BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài:
ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG TẠI
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH HÀ NAM
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thế Vinh
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Linh
Khóa : I
Ngành : Kinh tế
Chuyên ngành : Quy hoạch phát triển
luận tốt nghiệp.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo UBND tỉnh
Hà Nam, Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Hà Nam đã giúp đỡ và tạo
điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình thu thập thông tin để hoàn
thành khóa luận.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Linh
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4. Phương pháp nghiên cứu 3
5. Đóng góp của khóa luận 4
6. Lịch sử nghiên cứu 5
7. Cấu trúc của khóa luận 7
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP
VÀ CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 8
1.1. Cơ sở lý luận 8
1.1.1. Khái quát về khu công nghiệp và vai trò của khu công nghiệp 8
1.1.1.1. Quan niệm về khu công nghiệp 8
1.1.1.2. Đặc điểm của khu công nghiệp của Việt Nam 10
1.1.1.3. Vai trò của các khu công nghiệp ở Việt Nam 11
1.1.2. Chất lượng lao động tại các khu công nghiệp theo quan điểm phát
triển bền vững 13
2.2.1.5. Hiệu quả lao động KCN so với lao động nông nghiệp 50
2.2.2. Theo các chỉ tiêu định tính 51
2.2.2.1. Cơ cấu lao động trong các khu công nghiệp của tỉnh Hà Nam 51
2.2.2.2. Ảnh hưởng của KCN đến chuyển dịch cơ cấu lao động của
tỉnh Hà Nam 54
2.2.2.3. Thu nhập và mức sống của người lao động 56
v
2.2.2.4. Lao động các KCN tỉnh Hà Nam với vấn đề phát triển con
người 58
2.3. Đánh giá hiệu quả thu hút lao động tại các khu công nghiệp tỉnh Hà
Nam 63
2.3.1. Thành tựu đạt được 63
2.3.2. Những tồn tại, hạn chế 65
2.3.2.1. Đối với 4 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động 65
2.3.2.2. Đối với 4 khu công nghiệp chưa đi vào hoạt động 67
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU
HÚT LAO ĐỘNG TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH HÀ NAM 69
3.1. Cơ sở đề xuất giải pháp 69
3.1.1. Mục tiêu và quan điểm của tỉnh Hà Nam về phát triển KCN 69
3.1.2. Định hướng xây dựng, phát triển các KCN của tỉnh Hà Nam 71
3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút lao động tại các KCN
tỉnh Hà Nam 71
3.2.1. Các giải pháp đối với chính quyền địa phương 72
3.2.1.1. Đào tạo lao động, nâng cao chất lượng nguồn lao động 72
3.2.1.2. Đào tạo chuyển đổi ngành nghề, tạo việc làm sau giải phóng
mặt bằng 74
3.2.1.3. Hỗ trợ doanh nghiệp các vấn đề về lao động trong giai đoạn
khủng hoảng 77
3.2.1.4. Giải pháp về thu hút đầu tư, nâng cao chất lượng và hiệu quả
của dự án đầu tư 77
Tp : Thành phố
viii
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH
I. DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thực trạng nguồn nhân lực tỉnh Hà Nam 32
Bảng 2.2: Các khu công nghiệp của Hà Nam tính đến năm 2013 34
Bảng 2.3: Đóng góp của các KCN vào gia tăng quy mô GTSX của toàn tỉnh,
giai đoạn 2006 -2013 (tính theo giá so sánh 2010) 35
Bảng 2.4: Đóng góp vào giá trị xuất khẩu của các KCN Hà Nam giai đoạn
2007-2012 37
Bảng 2.5: Phân tích SWOT trong phát triển KCN của Hà Nam 38
Bảng 2.6: Mức độ thu hút lao động thực tế vào các KCN của Hà Nam 41
Bảng 2.7: Đóng góp của KCN vào việc giải quyết việc làm cho lao động của
toàn tỉnh giai đoạn 2006-2013 43
Bảng 2.8: Mức độ sử dụng lao động địa phương tại các KCN tỉnh Hà Nam 46
Bảng 2.9: Năng suất lao động tại các KCN và Năng suất lao động toàn tỉnh
Hà Nam giai đoạn 2006 -2013 48
Bảng 2.10: Tổng hợp các chỉ tiêu đo lường đánh giá hiệu quả thu hút lao
động trong các KCN Hà Nam 60
Bảng 2.11: Tổng hợp đánh giá chất lượng lao động KCN tỉnh Hà Nam giai
đoạn 2003 -2013 61
ix
công nghiệp là một xu thế tất yếu và hoàn toàn đúng đắn trong bối cảnh của
Việt Nam.
