1 KHOA QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI:
Phân tích tình hình sản xuất và tiêu thụ vải thiều ở huyện Lục Ngạn – Bắc giang 2
Song trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, Việt Nam đã
gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và đang tiếp tục chuẩn bị cho
việc tham gia vào các liên kết quốc tế, sản phẩm vải thiều Lục Ngạn cũng đang
đứng trước nhiều cơ hội và thách thức mới. Vì vậy, yêu cầu đặt ra trong giai
đoạn này là cần tìm ra những hướng thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ vải thiều nhằm
phát triển bền vững cho thương hiệu vải thiều Lục Ngạn.
Xuất phát từ những vấn đề trên, nhóm chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề
tài: “Phân tích tình hình sản xuất và tiêu thụ vải thiều Lục Ngạn – Tỉnh Bắc
Giang”.
2. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài thực hiện nhằm đánh giá tình hình sản xuất và tiêu thụ vải thiều ở
Lục Ngạn trong những năm gần đây, phân tích những thế mạnh và hạn chế của
cây vải thiều trên đất Lục Ngạn, những cơ hội và thách thức mà sản phẩm vải
thiều Lục Ngạn phải đối mặt trong những năm tới, từ đó đề xuất một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của cây vải thiều.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài thực hiện 03 nhiệm vụ sau:
Tổng quan một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các yếu tố có liên
quan đến quá trình sản xuất và tiêu thụ cây vải thiều.
Đánh giá thực trạng về tình hình sản xuất và tiêu thụ vải thiều của huyện
Lục Ngạn; phân tích những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức và việc ứng
dụng những mô hình mới trong sản xuất và tiêu thụ vải thiều.
Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất và tiêu thụ vải thiều
trên địa bàn huyện Lục Ngạn.
3. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Về mặt thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về tình hình sản xuất và tiêu
thụ vải thiều trong giai đoạn 2010 – 2013.
4
5
dựa trên những yếu tố như lịch sử phát triển, thực trạng và xu thế phát triển
chung của ngành, của vùng, của cả nước.
4.2 Phƣơng pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Tỉnh Bắc Giang có 9 huyện và 1 thành phố, trong đó vải thiều được
trồng phổ biến ở một số huyện như Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Thế, Tân Yên,
Lạng Giang, Sơn Động. Lục Ngạn là huyên có diện tích trồng vải thiều lớn
nhất trong tỉnh cũng như trong cả nước (hơn 18 nghìn ha) được chọn làm
địa bàn nghiên cứu.
4.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Phân tích tổng quan thị trường sản phẩm vải thiều gồm thực trạng sản
xuất (diện tích, năng suất, sản lượng, điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách
thức trong khâu sản xuất); nhu cầu, tình hình thị trường và xu hướng thị trường
trong tương lai được chủ yếu thực hiện qua việc thu thập và nghiên cứu từ
nhiều nguồn tài liệu khác nhau như: các tài liệu của Bộ Nông nghiệp và phát
triển nông thôn, Viện nghiên cứu rau quả, các công trình nghiên cứu có liên
quan. Tác giả đã thu thập các số liệu, các nghiên cứu về thị trường vải thiều của
Việt Nam, nghiên cứu về các văn bản pháp luật, các chính sách của Nhà nước
và của tỉnh Bắc Giang liên quan đến vấn đề phát triển sản xuất và tiêu thụ vải
thiều. Ngoài ra tác giả còn thu thập thêm thông tin từ báo chí, Internet…để phục
vụ cho đề tài.
4.2.3 Phương pháp thống kê mô tả
Đề tài sử dụng phương pháp trung bình số học đơn giản, tỷ lệ % để phân
tích thực trạng sản xuất, tiêu thụ vải thiều Lục Ngạn bao gồm các nguồn lực sẵn
có như diện tích đất trồng, sản lượng, chi phí, lợi nhuận…
4.2.4 Phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính
Mục đích của việc thiết lập phương trình hồi quy là tìm ra các nhân tố ảnh
hưởng đến một chỉ tiêu quan trọng nào đó (năng suất, lợi nhuận). Việc lựa chọn
Khi phân tích phương trình hồi quy tương quan, ta xem xét các hệ số
tương quan sau:
- Mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập được thể hiện qua hệ số b
tương ứng.
