i
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho tôi xin gửi lời cảm ơn đến khoa Chính sách công, Học viện
Chính sách và Phát triển và Phòng Tổng hợp, Vụ Kinh tế Địa phƣơng và Lãnh thổ
đã tạo điều kiện cho tôi đƣợc tham gia chƣơng trình thực tập. Đây là cơ hội tốt để
cho tôi có thể thực hành các kỹ năng, kiến thức đã đƣợc học tại Học viện Chính
sách và Phát triển.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới toàn bộ các cán bộ, công nhân viên
của Phòng Tổng hợp, Vụ Kinh tế Địa phƣơng và Lãnh thổ, Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ
đặc biệt là chuyên viên Hoàng Minh Tùng, ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn tôi trong
suốt quá trình thực tập đã không quản ngại khó khăn, bớt chút thời gian và đã nhiệt
tình chỉ bảo cho tôi nhiều kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian thực tập tại Vụ
Kinh tế Địa phƣơng và Lãnh thổ, Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo - giảng viên hƣớng dẫn ThS.
Nguyễn Nam Hải trong thời gian qua đã dành thời gian, nhiệt tình chỉ dạy, giúp đỡ
và động viên tinh thần để tôi có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể gia đình, ngƣời thân, bạn bè,
những ngƣời đã luôn bên cạnh cổ vũ tinh thần và ủng hộ tôi trong suốt thời gian
qua.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện Mạc Thị Thu Huyền
DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG BIỂU vi
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn khóa luận 1
2. Mục đích nghiên cứu của khóa luận 2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 2
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 3
5. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc 3
6. Đóng góp của khóa luận 4
7. Kết cấu khóa luận 5
CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC THỰC THI
CHÍNH SÁCH ĐẦU TƢ CÔNG 6
1.1 Thực thi chính sách công 6
1.1.1 Chính sách công 6
1.1.2 Quy trình chính sách công 7
1.1.3 Tổ chức thực thi chính sách 7
1.2 Chính sách đầu tƣ công 8
1.2.1 Đầu tư 8
1.2.2 Đầu tư công 9
1.2.3 Chính sách đầu tư công 12
1.3 Thực thi chính sách đầu tƣ công 13
1.3.1 Khái niệm 13
1.3.2 Quy trình thực thi chính sách đầu tư công 14
1.3.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách đầu tư công 17
1.3.4 Sự cần thiết hoàn thiện thực thi chính sách đầu tư công 19
1.4 Kinh nghiệm quốc tế 19
1.4.1 Kinh nghiệm của các quốc gia thuộc tổ chức OECD trong lĩnh vực
đầu tư công 19
iv
1.4.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc lập kế hoạch và quy hoạch
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Giải thích
ATK
An toàn khu
CTMT
Chƣơng trình mục tiêu
DN
Doanh nghiệp
DNNN
Doanh nghiệp nhà nƣớc
FDI
Vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
KT – XH
Kinh tế - xã hội
NSĐP
Ngân sách địa phƣơng
NSNN
Ngân sách nhà nƣớc
NSTW
Ngân sách Trung ƣơng
ODA
Vốn hỗ trợ phát triển chính thức
PPP
Mô hình hợp tác công – tƣ
QĐ
33
Bảng 2.1
Số dự án đang triển khai thực hiện sử dụng vốn NSNN
trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 2011 -2013
36
Bảng 2.2
Số dự án đầu tƣ thuộc các chƣơng trình hỗ trợ có mục tiêu
từ ngân sách TW
39
Bảng 2.3
Tổng số dự án đầu tƣ các chƣơng trình mục tiêu quốc gia
trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 2011 - 2013
41
Biểu đồ 2.3
Tỷ lệ đầu tƣ các chƣơng trình MTQG tỉnh Sơn La giai
đoạn 2011 - 2013
42
Bảng 2.4
Bình quân vốn trên một dự án đầu tƣ trên địa bàn tỉnh Sơn
La giai đoạn 2011 - 2013
42
Biểu đồ 2.3
So sánh sự biến động tổng số vốn, tổng số dự án và bình
quân vốn trên một dự án của tỉnh Sơn La giai đoạn 2010 -
2011
43
Bảng 2.5
Số dự án khởi công mới, dự án dự kiến hoàn thành năm kế
hoạch, dự án chuyển tiếp trên địa bàn tỉnh Sơn La giai
đoạn 2011 - 2013
quan trọng, bức thiết trong việc quản lý nền kinh tế nƣớc nhà. Tuy nhiên vẫn có
hàng loạt những vấn đề phát sinh trong toàn bộ quy trình chính sách.