Là cửa ngõ phía Nam của thủ đô Hà Nội, tỉnh Hà Nam vừa có nhiều
điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, song bên cạnh đó cũng
tồn tại không ít thách thức. Với chủ trương phát triển kinh tế dựa trên thế
mạnh của tỉnh về vị trí địa lý, kinh tế - xã hội, tài nguyên nhân
văn…trong thời gian qua tỉnh Hà Nam đã phát triển mạnh mẽ các khu
công nghiệp và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần không
nhỏ làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của tỉnh. Sự hình thành và phát
triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã tạo công ăn việc làm cho
nhiều lao động địa phương và lao động từ các tỉnh lân cận. Hiệu quả về
sử dụng lao động tại các khu công nghiệp Hà Nam là rất rõ, tuy nhiên
chất lượng lao động tại các khu công nghiệp của Hà Nam lại chưa có
những nghiên cứu đánh giá cụ thể. Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề
này, tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá và đề xuất các
giải pháp nâng cao chất lượng lao động tại các khu công nghiệp của
tỉnh Hà Nam” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
2
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm đánh giá chất lượng lao động tại các khu
công nghiệp thuộc tỉnh Hà Nam; trên cơ sở đó khuyến nghị một số giải pháp
nhằm góp phần nâng cao chất lượng lao động tại các khu công nghiệp trên địa
bàn tỉnh Hà Nam theo hướng hiệu quả và bền vững.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài thực hiện 03 nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, tổng quan một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng
lao động tại các khu công nghiệp;
Thứ hai, đánh giá thực trạng phát triển các khu công nghiệpvà chất
lượng lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam dựa trên
lượng lao động tại các khu công nghiệp của Hà Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh
Đây là phương pháp được sử dụng nhiều trong quá trình tìm hiểu và
nghiên cứu làm đề tài. Các tài liệu được tác giả thu thập từ nhiều nguồn như
các giáo trình, số liệu thống kê, các công trình nghiên cứu có nội dung liên
quan. Ngoài ra tác giả còn thu thập thêm thông tin từ báo chí, Internet…để
phục vụ cho đề tài.
Các tài liệu sau khi thu thập sẽ được xử lí qua các bước như phân tích,
tổng hợp, so sánh…để trở thành những tài liệu, dẫn chứng phục vụ tốt cho
mục đích của tác giả trong đề tài.
4.2. Phương pháp bản đồ (GIS)
GIS là hệ thống thông tin gồm phần cứng, phần mềm và bộ phận khớp
nối để thu thập, quản lý, phân tích, tính toán và biểu thị tất cả các dạng thông
tin địa lý liên quan, phục vụ cuộc sống con người.
4
Bằng phương pháp này có thể xác định được tạo độ địa lý như phạm vi,
ranh giới của khu vực tiến hành nghiên cứu. Trong nghiên cứu này, tác giả
ứng dụng GIS để xây dựng bàn đồ hành chính của tỉnh Hà Nam.
4.3. Phương pháp duy vật biện chứng
Phương pháp duy vật biện chứng là phương pháp nhìn nhận thế giới như
một chỉnh thể thống nhất, mọi sự vật và hiện tượng có mối liên hệ hữu cơ, ảnh
hưởng, ràng buộc nhau, chúng vận động, biến đổi không ngừng trong khuynh
hướng chung là sự phát triển.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một thể tổng hợp bao gồm các thành
phần tự nhiên và kinh tế - xã hội. Các thành phần đó có quan hệ chặt chẽ và
luôn tác động qua lại với nhau vì vậy việc vận dụng phương pháp này có ý
nghĩa rất quan trọng.
4.4. Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia là phương pháp dựa trên cơ sở đánh giá tổng
địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối
với khu công nghiệp quy định tại Nghị định 29/2008/NĐ-CP.
Theo quy chế quản lý cụm công nghiệp ban hành kèm theo Quyết định
số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19 tháng 8 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ,
cụm công nghiệp có quy mô diện tích nhỏ hơn khu công nghiệp; chủ yếu dành
cho doanh nghiệp vừa và nhỏ; được thành lập căn cứ vào quy hoạch phát triển
cụm công nghiệp của tỉnh được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt trong khi
khu công nghiệp được thành lập vào căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển
khu công nghiệp của cả nước được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Cụm
công nghiệp do ngành Công thương quản lý còn khu công nghiệp do các ban
quản lý các khu công nghiệp cấp tỉnh quản lý.
Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ xem xét các KCN là đối
tượng quản lý của các ban quản lý các KCN cấp tỉnh và được nêu trong quy
6
hoạch tổng thể phát triển các KCN; không xem xét các cụm công nghiệp, các
khu công nghiệp và khu chế xuất nằm trong các khu kinh tế.
Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả về vấn
đề phát triển khu công nghiệp như nghiên cứu của tác giả Nguyễn Sinh Cúc
(2008) “Phát triển khu công nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng và vấn đề nông
dân mất đất nông nghiệp”, nghiên cứu của tác giả Việt Đức (2010) “Quy hoạch
khu công nghiệp ở Việt Nam – Bất cập và giải pháp”, nghiên cứu “Khu công
nghiệp Việt Nam liệu có phát triển bền vững” của tác giả Trần Văn Sử… Tuy
nhiên, những nghiên cứu về KCN chủ yếu là trên phạm vi cả nước hoặc một
vùng, những nghiên cứu về KCN cụ thể của một địa phương chưa có nhiều.
Các nghiên cứu đề cập đến vấn đề lao động trong các KCN cũng có
nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả, như “Một số vấn đề xã hội nảy
sinh trong quá trình xây dựng, phát triển các khu công nghiệp ở các vùng kinh
tế trọng điểm miền Trung hiện nay” của Trương Minh Dục (2010), “Một số
bất cập về việc làm, thu nhập của người lao động ở nước ta hiện nay” của tác
giả Lê Thanh Hà (2008); nghiên cứu của Trần Hồng Kỳ (2002) về “ Lao động
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái quát về khu công nghiệp và vai trò của khu công nghiệp
1.1.1.1. Quan niệm về khu công nghiệp
Lịch sử phát triển khu công nghiệp đã có từ lâu trên thế giới, ngay từ
cuối thế kỷ XIX, những KCN đầu tiên đã được hình thành tại một số nước tư
bản phát triển. KCN đầu tiên được hình thành vào năm 1896 tại Traffort Part
của thành phố Manchester (Anh). Tiếp sau đó các KCN lần lượt được ra đời ở
Mỹ năm 1899, Italia năm 1904; đến những năm 50 của thế kỷ XX, sự phát
triển các khu công nghiệp đã trở nên phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế
giới và khẳng định những tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội ở mỗi quốc gia.
Khu công nghiệp đã ra đời và phát triển ở các nước tư bản vào những
năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Với lí thuyết về “khu vị luận công
nghiệp”, Weber (1909) cho rằng việc phân bố và hình thành khu công nghiệp
phải dựa trên nguyên tắc cực đại hoá lợi nhuận, cực tiểu hoá chi phí. Sự tập
trung các xí nghiệp vào một khu vực phụ thuộc 3 yếu tố: chi phí vận tải thấp
nhất, giá lao động rẻ nhất, và có xí nghiệp sử dụng phế liệu. Nhìn chung các
nước tư bản muốn thông qua việc xây dựng các khu công nghiệp để tăng
cường xuất khẩu cũng như khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, đồng
thời khai thác triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động của các nước.
Ở các nước châu Á nói chung và khu vực nói riêng, KCN ra đời và phát
triển vào nửa sau thế kỷ XX. Hơn 40 năm qua, một số quốc gia đã có nhiều
thành tựu trong việc xây dựng các khu chế xuất, khu thương mại tự do, khu
công nghiệp… tạo ra những tiền đề quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế
của các quốc gia này.
9
Tuy nhiên, tùy thuộc vào quan điểm và bối cảnh của từng quốc gia, khái
niệm về KCN có nhiều sự khác biệt giữa các nước.
Theo quan điểm của các nhà khoa học trường Đại học Tổng hợp
Matxcơva: “Khu công nghiệp là sự kết hợp theo lãnh thổ của những điểm
phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và thường gắn liền với quá trình
công nghiệp hóa. Hiện nay, phần lớn các quốc gia đang phát triển trong đó có
Việt Nam ưu tiên phát triển hình thức tổ chức lãnh thổ này, đây là cơ sở, nền
tảng để mỗi quốc gia thu hút đầu tư, giải quyết công ăn việc làm từ đó tạo đà
trong phát triển kinh tế - xã hội.
1.1.1.2. Đặc điểm của khu công nghiệp của Việt Nam
Dựa trên cách định nghĩa về KCN, có thể xác định KCN ở Việt Nam
gồm có 4 đặc điểm cơ bản:
Thứ nhất, về mặt không gian, KCN là khu vực có ranh giới địa lý rõ
ràng, phân biệt với các lãnh thổ khác và không có dân cư sinh sống.
KCN có quy mô đất đai đủ lớn, với vị trí địa lý thuận lợi như gần sân
bay, bến cảng, đường sắt…được xác định ranh giới cụ thể bằng hệ thống hàng
rào KCN. Mọi hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh đều diễn ra bên trong
hàng rào đó, không chỉ được điều chỉnh bởi quy định của pháp luật hiện hành
mà còn phải tuân thủ quy chế pháp lý riêng và được hưởng rất nhiều ưu đãi.
Toàn bộ hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp được xây dựng phục vụ cho hoạt
động sản xuất công nghiệp và kinh doanh dịch vụ phục vụ công nghiệp,
không phục vụ mục đích sinh sống dân cư.
Thứ hai, về chức năng hoạt động: KCN là khu vực chuyên sản xuất hàng
công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Khu công
nghiệp là một quần thể liên hoàn các xí nghiệp công nghiệp xây dựng trên
một vùng có điều kiện thuận lợi về các yếu tố tự nhiên, về kết cấu hạ tầng xã
hội … để thu hút vốn đầu tư và hoạt động theo một cơ cấu hợp lí các doanh
nghiệp công nghiệp và các doanh nghiệp dịch vụ nhằm đạt kết quả cao trong
sản xuất công nghiệp và kinh doanh. Trong khu vực KCN không có các hoạt
11
động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp cũng như các dịch vụ phục vụ cho loại
hình sản xuất này.
Thứ ba, KCN không phải là khu vực được thành lập tự phát mà được
thành lập theo quy định của Chính phủ, trên cơ sở quy hoạch đã được phê
thời gian vừa qua đã khẳng định vai trò to lớn của các KCN đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội.
Các chính sách ưu đãi đầu tư, thu hút vốn cũng như công tác quản lý của
Nhà nước ngày càng thông thoáng hơn đã góp phần thu hút một lượng lớn các
nhà đầu tư cả trong và ngoài nước tham gia xây dựng và vận hành các KCN,
điều này đã tạo ra một sự đa dạng hóa trong các thành phần kinh tế, mặt khác
cũng là cơ hội phát triển cho chính các doanh nghiệp trong KCN.
Việc phát triển KCN đòi hỏi ngày càng cao việc ứng dụng khoa học
công nghệ, tăng năng suất lao động, KCN tạo điều kiện cho việc tiếp thu nhận
chuyển giao những thành tựu khoa học mới, những kinh nghiệm quản lý tiên
tiến từ các quốc gia trên thế giới. Với một quốc gia còn đang ở giai đoạn tiến
hành CNH, HĐH như Việt Nam thì đây chính là cơ hội để đón bắt những lợi
thế của người đi sau, tranh thủ cơ hội để xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ
tầng, trang thiết bị tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển sau này.
Đối với các nước đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa như Việt
Nam thì phát triển các KCN giữ vai trò quan trọng trong đô thị hóa nông thôn,
giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, tạo bước chuyển dịch cơ cấu kinh
tế mới theo hướng công nghiệp hóa. Việc đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng
trong KCN đã góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở mỗi địa phương, rút
ngắn khoảng cách chênh lệch giữa thành thị với nông thôn, nâng cao đời sống
vật chất tinh thần cho nhân dân, điều này có thể dễ dàng nhận thấy tại những
khu vực có KCN phát triển như Biên Hòa (Đồng Nai), Tiên Sơn (Bắc
Ninh),…Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển KCN là các chính sách thu hút
đầu tư đặc biệt là FDI cùng với việc ngày càng hoàn thiện cơ sở hạ tầng đã
thúc đẩy kinh tế địa phương, nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế
13
Trong quá trình phát triển, do nhu cầu mở rộng quy mô để tăng cường
năng lực sản xuất, hoàn thiện cơ sở hạ tầng hay di chuyển ra khỏi khu vực
đông dân cư đã tạo điều kiện để các địa phương giải quyết các vấn đề về ô
nhiễm môi trường, bảo vệ môi trường đô thị, giải quyết những bất ổn về xã
KCN là khác nhau nên chúng có thuận lợi và khó khăn khác nhau. Do vậy,
việc đánh giá sự thành công của các khu công nghiệp Việt Nam cũng có nhiều
điểm khác biệt.
Thứ nhất, đánh giá các doanh nghiệp trong KCN theo một bộ tiêu chí
thống nhất, là một công cụ tham chiếu quan trọng về tính bền vững trong quá
trình phát triển của KCN. Việt Nam cũng cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá
doanh nghiệp trên cơ sở tham khảo các bộ tiêu chí đang được áp dụng phổ
biến trên thế giới như Bộ tiêu chí Phát triển bền vững Dow Jones và Bộ tiêu
chí của Tổ chức Sáng kiến toàn cầu GRI.[23]. Bên cạnh việc đánh giá từng
doanh nghiệp theo bộ tiêu chí thống nhất, hệ thống đánh giá phát triển bền
vững KCN ở Việt Nam, cũng cần thể hiện được các yếu tố phát triển bền
vững của các doanh nghiệp trong KCN.
Thứ hai, sự phát triển bền vững của một KCN không chỉ phản ánh thông
qua những kết quả đạt được theo các tiêu chuẩn bền vững nội tại của KCN,
mà còn phải được thể hiện ở vai trò tạo ra các tác động lan tỏa tích cực đối
với các các nhóm lợi ích liên quan (các doanh nghiệp đối tác, địa phương, khu
vực có KCN). Tác động lan tỏa (spillover effect), còn được gọi là hiệu ứng
lan tỏa, được các nhà nghiên cứu kinh tế trên thế giới đề cập từ cuối những
năm 70 của thế kỷ 20, khi bàn về ảnh hưởng của vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) và của các công ty đa quốc gia tới các nước tiếp nhận đầu tư, mà
thường là các nước kém phát triển hơn, nhưng có nguồn lao động rẻ và một
số lợi thế về thị trường tiêu thụ. Khái niệm tác động lan tỏa được sử dụng
trước hết để đề cập đến những ảnh hưởng tích cực của đầu tư trực tiếp nước
ngoài FDI đối với nền kinh tế của các nước tiếp nhận đầu tư.
15
Tác động lan tỏa của các KCN được thể hiện trên ba khía cạnh khác
nhau đối với doanh nghiệp trong nước, cả trong và ngoài KCN: (1) Vai trò
của FDI tại các KCN trong việc chuyển giao công nghệ và phương pháp quản
lý tiên tiến cho các doanh nghiệp liên kết trong nước; (2) FDI thúc đẩy việc
nâng cao trình độ của nguồn nhân lực trong nước để tiếp nhận và áp dụng