- Hệ số xác định R
2
: mức độ biến động của Y được giải thích bởi các X
i
.
- Significate F: mức ý nghĩa của phương trình hồi quy. Sig.F càng nhỏ độ
tin cậy càng cao. Sig.F là giá trị dùng để so sánh với mức ý nghĩa α để
làm cơ sở chấp nhận hay bác bỏ các yếu tố ảnh hưởng.
4.2.5 Phương pháp phân tích ma trận SWOT
Phương pháp này được sử dụng để phân tích mục tiêu nghiên cứu về
những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức trong quá trình sản xuất, tiêu thụ
vải thiều Lục Ngạn. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy những thuận
lợi, cơ hội, đồng thời khắc phục những khó khăn, thách thức để nâng cao hiệu
quả kinh tế cho người trồng vải và các đối tượng thu mua vải thiều ở huyện Lục
Ngạn – tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới.
4.2.6 Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp
Các tài liệu sau khi thu thập sẽ được xử lí qua các bước như phân tích,
tổng hợp, so sánh…để trở thành những tài liệu, dẫn chứng phục vụ tốt cho mục
đích của tác giả trong đề tài.
4.2.7 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Bên cạnh những phương pháp nghiên cứu trong phòng, tác giả cũng
tiến hành điều tra, khảo sát thực địa tại một số vùng trồng vải thiều có quy
mô lớn như các xã: Hồng Quang, Kiên Thành, Nam Dương, TT. Chũ…
7
nhằm quan sát, đánh giá cũng như thẩm định lại một số nghi vấn trong quá
Sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác
động vào giới tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên, nhằm thỏa
mãn các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người.
b. Hiệu quả sản xuất
Trong quá trình sản xuất, chúng ta luôn phải đối mặt với các giới hạn về
nguồn lực sản xuất. Do vậy, việc lựa chọn thứ tự ưu tiên các hoạt động cần thực
hiện sao cho đạt kết quả tối ưu nhất, tiết kiệm nguồn lực nhất luôn là vấn đề nan
giải đối với các nhà sản xuất. Đối với bất kỳ quá trình sản xuất nào, khi tính đến
hiệu quả sản xuất người ta thường đề cập tới ba nội dung cơ bản: hiệu quả kinh
tế, hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối.
Hiệu quả kinh tế: là quan hệ so sánh, đo lường cụ thể quá trình sử dụng
các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất (đất đai, vốn, lao động, khoa
học công nghệ, quản lý…) để tạo ra khối lượng sản phẩm lớn hơn với chất
lượng cao hơn.
Hiệu quả kỹ thuật: đòi hỏi nhà sản xuất tạo ra một số lượng sản phẩm nhất
định xuất phát từ việc sử dụng các nguồn lực đầu vào ít nhất. Trong
trường hợp tối đa hóa lợi nhuận đòi hỏi nhà sản xuất phải sản xuất ra mức
sản lượng tối đa tương ứng với nguồn lực đầu vào nhất định hay nói cách
khác hiệu quả kỹ thuật dùng để chỉ kết hợp tối ưu các nguồn lực đầu vào
để tạo ra mức sản lượng nhất định.
9
Hiệu quả phân phối: thể hiện mối quan hệ giữa nhà sản xuất và người tiêu
dùng, nhà sản xuất phải cung cấp những sản phẩm và dịch vụ mà người
tiêu dùng cần nhất hay nguồn lực được phân phối sao cho lợi ích của
người sử dụng nó đạt được cao nhất.
1.1.2 Khái niệm về chi phí, năng suất, lợi nhuận
a. Chi phí
Trong các hoạt động sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói
riêng, vấn đề chi phí luôn là một trong những điều được quan tâm hàng đầu. Chi
kinh doanh.
1.1.3 Cung, cầu, phân phối và thị trường nông sản
- Cầu là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng muốn mua
và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất định,
với điều kiện các yếu tố khác không đổi.
- Lượng cầu là lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người tiêu dùng muốn
mua và sẵn sàng mua tại một mức giá nhất định với các yếu tố khác có thể ảnh
hưởng đến lượng mua không đổi.
