một số giáo viên vùng xa xôi tuy nhận thức được vấn đề đổi mới phương
pháp dạy học nói chung, nhưng trình độ nhận thức của học sinh lại quá kém nên dù
được nhà trường trang bị phương tiện để đổi mới nhưng cũng không muốn thực hiện vì
ngại tốn thời gian, tốn công sức mà không biết học sinh có tiếp thu nổi và có thay đổi
được kết quả học tập hay không. Do vậy, trong vấn đề này lại cần phải có sự nhiệt tình
của giáo viên
Còn phải kể đến trường hợp ở một số vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, không
ít giáo viên không có điều kiện được cập nhật thông tin khoa học nói chung, đổi mới
phương pháp dạy học nói riêng và không sử dụng thành thạo vi tính nên chưa nhận
thức được tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Thậm chí
có biết cũng không thể làm, ngại làm, hoặc không có điều kiện để thực hiện. Bởi thế,
trong giờ học lịch sử, thầy làm việc là chủ yếu, trò thu động ghi chép còn khá phổ biến
khiến cho việc đọc – chép diễn ra tràn lan, học sinh mất hứng thú học tập.
Hiện nay sách giáo khoa lịch sử đã được biên soạn theo tinh thần đổi mới, kiến
thức được giảm tải đáng kể. Nội dung trong sách giáo khoa ngắn gọn hơn, tăng kênh
hình để làm sinh động bài học, phát huy tính tích cực của học sinh và giúp giáo viên
có thêm thời gian để mở rộng kiến thức cho học sinh.
5
Tuy nhiên, thực tiễn sử dụng sách giáo khoa cải cách ở trường phổ thông lại cho thấy
phương pháp dạy học của giáo viên chưa theo kịp việc đổi mới nội dung của sách. Bài
viết trong sách ngắn gọn, yêu cầu gợi mở, tăng phẩn mở rộng kiến thức thì nhiều giáo
viên lại không có độ sâu kiến thức để theo kịp yêu cầu. Rốt cục, việc giảm tải chỉ giúp
giáo viên nhẹ nhàng hơn và dành nhiều thời gian cho việc dò bài. Bên cạnh đó, kênh
hình nhưng nhiều giáo viên chưa hiểu hết nội dung kênh hình nên hiệu quả sử dụng

thông tin. Việc giáo viên, đặc biệt là giáo viên dạy lịch sử vẫn dạy học theo lối “cổ
truyền” tức là đọc – chép sẽ khiến cho học sinh mất hứng thú với bộ môn này.
Và nếu nói không quá, phương pháp đó sẽ “giết chết” môn lịch sử trong tương lai.
Không ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng lịch sử cũng sẽ dẫn đến sự “lạc
hậu” của bộ môn này và việc bị học sinh “đào thải” là điều khó tránh khỏi.
Vậy, phải ứng dụng công nghệ thông tin như thế nào trong tiết giảng cho hợp lí?
6
Đối với nghề dạy học, tiêu chí của bài học không giống như những bài thuyết
trình, những bản báo cáo. Đối tượng dạy học lại hoàn toàn không như các đối tượng
tham dự hội nghị, hội thảo. Cho nên, việc chuẩn bị một bài giảng có ứng dụng công
nghệ thông tin cần đảm bảo không những tính khoa học (nội dung bài học), mà phải
đặt mạnh tính sư phạm. Tính sư phạm ở đây bao gồm: sự phù hợp về mặt tâm sinh lí
học sinh, tính thẩm mĩ của trang trình chiếu, sự thể hiện nhuần nhuyễn các nguyên tắc
dạy học và các phương pháp dạy học. Vì vậy, người giáo viên muốn sử dụng công
nghệ thông tin để dạy học có hiệu quả thì không những phải có kiến thức tối thiểu về
các phần mềm (không phải chỉ đơn thuần là “viết” chữ lên các trang trình chiếu) mà
còn cần phải có ý thức sư phạm, kiến thức về lí luận dạy học và về các phương pháp
dạy học tích cực, sau đó mới là sự linh hoạt và sáng tạo trong thiết kế các trang trình
chiếu sao cho hấp dẫn một cách có ý nghĩa.
Sử dụng máy tính để dạy học là một trong những hướng thay đổi phương pháp
dạy học trong nhà trường chúng ta hiện nay. Trong đó, việc giảng bằng các trang trình
chiếu PowerPoint đang được nhiều giáo viên các trường phổ thông thực hiện. Đương
nhiên, không phải và cũng không cần thiết biến mọi tiết dạy trở thành giờ học bằng
máy tính, cho dù ở trường nào đó có đủ khả năng về cơ sở vật chất cũng như các kĩ
năng thích hợp cho công việc.