Lợi ích từ hoạt động đầu tƣ công mang lại là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, các
chính sách do nhà nƣớc ban hành để quản lý lĩnh vực này vẫn còn nhiều hạn chế
đặc biệt là trong công tác tổ chức thực thi, chƣa có sự phối hợp hiệu quả giữa các
cấp, chất lƣợng cán bộ địa phƣơng chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu, hoạt động quản lý
còn nhiều thiếu xót đồng thời là những khó khăn do điều kiện kinh tế - xã hội nên
việc thực thi chính sách đầu tƣ công còn gặp nhiều bất cập, dẫn đến tình trạng đầu
tƣ công dàn trải, lãng phí, thất thoát và thiếu hiệu quả. Điều này sẽ làm ảnh hƣởng
đến uy tín của các cơ quan quản lý nhà nƣớc trong quản lý đầu tƣ công và niềm tin
của ngƣời dân dành cho các cơ quan này, cũng nhƣ vào vai trò của Nhà nƣớc.
Việc nghiên cứu chính sách đầu tƣ công của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế hiện nay là nhiệm vụ có ý nghĩa và về lý thuyết lẫn thực tiễn.
Cụ thể khóa luận tập trung vào nghiên cứu tại tỉnh Sơn La - một tỉnh nghèo với
90% nguồn vốn sử dụng hàng năm là do Trung ƣơng cung cấp, sau một thời gian
2
cùng thực hiện các chƣơng trình, chính sách về đầu tƣ công nhƣ các tỉnh, thành phố
khác trong cả nƣớc, bên cạnh những kết quả đã đƣợc đƣợc, Sơn La cũng mắc phải
không ít các vấn đề: nguồn vốn đầu tƣ chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển của
tỉnh, nguồn ngân sách TW bị cắt giảm qua từng năm, trong khi nguồn vốn địa
phƣơng và khả năng huy động vốn đầu tƣ khác lại quá kém, không thể theo kịp mục
tiêu phát triển của địa phƣơng.
Sơn La liên tục gặp phải những vấn đề về tổ chức thực thi chính sách đầu tƣ
công từ cơ chế đến chính sách do sự thiếu chủ động và sự thiếu gắn kết trong bộ
máy quản lý của tỉnh nhà, chất lƣợng đội ngũ cán bộ còn nhiều yếu kém nên chƣa
thể theo kịp, đáp ứng nhu cầu và tốc độ phát triển chung của tỉnh.
Khóa luận với đề tài “Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức thực
thi chính sách đầu tƣ công tỉnh Sơn La giai đoạn 2010 – 2015” nhằm hoàn thiện
công tác tổ chức thực thi chính sách đầu tƣ công tại tỉnh Sơn La. Tác giả thông qua
+ Phƣơng pháp đối chiếu, so sánh: Từ các số liệu thu nhận đƣợc về hoạt động
đầu tƣ công Việt Nam và Sơn La qua từng giai đoạn, tác giả có sự so sánh, đối
chiếu để phát hiện ra xu hƣớng vận động, phát triển của các hoạt động này. So sánh
đầu tƣ công của Việt Nam với các nƣớc trên thế giới, đầu tƣ công của Sơn La và các
tỉnh thành khác trên cả nƣớc.