- Cung là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người sản xuất muốn bán và
có khả năng bán ở các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất định, với
điều kiện các yếu tố khác không đổi.
- Lượng cung là số lượng hàng hóa mà các hãng muốn bán tại một mức
giá đã cho với các yếu tố khác không đổi.
- Phân phối là hoạt động liên quan đến quá trình đưa sản phẩm từ người
sản xuất đến người sử dụng cuối cùng.
- Thị trường nông sản là tập hợp những thỏa thuận, dựa vào đó người bán
và người mua trao đổi được các hàng hóa nông sản và dịch vụ cho nhau. 11
1.1.4 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
Tổng chi phí sản xuất (TC)
TC = VC + FC
Doanh thu (TR – Total Revenue)
TR = sản lượng (Q) * giá bán (P)
Lợi nhuận (π)
Π = TR – TC
Ngoài ra, cũng cần lưu ý một số chỉ tiêu dưới đây:
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = Tổng lợi nhuận / tổng doanh thu (thể
T (thách thức): các yếu tố bên ngoài có khả năng tạo ra những kết quả
xấu, những kết quả không mong đợi, hạn chế hoặc triệt tiêu sự phát triển
(xảy ra trong tương lai).
1.1.5.3 Đề xuất chiến lược dựa trên phân tích SWOT
Sau khi đã có được ma trận SWOT, việc phân tích và đưa ra các chiến
lược là hết sức quan trọng. Các chiến lược nâng cấp phát triển có thể đề xuất dựa
trên sự kết hợp giữa điểm mạnh và cơ hội (chiến lược công kích), giữa điểm
mạnh và thách thức (chiến lược đối phó/thích ứng), giữa điểm yếu và cơ hội
(chiến lược điều chỉnh), giữa điểm yếu và thách thức (chiến lược phòng thủ).
Bảng 1.1: Ma trận SWOT và các chiến lược
SWOT
O: liệt kê những cơ hội
T: liệt kê những thách thức
S: liệt kê những
điểm mạnh
Các chiến lƣợc SO: sử
dụng các điểm mạnh
để tận dụng cơ hội
Các chiến lƣợc ST: vượt qua
các bất trắc bằng cách tận
dụng những điểm mạnh
W: liệt kê những
điểm yếu
Các chiến lƣợc WO:
Hạn chế các mặt yếu
để lợi dụng cơ hội
Các chiến lƣợc WT: tối
thiểu hóa những điểm yếu và
tránh khỏi các mối nguy cơ
Người
sản xuất
Người
thu gom
Người
bán
buôn
Người
bán lẻ
Người
tiêu
dùng
14
chuyền sẽ mở rộng ra vì sản phẩm vào tay rất nhiều người bán lẻ và hàng triệu
người tiêu dùng.
Giá người nông dân bán cho các tổ chức tham gia dây chuyền phân phối là
giá của người sản xuất. Giá mà người tiêu dùng phải trả là giá bán lẻ. Giá được
quy định từ người thu gom đến người bán lẻ được xem như giá bán buôn. Do đó,
mỗi lần chuyển giao quyền sở hữu đều có thể kéo theo một lần thay đổi giá.
1.1.6.2 Vai trò của thị trường nông sản
Tạo ra khả năng sử dụng sản phẩm về thời gian: thông qua tồn trữ và xử
lý bằng các kỹ thuật giữ tươi, chế biến nhiều nông sản đáp ứng yêu cầu sử
dụng quanh năm hoặc nhiều năm của người tiêu dùng.
Tạo ra khả năng sử dụng sản phẩm về không gian địa lý: sản phẩm của
một vùng, một nước có thể vận chuyển đến những vùng, những nước khác
không hoặc ít sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
Tạo ra khả năng sử dụng sản phẩm về hình thức: với sức ép công việc,
thời gian người tiêu dùng ngày càng có xu hướng lựa chọn những đồ ăn
nhanh, đã qua chế biến…Do đó, lĩnh vực thị trường (marketing nông sản)
trong việc cân đối cung cầu vì nền kinh tế quốc dân là một thể thống nhất với
những cân bằng những tương quan tỷ lệ nhất định, sản phẩm sản xuất ra được
tiêu thụ tức là sản xuất đang diễn ra một cách bình thường trôi chảy tránh sự mất
cân đối, giữ được bình ổn trong xã hội, giải quyết việc làm cho nhiều lao động.