Mỗi giáo viên cần chọn tiết học sao cho nếu đưa nó lên trang trình chiếu PowerPoint
thì sẽ tận dụng được tối đa ưu việt của máy tính về phương diện cung cấp thông tin
cho người học, về tính hấp dẫn của của bài giảng, chí ít cũng có hiệu quả hơn bài
giảng với bảng viết thông thường. Không nên tầm thường hoá việc dạy bằng
PowerPoint để chạy theo số lượng và yêu cầu. Nhiều giáo viên quan niệm trang trình

- Phim tư liệu về kế hoạch Na va
- Phim tư liệu về các cuộc tấn công của ta trong Đông – xuân 1953-1954
- Phim tư liệu về chở hàng lên Điện Biên Phủ
- Phim tư liệu kéo pháo vào trận địa
- Phim tư liệu về diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ
Với thời lượng hai tiết dạy (90 phút) mà dung lượng kiến thức lại khá dài, giáo viên
chỉ nên đưa Lược đồ diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ, hình ảnh Võ Nguyên Giáp
vạch kế hoạch tấn công, hình ảnh chiến thắng Điện Biên Phủ, kí hiệp định Giơ-ne-vơ.
Đối với phim tư liệu nên dùng phần mềm cắt ra từng đoạn phim ngắn (chừng 5-7 phút
cho mỗi đoạn), chọn lọc những đoạn phim có tác dụng giáo dục nhất như: chở hàng,
kéo pháo vào trận địa, tấn công hầm Đờ Cát.
Việc trình chiếu, như đã nói ở trên cũng không nên lạm dụng chiếu chữ thông qua
hiệu ứng PowerPoint. Theo tôi, cách giảng thiết thực nhất là kết hợp giữa viết bảng và
trình chiếu. Tức là kiến thức học sinh cần nắm thì giáo viên vẫn ghi bảng theo cách
truyền thống, còn khi nào cần sử dụng lược đồ, tư liệu thì giáo viên sẽ trình chiếu trên
màn hình cho học sinh dễ quan sát và tiếp cận. Ứng dụng công nghệ thông tin không
nhất thiết là phải trình chiếu tất cả trên màn hình. Làm như vậy nhiều khi mất đi tính
nhân văn và nét đẹp của người giáo viên trên bục giảng.
Cách ứng dụng công nghệ thông tin như trên vào bài giảng lịch sử chắc chắn sẽ
tạo ra được một không khí mới trong lớp học. Nó kích thích hứng thú của học sinh,
khiến học sinh gần gũi và dễ tiếp cận hơn với bộ môn này. Từ đó, rõ ràng hiệu quả
của giờ học sẽ tăng lên rất nhiều. Lịch sử đâu phải lúc nào cũng khô khan, cũng cứng
ngắc như cục đá. Điều quan trọng là giáo viên phải biết cách “hiện đại hóa” giờ học
lịch sử. Cho nên đây chính là biện pháp hàng đầu của tôi.
2. Sử dụng câu hỏi gợi mở
Đối với môn lịch sử, bề ngoài là những sự kiện, ngày tháng khô khan, có vẻ
như không thể phát huy tư duy của học sinh. Tuy nhiên, nếu nhìn phiếm diện như vậy
thì sẽ là một sai lầm rất lớn. Lịch sử tuy không trừu tượng như môn văn, khó giải như
môn Toán nhưng nếu biết cách đặt câu hỏi thì nó cũng khá hấp dẫn, kích thích được
hứng thú và khả năng tìm hiểu của học sinh.

Câu hỏi này thực ra quá đơn giản đối với học sinh, nó không có tác dụng đào sâu suy
nghĩ mà ngược lại làm đơn giản hóa suy nghĩ của các em, khiến môn học trở nên
nhàm chán, không có gì phải khám phá. Chỉ cần các em đọc sách giáo khoa là có thể
trả lời câu hỏi này. Đó là Nhật giữ nguyên bộ máy cai trị của Pháp, dùng nó để vơ vét,
bóc lột, và đàn áp cách mạng Việt Nam.
Đối với vấn đề này, một số giáo viên có kinh nghiệm và sâu sắc về kiến thức lịch sử
sẽ đặt câu hỏi:
- Tại sao Nhật lại không thủ tiêu quân Pháp để độc chiếm Đông Dương?