+ Phƣơng pháp thống kê, tổng hợp, phân tích số liệu: đây là một trong những
phƣơng pháp quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu thực trạng hoạt động đầu tƣ
công đƣợc sử dụng. Số liệu sau khi đƣợc thu thập đƣợc thống kê và tổng hợp, tính
toán và phân tích nhằm tìm ra vấn đề và xu hƣớng biến động.
+ Các phƣơng pháp khác: bên cạnh các phƣơng pháp chính, khóa luận còn sử
dụng một số phƣơng pháp nhƣ tham vấn ý kiến chuyên gia, sử dụng các nguồn dữ
liệu mở trên internet,….
5. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc
Việc nghiên cứu chuyên đề về tổ chức thực thi chính sách đầu tƣ công tại tỉnh
Sơn La, trong những năm qua có một số công trình nghiên cứu có liên quan nhƣ:
+ Luận văn thạc sỹ “Hiệu quả quản lý đầu tƣ công tại Thành phố Hồ Chí Minh:
vấn đề và giải pháp” của tác giả Nguyễn Hoàng Anh năm 2008. Trong nghiên cứu
này tác giả đã cho thấy những lý luận và quan điểm về đầu tƣ công, đồng thời chỉ ra
thực trạng quản lý đầu tƣ công tại thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2005 –
2008, chỉ ra những vấn đề tồn tại, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp. Tuy nhiên,
nghiên cứu này không đi sâu về cơ sở lý luận mà tập trung phân tích thực tiễn,
không đứng dƣới quan điểm nhà chính sách để nghiên cứu.
4
+ Luận văn “Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tƣ tại tổng công ty xây dựng
công trình giao thông 5” của tác giả Phạm Hữu Vinh năm 2011. Luận văn chỉ ra
thực tiễn công tác quản lý dự án đầu tƣ tại tổng công ty xây dựng công trình giao
thông 5 trong giai đoạn 2010 – 2011, tác giả đã làm rõ đƣợc những vấn đề còn tồn
tại đặc biệt là trong công tác quản lý cấp cơ sở của tổng công ty từ đó đề xuất giải
pháp hoàn thiện công tác này. Tuy đề tài có đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu nhỏ
7. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đâu, khóa luận đƣợc thực hiện với kết cấu gồm 3 chƣơng:
Chƣơng I: Một số vấn đề lý luận chung về tổ chức thực thi chính sách đầu
tƣ công.
Chƣơng II: Thực trạng công tác tổ chức thực thi chính sách đầu tƣ công
của tỉnh Sơn La từ năm 2010 đến nay.
Chƣơng III: Một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác tổ chức thực thi
chính sách đầu tƣ công tỉnh Sơn La giai đoạn 2010 – 2015.
6
CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐẦU TƢ CÔNG
1.1 Thực thi chính sách công
1.1.1 Chính sách công
Cho đến nay trên thế giới, cuộc tranh luận về định nghĩa chính sách hay chính
sách công vẫn là một chủ đề khó đạt đƣợc sự nhất trí rộng rãi. Từ thực tế chính sách
của các ngành, các địa phƣơng và các quốc gia, cũng nhƣ qua những cuộc thảo luận
trên các diễn đàn nghiên cứu chính sách, nhiều nhà nghiên cứu đã đƣa ra các khái
niệm khác nhau về chính sách.
Theo Peter Aucoin (1971): "Chính sách công bao gồm các hoạt động
thực tế do Chính phủ tiến hành";
William Jenkin (1978): "Chính sách công là một tập hợp các quyết định
có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị
gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các
mục tiêu đó";
Guy Peter (1990): "Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà
nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công
dân";
Wiliam N. Dunn (1992): "Chính sách công là một kết hợp phức tạp
những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không
chí của chủ thể trong quá trình chính sách thành hiện thực với các đối tƣợng quản lý
nhằm đạt đƣợc mục tiêu định hƣớng của Nhà nƣớc. Trong quá trình thực thi chính
sách, các nguồn lực vật chất, tài chính, khoa học công nghệ và con ngƣời đƣợc đƣa
vào các hoạt động có tính định hƣớng để đạt đƣợc các mục tiêu đã đề ra. Nói cách
khác, đây là quá trình kết hợp giữa con ngƣời với các nguồn lực vật chất, tài chính,
khoa học công nghệ nhằm sử dụng các nguồn lực này một cách có hiệu quả theo
những mục tiêu đề ra.
* Vai trò: Tổ chức thực thi chính sách là một khâu hợp thành quy trình chính
sách, nếu thiếu vắng giai đoạn này thì quy trình chính sách không thể tồn tại. Tổ
chức thực thi chính sách là trung tâm kết nối các giai đoạn trong quy trình chính
Hoạch định
chính sách
Thực thi
chính sách
Đánh giá
chính sách
8
sách thành một hệ thống. Trên thực tế, nó đƣợc coi là tổng hợp của cả 3 giai đoạn
của quy trình chính sách: hoạch định chính sách, thực thi chính sách và đánh giá
chính sách. So với các khâu khác trong quy trình chính sách, tổ chức thực thi chính
sách có vị trí đặc biệt quan trọng, vì đây là bƣớc thực hiện hóa chính sách trong đời
sống.
* Ý nghĩa: Tổ chức thực thi chính sách là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đối
với việc thành công hay thất bại của một chính sách. Cụ thể hoạt động này mang lại
những ý nghĩa to lớn sau đây:
Tổ chức thực thi chính sách là giai đoạn biến ý đồ chính sách thành hiện
thực.
Tổ chức thực thi chính sách để từng bƣớc thực hiện mục tiêu chính sách
và mục tiêu chung.
1.2.2 Đầu tư công
* Quan điểm trên thế giới: Tuy giữ một vị trí khá quan trọng đối với phát triển
kinh tế - xã hội của mọi quốc gia, cách hiểu về đầu tƣ công tại các quốc gia, các tổ
chức kinh tế cũng nhƣ các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc còn khá nhiều điểm
chƣa đƣợc thống nhất.
Xem xét theo mục đích đầu tƣ, E.Anderson và các cộng sự (2006) cho rằng
“đầu tƣ công (ròng) là phần chi tiêu công làm gia tăng tích lũy tài sản, bao gồm xây
dựng đƣờng sá, trƣờng học, bệnh viện, không tính đến đầu tƣ cho giáo dục và y tế
cho dù thực tế là chi tiêu cho những lĩnh vực này cũng là đầu tƣ và tƣơng ứng với
định nghĩa đầu tƣ công trong thống kê số liệu tài khoản quốc gia có tên gọi là “
capital expenditure”.
Theo hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) của Liên hợp quốc (UN) và Sổ tay
thống kê tài chính chính phủ của Quỹ tiền tệ quốc tế năm 2001 (GFSM 2001) đã có
một số quy định rõ ràng về định nghĩa và ghi chép các hoạt động đầu tƣ của chính
phủ trong kế toán và thống kê ngân sách chính phủ.
Theo đó, mặc dù các chính phủ trên thế giới có thể còn có các quan niệm khác
nhau nhƣng nhìn chung, đầu tƣ công hay đầu tƣ của chính phủ về cơ bản đề cập đến
hoạt động đầu tƣ của chính phủ vào tài sản có thời gian sử dụng từ một năm trở lên.
Đầu tƣ công cũng bao gồm hoạt động đầu tƣ nâng cấp hay phục hồi các tài sản vật
chất mà cho phép gia tăng thời gian sử dụng của tài sản (khác vói việc sửa chữa hay
bảo dƣỡng nhằm đảm bảo khả năng vận hành tài sản trong thời gian sử dụng đã
dƣợc kế hoạch). Ví dụ, đầu tƣ công của chính phủ có thể bao gồm đầu tƣ vào các tài
sản cố định mà chính phủ sử dụng nhƣ văn phòng làm việc, hàng hóa bản chất là
10
hàng hóa công cộng nhƣ cầu, đƣờng, điện, nƣớc và các tài sản vô hình (giáo dục và
nghiên cứu).
Viện Chính sách kinh tế Hoa Kỳ (2011) cũng cho rằng, đầu tƣ công là tất cả
các khoản chi tiêu của ngân sách cho các đối tƣợng khác nhau trong nền kinh tế mà
những khoản chi tiêu này có tác dụng kích hoạt hoặc thúc đẩy chi tiêu của mọi
Những tranh luận còn bỏ ngỏ về các vấn đề nêu trên khiến khái niệm đầu tƣ
công của thế giới vẫn trong quá trình tiếp tục hoàn thiện.
* Định nghĩa tại Việt Nam: Giống với nhiều quốc gia trên thế giới, tại Việt
Nam, khái niệm đầu tƣ công chƣa đƣợc thống nhất và còn tranh cãi khá nhiều. Tuy
nhiên, các nhà nghiên cứu trong nƣớc vẫn khá mạnh dạn đƣa ra các quan điểm cá
nhân về khái niệm “đầu tƣ công”. Theo Nguyễn Đăng Bình (2012), đầu tƣ công
đƣợc hiểu là đầu tƣ vào hàng hóa công cộng, đầu tƣ của Nhà nƣớc vào cơ sở hạn
tầng kinh tế - xã hội, sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, cải thiện môi
trƣờng sinh thái, tài nguyên thiên nhiên và đảo bảo an ninh quốc phòng. Quan điểm
này liệt kê khá cụ thể các nội dung của đầu tƣ công song tính khái quát chƣa cao,
chƣa bao hàm hết các nội hàm của đầu tƣ công. Quan điểm này một lần nữa đƣợc
chia sẻ trong nghiên cứu của Nguyễn Đức Thành và Đinh Tuấn Minh (2011): Đầu
tƣ công (thuần) đƣợc hiểu nhƣ là phần chi tiêu công đƣợc thêm vào lƣợng vốn vật
chất để tạo ra các dịch vụ xã hội, chẳng hạn xây dựng đƣờng sá, cầu cảng, trƣờng
học, bệnh viện, vv … Nguồn vốn đầu tƣ công thƣờng bao gồm ngân sách nhà nƣớc,
trái phiếu chính phủ hoặc viện trợ phát triển của nƣớc ngoài. Tùy theo quan điểm
của từng quốc gia mà đầu tƣ công cũng có thể bao gồm các dự án cho các mục đích
kinh doanh (qua khu vục DNNN) hoặc các dự án chỉ thuần mục đích công ích.
Hiện tại "đầu tƣ công" vẫn đƣợc quan niệm một cách đơn giản hơn: đó là bao
gồm tất cả các khoản đầu tƣ do chính phủ và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh
tế nhà nƣớc tiến hành. Trong quan niệm này, đầu tƣ công đƣợc xét không phải từ
góc độ mục đích (có sản xuất hàng hóa công cộng hay không, có mang tính kinh
doanh hay là phi lợi nhuận) mà từ góc độ tính sở hữu của nguồn vốn dùng để đầu
tƣ. Cụ thể đầu tƣ công là đầu tƣ bằng nguồn vốn nhà nƣớc theo quy định của pháp
luật hiện hành, bao gồm: Vốn ngân sách nhà nƣớc, vốn tín dụng do Nhà nƣớc bảo
lãnh, vốn tín dụng đầu tƣ phát triển của Nhà nƣớc, vốn đầu tƣ phát triển của các
doanh nghiệp nhà nƣớc và các vốn khác do Nhà nƣớc quản lý.
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm đầu tƣ công thuộc Dự thảo
Lật Đầu tƣ công vì đó là cách hiểu phổ biến và có cơ sở nhất của Nhà nƣớc hiện
nay. Theo Khoản 1, Điều 4 của Dự thảo Luật Đầu tƣ công đã định nghĩa: “Đầu tư
- xã hội mà Chính phủ đề ra. Đặc biệt, từ khi khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra,
vai trò của đầu tƣ công với tƣ cách là công cụ chính sách vực dậy nền kinh tế đang
suy thoái, tạo việc làm và đặt nền móng cho sự tăng trƣởng cao và bền vững thời kỳ
tới ngày càng đƣợc củng cố.
13
Trong sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, vai trò của
chính sách đầu tƣ công có ý nghĩa rất lớn và giữ một vai trò quan trọng. Vì hoạt
động của Nhà nƣớc thể hiện rõ qua thu – chi ngân sách Nhà nƣớc hàng năm, trong
đó chi cho đầu tƣ phát triển (tập trung nhiều vào đầu tƣ công) chiếm tỉ lệ rất lớn và
có vai trò quyết định đối với sự phát triển chung của đất nƣớc bên cạnh các hoạt
động đầu tƣ khác.
Qua hoạt động đầu tƣ công Nhà nƣớc quản lý, điều tiết một cách trực tiếp và
gián tiếp nền kinh tế. Chính sách đầu tƣ công là hiện thân của những quyết định,
hành vi của Nhà nƣớc đối với hoạt động đầu tƣ công này. Sử dụng công cụ chính
sách tác động vào đầu tƣ công, từ đó quản lý nền kinh tế.
Trong hoạt động quản lý kinh tế, chính sách đầu tƣ công có những vai trò sau:
Định hƣớng cho hoạt động đầu tƣ công của đất nƣớc, vai trò này mang
tính bao quát, vĩ mô nhằm hƣớng tất cả các hoạt động đầu tƣ công của đất
nƣớc theo mục tiêu đặt sẵn.
Tổ chức để xử lý, giải quyết các vấn đề đầu tƣ công lớn, vai trò này nhằm
đƣa các phƣơng pháp và biện pháp thực hiện các chính sách đầu tƣ công
mang tầm vĩ mô, xử lý và giải quyết các vấn đề lớn của đầu tƣ công.
Hỗ trợ để phát triển các mục tiêu quản lý kinh tế đã đƣợc xác định: Chính sách
đầu tƣ công có giá trị nhƣ là những quyết định trong dài hạn và ngắn hạn của Nhà
nƣớc nhằm tổ chức quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân nói chung và hoạt
động đầu tƣ trong khu vực công nói riêng theo định hƣớng.
Nhƣ vậy, có thể nói, bên cạnh vai trò chính trong quản lý kinh tế thì chính
sách đầu tƣ công còn góp một phần không nhỏ vào hoạt động đầu tƣ chung, mang
lại lợi ích từ việc phát triển, tạo môi trƣờng thuận lợi cho các hoạt động kinh tế
mục chủ đạo để tập trung xây dựng và hoàn thiện. Công tác quy hoạch cũng đƣợc
đẩy mạnh nhằm kiểm soát và đƣa ra định hƣớng phát triển một cách tổng thể, hiệu
quả, phù hợp với điều kiện riêng của địa phƣơng. Để lập đƣợc kế hoạch chung trong
ngắn hạn và dài hạn, nhà lãnh đạo cần nắm bắt rõ kế hoạch và tình hình thực hiện
trong những năm trƣớc, kết hợp với những kế hoạch nhỏ của từng ngành và lĩnh
vực đề xuất để từ đó lựa chọn.
Việc lập kế hoạch tốt sẽ cho thấy năng lực lãnh đạo, quản lý, đồng thời tạo
một bƣớc nền tảng vững chắc cho việc triển khai và kiểm soát việc sử dụng nguồn
vốn. Dựa vào kế hoạch, nhà hoạch định sẽ biết cách sắp xếp và điều tiết các hoạt
động tổ chức thực thi chính sách một cách hiệu quả, là cột mốc để đánh giá hiệu quả
thực hiện chính sách. Sau khi đƣợc hoàn thiện, kế hoạch sẽ đƣợc trình lên lãnh đạo
các cấp để xem xét và quyết định cung cấp vốn cho địa phƣơng.
15
Thẩm định, phê duyệt dự án:Các dự án sau khi đƣợc tiếp nhận sẽ đƣợc đƣa ra
thẩm định theo bộ tiêu chí cho từng ngành, lĩnh vực cụ thể. Qua đó dự án đáp ứng
đƣợc đủ tiêu chuẩn, đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội và đi đúng với mục
tiêu phát triển chung của địa phƣơng sẽ đƣợc lựa chọn và phê duyệt.
Lựa chọn dự án đầu tư: Đây là một bƣớc quan trọng đòi hỏi nhà quản lý phải
có năng lực và tầm nhìn trong cả ngắn hạn và dài hạn đồng thời hiểu rõ đƣợc đặc
điểm của địa phƣơng để đƣa ra kế hoạch hợp lý, có khả năng đạt hiệu quả cao trong
việc thực hiện và phù hợp với tiềm năng phát triển và điều kiện đáp ứng của địa
phƣơng. Dựa trên kết quả đầu tƣ các dự án của năm trƣớc, các dự án đã đƣợc địa
phƣơng phê duyệt. Sau khi tiếp nhận đƣợc nguồn vốn từ Trung ƣơng, địa phƣơng
cần xem xét lựa chọn dự án đƣợc đầu tƣ. Vì trong nhiều trƣờng hợp các dự án đƣợc
phê duyệt và trình lên Trung ƣơng nhƣng nguồn vốn đƣợc cấp lại không đáp ứng
đƣợc nhu cầu thực hiện toàn bộ dự án, vì vậy cần lựa chọn những dự án quan trọng
và hiệu quả để đầu tƣ, vừa cân đối giữa mục tiêu phát triển chung của địa phƣơng
với mục tiêu phát triển riêng của từng ngành, lĩnh vực.
b. Thực hiện đầu tư
hội nhƣ mong muốn.
Tuy nhiên, đây lại là khâu gặp nhiều biến động nhất trong quá trình thực thi
chính sách đầu tƣ công. Trong khi thực hiện rất dễ phát sinh các vấn đề chƣa lƣờng
trƣớc đƣợc gây ảnh hƣởng đến tiến độ, chất lƣợng của chƣơng trình, dự án, lúc đó
đòi hỏi cần có nguồn ngân sách để bù đắp xử lý và giải quyết vấn đề. Các chƣơng
trình, dự án nếu không đƣợc thực hiện đúng tiến độ và kế hoạch ban đầu sẽ dẫn đến
hàng loạt các hệ quả: gây ảnh hƣởng đến mục tiêu phát triển lâu dài, gây thất thoát
và phát sinh các nguồn vốn không đáng có vể cả ngƣời và của,…Vì vậy luôn cần có
giải pháp phòng, tránh và xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh trong bƣớc này.
c. Kết thúc, bàn giao, đánh giá
Hoàn thành, bàn giao: Đây là bƣớc cuối cùng trong quy trình tổ chức thực
hiện chính sách đầu tƣ công tại địa phƣơng. Sau một thời gian thực hiện và hoàn
thành, các đơn vị kết thúc quá trình đầu tƣ và bàn giao các dự án cho địa phƣơng.
Đánh giá: Từ kết quả đạt đƣợc, địa phƣơng so sánh với kế hoạch đề ra để
đánh giá hiệu quả thực hiện nguồn vốn. Các dự án kết thúc đúng tiến độ, đạt chất
lƣợng sẽ đƣợc đƣa vào nghiệm thu và sử dụng. Mặt khác, các dự án chậm tiến độ,
không đạt tiêu chuẩn sẽ đƣợc xem xét để tiếp tục đầu tƣ hoặc tạm ngừng đầu tƣ
trong năm sau.
17
1.3.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách đầu tư công
a. Điều kiện kinh tế của quốc gia
Bất cứ một chính sách nào đƣa ra đều phải phù hợp với điều kiện, môi trƣờng
kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Điều kiện kinh tế quốc gia là tổng thể các yếu tố sản
xuất, các điều kiện sống của con ngƣời, các mối quan hệ trong quá trình sản xuất và
tái sản xuất xã hội cần phải có để tạo điều kiện thực hiện và thực hiện có hiệu quả
chính sách đầu tƣ công.
Điều kiện kinh tế quốc gia có ảnh hƣởng quan trọng tới thực thi chính sách
đầu tƣ công, điều kiện kinh tế tốt sẽ giúp quốc gia dễ dàng và nhanh chóng thực
hiện chính sách đầu tƣ một cách hiệu quả và ngƣợc lại.
động trong đời sống. Tiềm lực kinh tế đƣợc biểu hiện ở tài nguyên thiên nhiên, khối
lƣợng tài sản quốc dân, tổng sản phẩm xã hội, trình độ và khả năng tăng trƣởng của
sản xuất cũng nhƣ khả năng động viên và phân phối chúng một các có hiệu quả để
giải quyết các nhiệm vụ do xã hội đặt ra.
Địa phƣơng là chủ thể trực tiếp thực thi chính sách đầu tƣ công. Vì vậy, tiềm lực
kinh tế của địa phƣơng quyết định phần không nhỏ đến hiệu quả thực thi chính
sách. Đặc biệt trong hoạt động đầu tƣ công, tiềm lực kinh tế của địa phƣơng đóng
vai trò quyết định hoạt động thực thi chính sách, một địa phƣơng có tiềm lực kinh tế
mạnh, chủ động về tài chính có thể tự chủ trong hoạt động đầu tƣ công của địa
phƣơng mình, không bị lệ thuộc vào nguồn vốn ngân sách Trung ƣơng. Ngƣợc lại,
với một tỉnh nghèo, hoạt động đầu tƣ sử dụng nguồn vốn lớn từ ngân sách đƣợc rót
xuống thì mọi hoạt động đều đầu tƣ đều bị ảnh hƣởng bởi nguồn vốn hạn chế, thiếu
chủ động trong thực thi chính sách. Vì vậy, trong mỗi một giai đoạn khác nhau, với
nguồn lực khác nhau, địa phƣơng sẽ quyết định hoạt động đầu tƣ công ít hay nhiều,
nới lỏng hay thắt chặt, đầu tƣ nhiều vào lĩnh vực, hoạt động nào, lĩnh vực nào cần
hạn chế.
d. Năng lực bộ máy quản lý
Năng lực bộ máy quản lý là tổng hợp các đặc điểm, trình độ của đội ngũ cán bộ phù
hợp với yêu cầu đặc trƣng của hoạt động quản lý nhằm đảm bảo hoạt động đạt hiệu quả
cao. Năng lực bộ máy quản lý đƣợc thể hiện ở số lƣợng, trình độ cán bộ trong bộ máy,
đồng thời là khả năng liên kết trong hệ thống, nhạy bén nắm bắt mục tiêu, xu hƣớng
phát triển và yêu cầu chung trong công tác thực thi chính sách đầu tƣ công.
Đây đƣợc coi là yếu tố quan trọng, mang tính chất quyết định đến chất lƣợng
chính sách và hiệu quả thực thi chính sách đầu tƣ công. Với chức năng quản lý xã
hội, địa phƣơng phải thƣờng xuyên tác động đến các đối tƣợng bằng chính sách và
các công cụ quản lý khác. Kết quả tác động vào mỗi quá trình sẽ phản ánh năng lực
19
hoạch định, tổ chức, điều hành của hệ thống bộ máy quản lý của địa phƣơng. Bên
cạnh năng lực chuyên môn của hệ thống cán bộ trong bộ máy, năng lực còn đƣợc