Trong nền kinh tế thị trường, tiêu thụ sản phẩm là phương tiện cạnh tranh
hữu hiệu nhất trên thương trường. Nếu khối lượng sản phẩm của doanh nghiệp
bán ra được nhiều hơn thì thị phần mà doanh nghiệp chiếm được trên thị trường
đã tăng lên, củng cố được thương hiệu, uy tín của doanh nghiệp .
Từ những vấn đề trên, việc tổ chức hoạt động tiêu thụ sản phẩm có ý
nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp.
b. Đặc điểm tiêu thụ sản phẩm trong nông nghiệp
Sản phẩm nông nghiệp và thị trường nông sản mang tính chất vùng và
khu vực. Điều này xuất phát từ đặc điểm của sản xuất nông nghiệp gắn
chặt với điều kiện tự nhiên mang tính chất vùng. Có những sản phẩm chỉ
16
thích ứng với một vùng hay một số vùng nhất định. Do đó, lợi thế so sánh
và lợi thế tuyệt đối của các vùng là yếu tố quan trọng trong việc định
hướng kinh doanh, tổ chức hợp lý quá trình tiêu thụ sản phẩm.
Tính mùa vụ của sản xuất nông nghiệp có tác động mạnh mẽ đến cung –
cầu của thị trường nông sản và giá nông sản. Việc chế biến, bảo quản và
dự trữ sản phẩm đảm bảo cung – cầu tương đối ổn định là một trong
những yêu cầu cần được chú ý trong quá trình tổ chức tiêu thụ sản phẩm.
Nền nông nghiệp nhiệt đới, khí hậu phân hóa đa dạng đã góp phần tạo nên
nguồn sản phẩm nông nghiệp dồi dào, phong phú cho Việt Nam. Thị
trường tiêu thụ rộng lớn nên việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm phải hết sức
linh hoạt, có thể sơ chế trước khi đưa đi tiêu thụ, đồng thời sử dụng các
phương tiện chuyên dùng riêng khi vận chuyển, bảo quản.
Một bộ phận lớn như nông sản, lương thực, thực phẩm được tiêu dùng nội
bộ hoặc với tư cách là tư liệu sản xuất, do đó, phải tính đến nhu cầu này
1.1.7.2 Cluster và tính cạnh tranh
Cluster tạo thành một mặt của mô hình kim cương (các ngành bổ trợ liên
quan) và có những tác động quan trọng đến cạnh tranh.
Thúc đẩy năng suất và hiệu quả
- Tăng khả năng tiếp cận với thông tin, dịch vụ và nguyên liệu
chuyên biệt
- Tăng tốc độ và giảm chi phí điều phối cũng như giao dịch giữa các
doanh nghiệp trong cụm ngành
- Tăng khả năng truyền bá các thông lệ và kinh nghiệm có kinh
doanh hiệu quả
- Tăng cạnh tranh trong đó tập trung vào việc cải thiện chất lượng
trên cơ sở so sánh với các đối thủ cạnh tranh trong cụm ngành
Thúc đẩy đổi mới
- Tăng khả năng nhận diện cơ hội đổi mới công nghệ với sự có mặt
của nhiều luồng thông tin
18
- Giảm chi phí và rủi ro thử nghiệm công nghệ mới trước sự sẵn có
của nguồn lực tài chính và kỹ năng, dịch vụ hỗ trợ và các doanh
nghiệp khâu trước – khâu sau.
Thúc đẩy thương mại hóa
- Mở rộng cơ hội phát triển sản phẩm mới và thành lập doanh nghiệp
mới
- Giảm chi phí thương mại hóa khi có sẵn nguồn lực về tài chính và
kỹ năng
Lợi thế cạnh tranh của cụm tương hỗ trong các lĩnh vực sẽ không giống
nhau. Khi lợi thế của cụm tương hỗ càng mạnh, các hàng hóa và dịch vụ liên
quan càng có khả năng thương mại thì số địa điểm cụm tương hỗ khả thi càng ít.