Để trả lời được câu hỏi này yêu cầu học sinh phải có óc nhìn nhận, phân tích, đánh giá
vấn đề từ thực tế của Nhật khi vào Đông Dương. Thứ nhất, Nhật mới vào Đông
Dương, chưa hiểu gì, trong khi đó Pháp lại am hiểu sâu sắc qua thời gian dài cai trị ở
nước ta. Do đó, giữ Pháp lại sẽ dễ dàng vơ vét, bóc lột hơn.
9
Thứ hai, Nhật sẽ phải đối mặt với một dân tộc anh hùng, kiên cường bất khuất trong
khi đó lực lượng của chúng lại khá mỏng. Nên giữ Pháp lại để có thêm lực lượng đàn
áp cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên đây chỉ là biện pháp nhất thời. Về lâu dài, sớm
muộn Nhật cũng sẽ tiêu diệt Pháp vì “hai con hổ sẽ không cùng chung miếng mồi béo
bở được”.
Việc sử dụng câu hỏi trong dạy học Lịch sử để phát huy tính tích cực, chủ động
trong học tập của học sinh không phải là vấn đề mới. Tuy nhiên đặt câu hỏi như thế
nào để phát huy trí thông minh, tính tích cực trong học tập của học sinh thì không
phải giáo viên nào cũng làm hoặc có thực hiện chưa hẳn đã làm tốt. Muốn làm tốt
vấn đề này giáo viên cần phải đầu tư nhiều thời gian cho việc soạn giáo án, nghiên
cứu tài liệu, dự giờ đồng nghiệp, tham khảo các đề thi …Bên cạnh đó cũng cần chú ý
hệ thống câu hỏi đặt ra phải hướng vào trọng tâm, chính xác, rõ ràng, phù hợp với
từng đối tượng học sinh. Có làm được như vậy thì câu hỏi mới phát huy tác dụng phát
triển tư duy, tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập, làm tăng hiệu quả của
giờ dạy lịch sử.
3. Sử dụng tư liệu trong tiết dạy lịch sử
Việc học lịch sử trong những năm gần đây của học sinh đang gióng lên một hồi

nổi dậy khiến triều Tần suy vong:
“Nhắc đến tính cách hung bạo và tàn ác chẳng mấy ai quên được Tần Thủy Hoàng, vị
vua đầu tiên của Trung Quốc. Vào năm 221 trước Công nguyên, Tần Thủy Hoàng đã
thống nhất đất nước, thành lập chế độ tập quyền về mặt chính trị thống nhất từ trung
ương, xây dựng nền quân chủ chuyên chế. Ông đã có công tiêu diệt các nước chư hầu
thời Chiến Quốc, thống nhất Trung Hoa lập nên một đế quốc rộng lớn. Tuy nhiên, ông
cũng được xem là bạo chúa vì chính sách cai trị hà khắc và tàn bạo của mình.
Một điều mà không nhà lịch sử nào phản bác chính là chính sách cai trị độc ác và tàn
bạo của Tần Thủy Hoàng. Mặc dù, cuộc cách mạng tàn độc này đã giúp thống nhất
Trung Hoa nhưng đây vẫn là một dấu lặng đau lòng trong lịch sử Trung Hoa.
Suốt chiều dài lịch sử cai trị của Tần Thủy Hoàng chính sách độc tôn duy trì chính là
sự tàn bạo, đa nghi, xem mạng người như cỏ rác. Tần Thủy Hoàng cai trị một cách
độc tài, không chú trọng đến nhân đức, ân nghĩa, trong một thời gian dài không tha tội
cho ai, không để ý đến giáo hóa hoặc tuyên truyền cho dân thấu hiểu.
Vốn nghĩ mình là con trời nên Tần Thủy Hoàng luôn thể hiện tính tình gàn dở tự đắc,
muốn gì được nấy, tự cho rằng từ xưa đến nay không ai bằng mình. Một trong những
quyết định của Tần Thủy Hoàng khiến nhiều văn sĩ đầu rơi máu đổ là chính sách đốt
kinh thi, kinh thư, sách vở trong vòng 30 ngày, truy lùng các học sĩ.
Ông từng ra lệnh chôn sống 460 người ở Hàm Dương vì không cùng quan điểm chính
trị. Ngoài ra, một trong những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử là Lã Bất Vi (người
được cho là cha ruột của Tần Thủy Hoàng) đã bị chính vị hôn quân này giết chết.