Tầm quan trọng của cụm tương hỗ gia tăng cùng với sự phức tạp của cạnh tranh,
nghĩa là cụm tương hỗ thường tăng số lượng khi các nền kinh tế phát triển.
vải đã được phát triển mạnh và trở thành một loại quả đặc sản nổi tiếng của
huyện. Ngày 27/6/2005, Sở Khoa học và công nghệ Bắc Giang và UBND
huyện Lục Ngạn đã tổ chức đón nhận văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý vải
thiều Lục Ngạn. Theo đánh giá của các chuyên gia, việc xác lập quyền bảo hộ
chỉ dẫn địa lý cho vải thiều Lục Ngạn có ý nghĩa rất lớn đối với một vùng
chuyên canh vải thiều lớn nhất của cả nước.
1.2.2 Đặc điểm sinh học của cây vải thiều
Cây vải (tên khoa học là Nephelium litch hay Litchisinensis) là cây
được trồng từ lâu đời và phân bố chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc nước ta. Đây là
cây ăn quả quý, quả chín ăn ngon, bổ, đặc biệt là bổ não, có tác dụng chữa
bệnh đường ruột. Trồng vải còn là nguồn cung cấp nhiều mật tốt cho nghề
nuôi ong và cho gỗ tốt. Vải khô, vải hộp là mặt hàng xuất khẩu có giá trị
Vải là loại trái cây có giá trị cao về mặt dinh dưỡng và y học. Quả vải
khi chín có mùi thơm thanh khiết, do đó từ lâu nó đã được coi là một trong
những loại quả nhiệt đới ngon nhất. Đối với giống vải tốt, phần vỏ chiếm từ
8-15%, phần hạt chiếm từ 4-18% và phân cùi chiếm 70-80% khối lượng
quả. Nước ép từ cùi vải có 11-14% đường, 0,4-0,9% axit, và một số thành
phân khác như: canxi, sắt, vitamin C, B
1
, B
2
, PP…
20
Trong một số sách về Đông y Trung Quốc có viết về một số tác dụng
của quả vải như: Vải bổ não, khỏe người, khai vị, có thể chữa bệnh đường
ruột, là một thực phẩm quý đối với phụ nữ và người già.
Vỏ quả, thân cây và rễ vải có nhiều tannin dùng làm nguyên liệu trong
các ngành công nghiệp. Hoa vải là nguồn mật nuôi ong có chất lượng cao.
Hạt vải được dùng làm thuốc chữa các bệnh đường ruột và mụn nhọt trẻ
được 4 – 5 đợt lộc, cây cho quả đều thì một năm có 3 đợt lộc (xuân 1 đợt, hè
1 đợt, thu 1 đợt và không có đợt lộc đông).
Quá trình sinh trưởng hàng năm của cây vải
Cây vải trong quá trình sinh trưởng của mình, trước thời kỳ ra hoa
đậu quả, có thời kỳ nghỉ sinh trưởng để phân hóa mầm hoa trong mùa đông
(tháng 12 – tháng 1). Để nghỉ sinh trưởng thực hiện phân hóa mầm hoa vải
cần có một quỹ khô hạn và lạnh trong thời gian 200 giờ với nhiệt độ từ 13
0
C
trở xuống; nếu không có đủ quỹ khô lạnh này thì cây vải sẽ không nghỉ sinh
trưởng, tức là tiếp tục ra đợt lộc đông, do đó không thực hiện được quá
trình phân hóa mầm hoa và vụ xuân của năm sau vải sẽ không ra hoa mà ra
lộc xuân.
1.2.4 Đặc điểm phát triển của cây vải
Phân hóa mầm hoa
Vải trước khi ra hoa có một thời kỳ nghỉ sinh trưởng để phân hóa
mầm hoa, thời kỳ này thường diễn ra trong mùa đông khi có điều kiện kho
hoặc khô hạn. Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, những yếu tố ảnh hưởng
trực tiếp đến phân hóa mầm hoa ở cây vải là quan hệ giữa cành và lá và sinh
trưởng của bộ rễ.