Vì muốn trường sinh bất tử, vị vua này còn sai biết bao người đi tìm thuốc tiên, thần
dược. Tần Thủy Hoàng có lẽ là vị vua duy nhất sợ cái chết đến mức điên dại. Quá
trình này đã khiến biết bao người dân vô tội bị chết để thỏa mãn cho sở thích quái đản
của vị vua này. Lúc còn sống cho xây lăng mộ gồm 3 tầng, trên cùng là ngoại cung,
tiếp theo là nội cung và sau cùng là tẩm cung, nằm ở phía Bắc núi Ly Sơn thuộc địa
phận tỉnh Thiểm Tây. Rất nhiều binh sĩ, thợ thuyền được điều động đến để xây lăng
mộ cho vị hoàng đế này. Dã man hơn, sau khi thợ chôn cất châu báu, để tránh bị lộ ra
ngoài, vị vua này đã sai đóng đường hầm, chôn sống những người thợ ở đây với mục
đích biến họ trở thành thần giữ của cho Tần Thủy Hoàng."

giặc, thì bất ngờ ngay ngày hôm sau nhận được lệnh kéo phao ra tập kết tại địa điểm
cũ, thay đổi cách đánh từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh chắc tiến chắc.
Kéo pháo vào đã vô cùng gian khổ nhưng phải kéo ra còn gian khổ gấp bội. Thậm chí
có cả những hy sinh mất mát, đó là trường hợp của chiến sĩ Tô Vĩnh Diện.
Lúc kéo ra gần đến địa điểm tập kết Nà Nhạn, quân địch ở cánh đồng Mường Thanh
bắn đạn pháo vãi ra như mưa. Địch bắn một cách hú họa, chứ không phải do phát hiện
ra các đoàn kéo pháo. Chúng chỉ biết quân ta đang tập kết lên Điện Biên nên bắn hàng
ngày, hàng đêm, một lần bắn hàng trăm quả đạn pháo, mang tính cầu may.Mặc pháo
địch nổ rền, hàng trăm người vẫn níu trên dây cáp dài, ai cũng máu rớm bàn tay, cố
giữ để pháo từ từ lăn xuống.
Cứ mỗi bậc, lại có hai người hai bên, vừa lái càng vừa sẵn sàng đặt chèn để hãm pháo
dừng khi có lệnh nghỉ hay có sự cố. Lúc kéo ra đến một con dốc, thường gọi là dốc
Chuối, thì một quả đạn nổ ngay gần đó, mảnh đạn văng trúng và cắt phăng dây tời,
khẩu pháo đang thả dây xuống dốc mất thăng bằng quay ngang. Đường rất hẹp, chênh
vênh, nếu không có quyết định nhanh, tức thời, thì khẩu pháo sẽ rơi xuống vực thẳm
mấy chục mét, tan nát hết. Lúc đó, khẩu pháo còn quý hơn cả bản thân mình. Chiến sĩ
Tô Vĩnh Diện tức khắc cầm vào càng pháo để lái, cố gắng đưa pháo trở lại thăng
bằng nhưng không được.
12
Anh Diện quyết định rất nhanh, lao cả thân mình vào bánh xe, khẩu pháo quay ngang
sườn đèo, càng pháo đâm vào vách một hốc núi. Pháo còn, nhưng chiến sĩ Tô Vĩnh
Diện đã hy sinh. Trước khi mất, anh còn gắng gượng được một câu hỏi: “Pháo có sao
không hả các đồng chí?”.
Như vậy, tư liệu lịch sử ngoài sách giáo khoa chính là một trong những chiếc chìa
khóa “mở cửa” cho học sinh bước vào thế giới lịch sử đầy thú vị, cảm động và đáng
khâm phục nữa. Nó khác hẳn với thế giới lịch sử chỉ toàn số và năm, những nhân vật
nổi tiếng và ít tên tuổi, một thế giới “khô khan” và nhàm chán. Nhìn những ánh mắt
say sưa của học sinh trong những tiết dạy lịch sử mới hiểu rõ được tác dụng của việc
mở rộng kiến thức là to lớn nhường nào. Điều này cũng cần đến năng lực của người
giáo viên đứng lớp, biết gom kiến thức để mở rộng tư liệu, biết chọn tư liệu cần thiết

3. Cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đầu tiên của nước ta thời Hùng Vương chống
quân xâm lược nào?
A. Hán B. Tần C. Tống D. Thanh
4. “Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên”
Đó là câu thơ nói về ai?
A. Bà Triệu B. Hồ Xuân Hương C. Bà Trưng D. Bùi Thị Xuân
5. Ai là người kết thúc ngàn năm đô hộ của chế độ phong kiến phương Bắc ở Việt
Nam?
A. Bà Trưng B. Lê Lợi C. Ngô Quyền D. Lê Hoàn
6. Kinh thành Thăng Long được đặt tên và xuất hiện vào thời vua nào?
A. Lý Công Uẩn B. Lí Bí C. Quang Trung D. Gia Long
7. Sự tích Hồ Gươm là câu chuyện nói về anh hùng nào?
A. Nguyễn Huệ B. Lê Lợi C. Trần Quốc Tuấn D. Ngô Quyền
8. Sự kiện nào được coi là đánh dấu việc chấm dứt thời kì khủng hoảng về đường lối
của cách mạng Việt Nam?
A. Nguyễn Ái Quốc đọc Luận cương Lê nin
B. Cuốn sách Đường kách mệnh được xuất bản
C. Đảng cộng sản Việt Nam ra đời
D. Nguyễn Ái Quốc thông qua chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt
9. Vị tướng có công trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mĩ là ai?
A. Hồ Chí Minh B. Võ Nguyên Giáp
C. Phạm Văn Đồng D. Võ Văn Kiệt
10. Ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng là ngày nào?
A. 15-8-1945 B. 7-5-1954 C . 30-4-1975 D. 2-5-1975
Thể lệ chơi cũng giống chương trình AI LÀ TRIỆU PHÚ, có quyền trợ giúp
(50/50, hỏi ý kiến khán giả, gọi điện, tổ tư vấn tại chỗ), nhưng khác là trò chơi gồm
10 câu hỏi: trả lời đúng một câu 10 ngàn, 2 câu 20 ngàn…, 10 câu là 100 ngàn. Kinh
phí do các lớp ủng hộ hoặc xin từ nhà trường. Người thi sẽ được chọn ra từ những
ứng viên đã đăng kí trước của các lớp. Sau khi người dẫn chương trình đưa ra câu hỏi,
ai trả lời đúng và nhanh nhất sẽ được ngồi “ghế nóng”.

- Người tinh khôn xuất hiện thời gian nào?
- Thị tộc là gì?
- Bộ lạc là gì?
- Phát minh quan trọng nhất của con người thời nguyên thủy là gì?
Phần 2: Vượt chướng ngại vật (Tương ứng với mục 2: Xã hội cổ đại)
Dựa vào những kiến thức của chương II tôi lập một ô chữ để học sinh khám phá. Từ
hàng dọc là XÃ HỘI CÓ GIAI CẤP
X 1
N Ô N G D Â N C Ô N G X Ã 2
L Ư Ỡ N G H À 3
T R Ì N H Đ Ộ T U Y Ệ T M Ĩ 4
K I M T Ự T H Á P 5
V U A C H U Y Ê N C H Ế 6
K H Ó 7
N Ô N G N G H I Ệ P 8
S Ô N G N I N 9
L A M Ã 1
0
H I L Ạ P 11
C H Ữ V I Ế T 12
N G Ư Ờ I S Ả N X U Ấ T C H Í N H 13
15
L Ị C H P H Á P 14
Để giải ô chữ này đòi hỏi học sinh phải nắm vững các kiến thức đã học của chương để
giải các ô chữ hàng ngang (14 ô). Các câu hỏi gợi ý như sau:
1. Số 10 trong Toán học La Mã được kí hiệu bằng chữ cái in hoa nào?
2. Lực lượng sản xuất chính trong xã hội cổ đại phương Đông là ai?
3. Quốc gia nằm giữa hai con sông Ti-gơ-rơ và Ơ-phơ-rát thời cổ đại là quốc gia
nào?
4. Tượng và đền đài ở Hi Lạp cổ đại được đánh giá là đạt tới …?

Đáp án: Đạo Phật
16
3. Đây là một vương quốc cường thịnh ở Đông Nam Á thời phong kiến.
Gợi ý:
- Được coi là ham chiến trận nhất ở Đông Nam Á
- Nằm trên bán đảo Đông Dương
- Từng gọi là quốc gia Chân Lạp
- Ăng-co là kinh đô của quốc gia này
Đáp án: Cam-pu-chia
4. Đây là một phong trào khởi xướng ở Tây Âu thời trung đại.
Một số gợi ý:
- Bắt đầu từ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha
- Có sự hỗ trợ của khoa học kĩ thuật
- Do bế tắc về con đường buôn bán với phương Đông
- Những người có công lớn trong phong trào này là: Đi-a-xơ, Va-xcô Đơ-ga-ma,
Cô-lôm-bô, Ma-gien-lan
Đáp án: Phát kiến địa lí
Phần 4: Về đích (Tổng hợp kiến thức ba phần lịch sử thế giới nguyên thủy, cổ
đại, trung đại)
Ví dụ:
1. Con người đã phát minh ra lửa như thế nào?
2. Hình thức tổ chức xã hội đầu tiên của loài người là gì?
3. Tại sao có sự xuất hiện tư hữu?
4. Nguyên tắc “vàng” của xã hội nguyên thủy là gì?
5. Tại sao có sự xuất hiện của gia đình phụ hệ?
6. Tại sao xã hội có giai cấp và nhà nước lại xuất hiện sớm ở lưu vực các con sông
thuộc châu Á và châu Phi?
7. Thể chế dân chủ ở các quốc gia cổ phương Tây biểu hiện như thế nào?
8. Tại sao những hiểu biết của con người đến thời Hi Lạp và Rô-ma mới được coi
là khoa học?

dễ đi vào lòng người.
Thực ra, bộ môn lịch sử có quan hệ rất mật thiết với văn học. Văn học bắt nguồn
từ cuộc sống, mà lịch sử chính là cuộc sống đã qua. Có rất nhiều tác phẩm văn học lấy
cảm hứng từ lịch sử, ca ngợi những vị anh hùng, những chiến sĩ, người dân đã hi sinh
vì sự nghiệp bảo vệ tổ quốc hoặc ca ngợi những sự kiện trọng đại của đất nước…Như
vậy, chính văn học cũng đã góp phần bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cho học sinh và
truyền tải kiến thức lịch sử một cách dễ nhớ, dễ thuộc.
Bởi vậy, qua thực tế giảng dạy, tôi rút ra một kinh nghiệm rằng: khi áp dụng kiến
thức văn học vào việc giảng dạy Lịch sử sẽ gây hứng thú cho học sinh trong việc tiếp
thu bài. Những tiết học có lồng ghép kiến thức văn học trở nên sinh động hẳn. Học
sinh chăm chú lắng nghe và thể hiện sự hứng thú với bài học. Có nhiều học sinh sau
tiết học đã tìm những đoạn trích dẫn ấy để chép vào sổ tay. Những tiết học như thế đã
để lại trong lòng các em những ấn tượng lâu bền và chắc chắn những sự kiện trong bài
học Lịch sử sẽ lưu lại trong ký ức các em sâu sắc hơn. Qua việc thử nghiệm hai cách
dạy ở hai lớp cùng một tiết học: một lớp giảng dạy không vận dụng kiến thức thơ văn,
một lớp có vận dụng kiến thức thơ văn vào trong tiết dạy, tôi thấy chất lượng hai tiết
dạy hoàn toàn khác nhau, kể cả tâm lý, hứng thú của người dạy cũng hoàn toàn khác
nhau. Dưới đây là một số trích dẫn cụ thể:
Đối với thể loại thơ:
Ví dụ, ở bài 13, SGK Lịch sử 12, khi trình bày về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc,
giáo viên có thể trích dẫn đoạn thơ đầu trong bài “Người đi tìm hình của nước” của
Chế Lan Viên, một đoạn thơ thể hiện đầy xúc động và chân thật về quá trình Người ra
đi tìm đường cứu nước:
“Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê
Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá
18
Và sương mù thành Luân Đôn, ngươi có nhớ
Giọt mồ hôi Người nhỏ giữa đêm khuya?
Đời bồi tàu lênh đênh theo sóng bể
Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mĩ, châu Phi

Nát thân, nhắm mắt, còn ôm
Những bàn tay xẻ núi lăn bom
Nhất định mở đường cho xe ta lên chiến trường tiếp viện
Và những chị, những anh ngày đêm ra tiền tuyến
Mấy tầng mây gió lớn mưa to
19
Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ
Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát
Dù bom đạn xương tan, thịt nát
Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh
Hỡi các chị, các anh
Trên chiến trường ngã xuống
Máu của anh chị, của chúng ta không uổng
Sẽ xanh tươi đồng ruộng Việt Nam
Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam
Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng ”
Đoạn thơ trên có tác động rất lớn tới tư tưởng, tình cảm của học sinh, giúp các em
hình dung được những tháng ngày gian khổ, quyết tâm và sự hi sinh của quân và dân
ta cho thắng lợi cuối cùng. Qua đó giáo dục lòng tự hào dân tộc, sự khâm phục và biết
ơn thế hệ đi trước đã hi sinh cho các em có được ngày mai tươi sáng.
Hay ở bài 21, SGK Lịch sử 12, giáo viên có thể trích dẫn một đoạn thơ của Tố Hữu
để học sinh thấy được tội ác và căm thù chính sách tố cộng, diệt cộng và đạo luật
10/59 của Mĩ - Diệm:
“Có những ông già chúng khảo tra
Chẳng khai nó chém giữa sân nhà
Có chị gần sinh không chịu nhục
Lấy vồ nó đập vọt thai ra”
Ở bài 22, SGK Lịch sử 12, giáo viên có thể trích dẫn một đoạn thơ của Tố Hữu
để thể hiện quyết tâm của nhân dân miền Bắc trong việc chống chiến tranh phá hoại
của đế quốc Mĩ:

chỉ có 45 phút. Bên cạnh đó, những kiến thức văn học đưa vào cần tìm hiểu rõ ràng
nguồn gốc, xuất xứ (tác giả, tác phẩm, nhà xuất bản…). Một vấn đề cần lưu ý khác là
khi đọc thơ văn, giáo viên phải đọc diễn cảm, có hồn nếu không kiến thức đưa vào
nhiều khi sẽ phản tác dụng vì giọng đọc của giáo viên khiến học sinh mất hứng thú.
6. Tổ chức thực tế lịch sử (tham quan)
Có câu: “Học đi đôi với hành” hay “đi một ngày đàng học một sàng khôn”. Môn
lịch sử có một đặc trưng khác với bộ môn khác là không có phần thực hành. Tuy
nhiên cái thú vị của nó lại nằm ở chỗ đi thực tế. Bởi vì lịch sử là những gì đã diễn ra
nhưng không phải không được ghi lại, lưu giữ lại.
Những hiện vật lịch sử, cuốn phim, di tích…chính là minh chứng sống động và chân
thực của lịch sử. Sẽ là rất tuyệt vời nếu học sinh “học” mà được đi đôi với “hành”.
Mặc dù trong phân phối chương trình không có tiết nào dành cho thực tế lịch sử, song
cũng không phải là không thể không tiến hành thực tế lịch sử được. Điều này đòi hỏi
phải có kinh phí, nguồn kinh phí có thể xin từ Nhà trường, Mạnh Thường Quân, phụ
huynh học sinh. Có tiến hành được hay không là “nghệ thuật” của giáo viên. Tuy
nhiên, nếu đã có niềm đam mê, hững thú thì không gì là không thể. Cái bất lợi của
học sinh nơi tôi dạy học là địa bàn quá xa so với những điểm tham quan nổi tiếng như
chùa Một Cột, đền Hùng, kinh thành Huế, thành nhà Hồ…Vì vậy không thể nào tổ
chức những chuyến thực tế bổ ích, gắn liền với những kiến thức chủ yếu học sinh đã
được tiếp nhận qua các bài giảng của tôi. Dù thế, tuy ở Đồng Nai không có những di
tích lịch sử hay Bảo tàng lớn nhưng cũng có những di tích lịch sử quốc gia. Nên giáo
viên có thể dẫn học sinh tham quan với sự ủng hộ của phụ huynh và nhà trường.
Những điểm giáo viên chúng tôi đưa học sinh đến có thể kể đến Tượng đài chiến
thắng La Ngà (Phú Ngọc – Định Quán – Đồng Nai). Di tích chiến thắng La Ngà được
Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 235/VH-QĐ
ngày 12-12-1986. Tất nhiên, đến với chuyến tham quan này, giáo viên phải là người
hướng dẫn viên chính, thuyết trình cho học sinh về chiến thắng, qua đó giáo dục tình
cảm cho học sinh: “Chiến thắng La Ngà diễn ra vào đầu năm 1948. Lúc này, tình
hình chiến trường chống Pháp ở miền Đông Nam Bộ có nhiều diễn biến phức tạp.
Nhận được nguồn tin tháng 3-1948 sẽ có một đoàn xe chở các sĩ quan Pháp từ Sài

Qua chuyến đi thực tế này giáo viên không chỉ cung cấp thêm những kiến thức lịch sử
liên quan tới sách giáo khoa mà còn giúp cho học sinh thấy được những đóng góp to
lớn của quê hương cho đất nước, tự hào về mảnh đất mình sinh sống; tự hào và biết
ơn những người con của Đồng Nai đã ngã xuống cho các em có được cuộc sống đầy
đủ, bình yên như ngày hôm nay. Trận đánh lịch sử năm xưa vẫn mãi mãi là bài hùng
ca vang vọng, thúc giục các thế hệ đi sau tiếp bước cha anh trên con đường đổi mới
và hội nhập.
Liên quan đến kiến thức trong SGK Lịch sử 10, bài 21 (Những biến đổi của nhà
nước phong kiến trong các thế kỉ XVI-XVIII), tôi tổ chức cho học sinh tham quan đền
thờ Nguyễn Hữu Cảnh. Di tích đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh còn có tên gọi là đình Bình
Kính, tồn tại hơn ba thế kỷ ở vùng đất Cù lao Phố, xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa.
Đình tọa lạc trên diện tích đất rộng, đường Đặng Đại Độ, bên tả của nhánh sông ôm
23
trọn Cù lao Phố, dưới chân cầu Ghềnh, mặt tiền nhìn về hướng Đồng Nai, phía Tây
Nam.
Nguyên thủy của di tích là đình thờ thành hoàng bổn cảnh của người dân làng Bình
Kính. Kiến trúc ban đầu của đền không còn lưu giữ được do sự hủy hoại của tự nhiên.
Năm 1851, đền được xây lại và cách vị trí cũ khoảng 400 mét. Di tích trải qua nhiều
lần trùng tu, kiến trúc hiện tồn theo dạng chữ Đinh “J”. Chánh điện hình vuông, tường
gạch, nền lát gạch tàu, mái lợp ngói. Hàng cột hành lang mặt trước đắp trang trí hình
ảnh những con rồng cuộn, đối chầu với nhau. Nội điện có ba hàng cột gỗ lớn treo
những liễn đối và các hoành phi, bao lam gỗ được chạm trổ tinh tế các đề tài dân gian.
Các hoành phi thể hiện dưới dạng đại tự chữ Hán, liễn đối được trang trí hoa văn sơn
son thếp vàng.
Từ ngoài vào theo lối chính có ba cửa. Hai bên cửa có khắc chìm hàng chữ Hán với
nội dung nói về đền thờ Bình Kính, công lao của Nguyễn Hữu Cảnh với vùng đất
Biên Hòa - Đồng Nai. Đối tượng thờ chính là Thượng đẳng thần Nguyễn Hữu Cảnh.
Gian giữa chánh điện thờ thần, hai bên thờ tả ban, hữu ban liệt vị. Một góc bên bàn
thờ có tủ kiếng giữ bộ áo mão tương truyền là của Đức Ông Nguyễn Hữu Cảnh thuở
sinh thời.

vùng đất Sài Gòn và đặt hai đơn vị hành chính đầu tiên tại Nam Bộ là huyện Phước
Long và huyện Tân Bình, dưới quyền của phủ Gia Định. Nguyễn Hữu Cảnh cất đặt
các bộ phận trông coi mọi việc như Ký lục (trông coi về hành chính, thuế khóa), Lưu
thủ (trông coi về quân sự) và Cai bộ (trông coi về tư pháp). Giúp việc cho các quan là
các Xá ty và một số đơn vị vũ trang. Đối với người Hoa, Nguyễn Hữu Cảnh tập hợp
họ thành những tổ chức hành chính riêng như xã Thành Hà (Trấn Biên), xã Minh
Hương (Phiên Trấn). Ông cho chiêu mộ nhân dân đi khẩn hoang lập ấp. Như vậy,
biên giới nước ta đã mở rộng đến vùng này. Năm 1700 Nguyễn Hữu Cảnh cầm quân
tiến xuống vùng biên giới Tây Nam ngày nay.
Nhờ uy danh, Nguyễn Hữu Cảnh đã nhanh chóng giải quyết tình hình bất an của
vùng này. Nhưng sau đó, do bị bệnh nặng, Nguyễn Hữu Cảnh qua đời - lúc ấy ông
mới tròn 50 tuổi.”
25

Trích đoạn Đóng kịch về lịch sử Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về lịch sử HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI: XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status