Thời gian phân hóa mầm hoa của vải phụ thuộc vào từng giống vải,
vùng trồng, vùng khí hậu và kỹ thuật thâm canh. Quá trình phân hóa mầm
hoa tuy phức tạp nhưng thường diễn ra theo quy luật: thời gian phân hóa
mầm hoa tập trung khoảng 1 tháng và nghỉ sinh trưởng để phân hóa mầm
hoa vào tháng 12.
Ra hoa, đậu quả
22
Vải là cây ăn quả ra hoa ở đầu cành từ khi ra hoa, đậu quả đến quả lớn
không có khả năng ra lộc trên cành mang quả, dẫn đến có tính ra quả cách
C thì ngừng sinh trưởng dinh dưỡng. Khi nhiệt độ từ 8 - 10
o
C thì
khôi phục sinh trưởng, 10 - 12
o
C sinh trưởng chậm, 21
o
C trở lên sinh trưởng
tốt, 23 - 26
o
C sinh trưởng mạnh nhất.
Nhiệt độ thích hợp cho cây vải trong thời kỳ phân hóa mầm hoa (tháng 12
– tháng 1) là dưới 13
0
C, nhiệt độ thích hợp cho vải ra hoa, thụ phấn là 18 – 24
0
C.
Ánh sáng: cây vải cần ánh sáng chiếu quanh năm đặc biệt là thời kỳ
hình thành, phân hoá mầm hoa, hoa nở và quả phát triển. Tổng số giờ chiếu
sáng/năm từ 1.800 giờ trở lên là khá thích hợp đối với cây vải. Ánh sáng đầy đủ
giúp cho quá trình quang hợp và đồng hoá các chất xảy ra được thuận lợi tăng
tích luỹ chất dinh dưỡng, khả năng sinh trưởng và phân hoá mầm hoa cũng như
24
ra hoa đậu quả tốt, số giờ chiếu sáng nhiều thì lượng hoa cái bình quân trên
chùm tăng lên tương ứng.
Nước: lượng mưa tốt nhất cho cây vải là từ 1250 – 1700mm mỗi năm.
Vải kém chịu úng hơn các cây khác như ổi, táo ta, nhãn nhưng có khả năng chịu
hạn tốt hơn. Những tháng mùa hè và mùa thu là thời gian cây vải sinh trưởng
mạnh yêu cầu lượng nước lớn. Những tháng mùa đông, mưa nhiều, vải dễ phát
- Căn cứ vào năng suất vụ trước: khối lượng các chất tích lũy trong sản
phẩm quả vải có được là do quá trình quang hợp của lá cây và quá trình hút các
chất khoáng của rễ cây đem lại. theo tính toán của các kỹ sư nông nghiệp, cứ thu
được 100 kg quả vải thì cần bón 3,65 – 4kg urê; 2,5 – 3,5kg supe lân; 2,7 –
3,3kg KCl. Như vậy, năng suất của năm trước càng cao thì lượng phân bón cần
thiết cho năm sau phải tăng lên tương ứng.
- Căn cứ vào chất đất trồng: với mỗi loại đất trồng vải thì cần bón phân
với lượng phân bón khác nhau. Đất ngoài bãi có độ phì cao thì bón ít hơn, đất
trong đồng bón cao hơn đất ngoài bãi, vườn thổ cư bón với lượng cao nhất.
- Căn cứ vào tuổi cây: thông thường bộ khung tán của cây sẽ tăng dần
theo độ tuổi, do đó, lượng dinh dưỡng khoáng cây cần cũng tăng theo. Có thể
căn cứ vào độ tuổi cây và tình trạng sinh trưởng của cây thể hiện qua số đo
đường kính tán cây để lựa chọn lượng phân bón thích hợp.
Bảng 1.2: Liều lượng một số loại phân bón thay đổi theo tuổi cây và đường kính tán cây
(Đơn vị: kg/sào/năm)
Tuổi cây
Đƣờng kính
tán (m)
Đạm
urê
Supe
lân
Sulfat kali
Phân hỗn hợp
tỷ lệ 11:4:14
4 – 5
6 – 7
8 – 9
10 – 11
12 – 13
2000
3000
4000
5000
6000
8000
9000
(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn)