LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ giáo
viên hướng dẫn là Th.s Nguyễn Bích Phương. Các nội dung nghiên cứu và kết quả
trong đề tài này là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nghiên
cứu nào trước đây. Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích,
nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong
phần tài liệu tham khảo. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá
cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác, và cũng được thể hiện trong
phần tài liệu tham khảo.
Nếu phát hiện có sự gian lận nào tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như
kết quả khóa luận của mình.
Sinh viên
Lê Thị Khánh Hòa
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài 1
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 2
4. Phạm vi và giới hạn 3
5. Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu 3
6. Cấu trúc đề tài 5
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ
NÔNG NGHIỆP 6
1.1. Quan niệm tổ chức lãnh thổ nông nghiệp 6
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới tổ chức lãnh thổ nông nghiệp 8
1.3. Các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp 11
1.4. Thực tế các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp 16
CHƢƠNG II: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN TCLTNN THỰC TRẠNG
PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG NGHIỆP
TỈNH BẮC GIANG 22
2.1. Tổng quan về tỉnh Bắc Giang 22
2.1.1. Vị trí địa lý 22
2.1.2. Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 22
3.1.3. Định hướng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp 77
3.3 Các giải pháp phát triển TCLTNN 79
3.3.1 Quy hoạch và quản lí đất đai 79
3.3.3 Phát triển những dịch vụ phục vụ nông nghiệp 80
3.3.4 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 80
3.3.5 Giải pháp thị trường 80
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TCLTNN: Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
UBND: Ủy ban nhân dân
CN-XD: Công nghiêp- xây dựng
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
KT-XH: Kinh tế- xã hội
KHCN: Khoa học công nghệ
TCLT: Tổ chức lãnh thổ
DN: Doanh nghiệp
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
HTX: Hợp tác xã
HTXNN: Hợp tác xã nông nghiệp
HTXLN: Hợp tác xã lâm nghiệp
HTXTS: Hợp tác xã thủy sản
HGĐ: Hộ gia đình
DNNN: Doanh nghiệp nông nghiệp
TBCN: Tư bản chủ nghĩa
Bảng 11: Số lượng trang trại phân theo các huyện của tỉnh Bắc Giang 56
giai đoạn 2006 - 2012 56
Bảng 12: Số lao động làm việc trong HTX của tỉnh giai đoạn 2006-2011 62
Bảng 13: Diện tích đất của HTX tỉnh Bắc Giang năm 2011 62
Bảng 14: Diện tích đất sử dụng cho doanh nghiệp phân theo ngành của tỉnh năm
2011 65
Bảng 15: So sánh tỉ trọng sản xuất nông nghiệp giữa hai tiểu vùng nông nghiệp năm
2009 69 DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 1: Cơ cấu hộ NLTS nông thôn cả nước giai đoạn 2006-2011 17
Biểu đồ 2: Cơ cấu hộ NLTS nông thôn phân theo vùng giai đoạn 2006-2011 18
Biểu đồ 3: Số trang trại cả nước giai đoạn 2000-2011 20
Biểu đồ 4: Diễn biến GTSX ngành nông nghiệp 25
giai đoạn 2006-2013 (Giá SS 2010) 25
Biểu đồ 5: Gía trị sản xuất nông nghiệp tính theo giá hiện hành phân theo địa
phương năm 2012 26
Biểu đồ 6: Giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp giai đoạn 2005-2012 26
Biểu đồ 7: Phân vùng của tỉnh Bắc Giang 29
Biểu đồ 8: Diện tích sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. 32
Biểu đồ 9: Cơ cấu các loại đất chính trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 35
Biểu đồ 10: Diện tích 3 loại rừng Bắc Giang năm 2013 36
Biểu đồ 11: Diễn biến đất lâm nghiệp Bắc Giang giai đoạn 2006-2013 36
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để tạo nên sự phát triển kinh tế - xã hội của bất kì một quốc gia nào thì việc
tổ chức lãnh thổ nền kinh tế - xã hội nói chung là một trong những biện pháp quan
trọng hàng đầu. Việt Nam là một quốc gia có nền nông nghiệp phát triển lâu đời,
hoạt động nông sản xuất nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự
phát triển kinh tế- xã hội nước ta. Vì vậy, chìa khóa để chuyển từ nền nông nghiệp
truyền thống, lạc hậu sang nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại chính là tổ chức lãnh
thổ nông nghiệp. Do vậy, nghiên cứu TCLTNN của một tỉnh có ý nghĩa thực tiễn to
lớn không chỉ đối với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đó mà còn có ý nghĩa trên
phạm vi cả nước.
Bắc Giang là một tỉnh thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc, thuộc bộ
phận Đông Bắc. Đây là một tỉnh có nhiều tiềm năng trong việc phát triển nông
nghiệp, để tạo đà cho sự phát triển kinh tế chung của tỉnh. Tuy nhiên, hiện nay tỉnh
một vài nghiên cứu của tác giả Minh Chi đã công bố vào những năm 60. Cũng trong
thời gian này, ở khoa Địa lý trường đại học Sư Phạm Hà Nội, nhà giáo Nguyễn Văn
Quang đã đưa vào giảng dạy giáo trình “ Phân vùng nông nghiệp” trong đó đề cập
tới các nguyên tắc, phương pháp và nội dung cụ thể tập trung vào hướng dẫn lập
quy hoạch nông nghiệp. Ngoài ra, các công trình nghiên cứu về tổ chức về tổ chức
lãnh thổ nông nghiệp không thực sự nhiều nhưng có thể kể tên các công trình
nghiên cứu như:“Một số biện pháp kinh tế quản lý chủ yếu để tăng cường củng cố
HTX vùng đồng bằng miền Bắc XHCN”(Nguyễn Lâm Toán, Tô Dũng Tiến,
1976) trên cơ sở xác định thực trạng của các HTX ở miền Bắc, các tác giả đã đề
xuất một số giải pháp khả thi để phát triển HTX trong thời gian này. “Khảo sát mô
hình kinh tế hộ nông dân ngoại thành Hà Nội”(Đề tài cấp thành phố, 1988. Chủ trì:
Trần Đình Đằng. Tham gia chính: Tô Dũng Tiến, Phạm Vân Đình), đề cập đến thực
trạng phát triển kinh tế hộ gia đình của người dân ngoại thành Hà Nội. “ Kinh tế
trang trại ở nông thôn Nam Bộ”, đề tài đang tiến hành tại trường Ðại học Kinh tế
TP. Hồ Chí Minh. Chủ nhiệm Nguyễn Thị Song An, trên cơ sở tìm hiểu về thực
trạng phát triển mô hình trang trại của người dân Nam Bộ, tác giả đã đưa ra những
định hướng, giải pháp thiết thực cho mô hình này.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi mạnh dạn nghiên cứu vấn đề tổ chức lãnh thổ
nông nghiệp tỉnh Bắc Giang.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục tiêu
Vận dụng các vấn đề lí luận và thực tiễn về TCLTNN, đề tài này tập trung vào
phân tích những nhân tố ảnh hưởng, hiện trạng TCLTNN của tỉnh Bắc Giang. Trên
cơ sở đó, kiến nghị một số định hướng và các giải pháp nhằm khắc phục những hạn
chế trong TCLTNN của tỉnh, góp phần khai thác tốt những tiềm năng, mang lại hiệu
quả về kinh tế – xã hội của tỉnh.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện các mục tiêu trên, đề tài tập trung giải quyết một số nhiệm vụ chủ yếu:
- Tổng quan có chọn lọc cơ sở lí luận và thực tiễn về TCLTNN áp dụng vào tỉnh
Bắc Giang.
vậy, đối tượng nghiên cứu phải được gắn với không gian xung quanh nó đang tồn
tại. Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tỉnh Băc Giang phải được đặt trong tổ chức lãnh
thổ kinh tế - xã hội của vùng TDMNPB nói riêng và trong phạm vi của cả nước.
Nghiên cứu TCLTNN của tỉnh Bắc giang cần tìm ra những nét độc đáo, đặc trưng
riêng biệt nhằm phát huy tối đa lợi thế so sánh của vùng.
5.1.3. Quan điểm lịch sử, viễn cảnh
Mọi sự vật, hiện tượng đều không ngừng vân động và biến đổi theo thời gian
và không gian. Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tỉnh Bắc Giang không nằm ngoài quy
luật đó. Vì vậy, cần xem xét sự phát triển TCLTNN tỉnh Bắc Giang trong từng giai
đoạn cụ thể và đặt trong mối quan hệ với những thay đổi về thể chế, chính sách phát
4
triển kinh tế - xã hội trong từng thời kì nhất định. Để từ đó có thể đánh giá được
những khả năng, triển vọng của TCLTNN tỉnh Bắc Giang hiện tại và đề ra những
giải pháp và phương hướng phát triển trong tương lai.
5.1.4. Quan điểm phát triển bền vững
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là nguồn lực quan trọng có tác
động trực tiếp đến sự phát triển của các ngành kinh tế. Mặt khác, hoạt động phát
triển kinh tế đã tác động và làm thay đổi môi trường tự nhiên và tài nguyên thiên
nhiên. Hoạt động nông nghiệp chịu ảnh hưởng nhiều của các nhân tố tự nhiên, đồng
thời trong quá trình sản xuất cũng tác động mạnh đến môi trường tự nhiên. Vì vậy,
cần có giải pháp hiệu quả để khai thác hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi
trường sinh thái.
TCLTNN tỉnh Bắc Giang phải thỏa mãn các yêu cầu về khả năng tài nguyên
và nhu cầu thị trường, đảm bảo lợi ích của cộng đồng và đạt được hiệu quả kinh tế -
xã hội cao. Vì vậy, khi tiến hành TCLTNN phải xem xét đến các nguyên tắc phân
bố sản xuất, đặc điểm và điều kiện phân bố của từng ngành, từng lĩnh vực. Mặt
khác, TCLTNN nhất thiết phải tính đến nhu cầu thị trường, đó là sự thỏa mãn yếu tố
khả năng và đáp ứng nhu cầu nhằm đem lại lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường của
thực địa, thống kê qua đo đạc và tính toán trên bản đồ, thống kê qua các bảng tra
với hệ thống dữ liệu đã định,… Thực tế cho thấy rằng đây là phương pháp không
thể thiếu được, số liệu thu thập theo phương pháp này có tính đồng bộ cao và giảm
bớt thời gian đi thực địa.
5.2.4. Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Bản đồ là mô hình thu nhỏ của các đối tượng địa lớ trờn thực địa, giúp cho
việc thể hiện kết quả nghiên cứu cũng như sự phân bố các đối tượng địa lí một cách
khoa học và trực quan nhất. Ngoài ra, phương pháp bản đồ còn là phương pháp duy
nhất thể hiện sự phân bố không gian của các phương án quy hoạch và tổ chức lãnh
thổ kinh tế - xã hội. Trong đề tài này, bằng những kiến thức đã học về bản đồ và
ứng dụng công nghệ GIS, tác giả đã tiến hành biên tập bản đồ như bản đồ hành
chính tỉnh, bản đồ phân bố cây trồng vật nuôi của tỉnh Bắc Giang. Cùng với các bản
đồ, các biểu đồ được sử dụng để phản ánh quy mô, quá trình thay đổi của các hiện
tượng địa lí kinh tế - xã hội theo thời gian hoặc theo không gian. Biểu đồ làm cụ thể
hóa các sự vật, hiện tượng, giúp cho việc thể hiện các kết quả nghiên cứu trở nên
trực quan và sinh động.
6. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần nội dung gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về TCLTNN tỉnh Bắc Giang
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến TCLTNN tỉnh Bắc Giang và thực -
trạng phát triển các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tỉnh Bắc Giang
Chương 3: Định hướng và giải pháp cho TCLTNN tỉnh Bắc Giang đến năm
2015, tầm nhìn 2020
6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ
tế then chốt đang được quan tâm nhằm góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của nền
sản xuất xã hội. Vấn đề này đã được các nhà khoa học quan tâm chú ý, có nhiều
công trình nghiên cứu ra đời, trong đó phải kể đến sự cống hiến to lớn của các
7
chuyên gia địa lý Xô Viết như giáo sư tiến sỹ K.I.I Varov, V.G.Kriustkov,
A.N.Rakinikov…với các công trình về tổ chức lãnh thổ
Qua các công trình của K.I.I.Varov, V.G.Kriustkov và một số tác giả khác có
thể quan niệm về vấn đề này như sau:“Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp được hiểu là
hệ thống liên kết không gian của các ngành, các xí nghiệp nông nghiệp và các lãnh
thổ dựa trên cơ sở các quy định kỹ thuật mới nhất, chuyên môn hóa, tập trung hóa,
liên hợp hóa và hợp tác hóa sản xuất cho phép sử dụng có hiệu quả nhất sự khác
nhau theo lãnh thổ về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, nguồn lao động và đảm bảo
năng suất cao nhất”.
1.1.3. Đặc điểm tiêu biểu của tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
- Phân công lao động theo lãnh thổ cùng với sự kết hợp giữa tự nhiên, kinh
tế, nguồn lao động là cơ sở để hình thành mối quan hệ qua lại theo không gian.
- Khía cạnh ngành và khía cạnh lãnh thổ quyện chặt với nhau trong việc tổ
chức lãnh thổ nông nghiệp bởi vì trong tổ chức nông nghiệp ngành và lãnh thổ có
mối quan hệ mật thiết với nhau.
- Cần phải đi từ ngành đến các kết hợp sản xuất lãnh thổ, vì nếu thiếu những
tri thức về đặc trưng của ngành thì không thể hiểu đúng đắn sự kết hợp không gian
của chúng ở bất cứ hình thức nào.
- Các đặc điểm không gian của sản xuất phần nhiều bắt nguồn từ tính chất
của việc khai thác và sử dụng các điều kiện sản xuất hiện có.
- Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn hàng đầu trong TLTNN. Tổ chức lãnh thổ
nông nghiệp không phải là bất biến. Trong điều kiện hiện nay, TCLTNN gắn liền
với khoa học công nghệ và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
1.1.4. Vai trò của tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
Địa hình là nhân tố ảnh hưởng nhất định đến TCLTNN. Mỗi một vùng, lãnh
thổ quốc gia điều có những đặc điểm địa hình khác nhau, tạo nên những nét văn hóa
riêng biệt. Từ những đặc điểm ấy nó sẽ ảnh hưởng đến việc quy hoạch, tổ chức các
hình thức hay loại hình TCLTNN riêng, tùy vào độ rộng hẹp, cao, thấp của địa hình
mà có thể bố trí các hình thức TCLTNN phù hợp để mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Nếu địa hình bằng phẳng, diện tích đồng bằng rộng lớn sẽ là cơ sở thuận lợi để hình
thành các vùng chuyên canh, hay trang trại có quy mô lớn. Còn nếu diện tích đồi
núi chiếm tỉ lệ cao, sự chia cắt mạnh mẽ thì tùy thuộc vào các điều kiện khác để
hình thành trang trại quy mô nhỏ, hộ gia đình, hợp tác xã và từ đó có thể hình thành
nên các tiểu vùng nông nghiệp.
1.2.2.2. Đất đai
Như chúng ta đã biết, đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất trong nông
nghiệp, là nơi diễn ra các hoạt động sản xuất nông nghiệp, là nguồn lực không thể
thay thế được. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra đối với TCLTNN là nguồn lực cần được sử
dụng như thế nào để mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trên một lãnh thổ cụ thể đất đai
kết hợp với đặc điểm khí hậu sẽ quy định sự có mặt của các loại cây trồng, vật nuôi.
Đó sẽ là cơ sở để hình thành các vùng chuyên canh, góp phần tạo ra những sản
phẩm chuyên môn hóa sản phẩm đặc trưng của vùng, lãnh thổ đó. Như vậy, đất đai
là nhân tố có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các hình thức tổ chức lãnh thổ
9
1.2.2.3. Khí hậu:
Khí hậu cùng với yếu tố nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng, độ ẩm, gió, bão, lũ
lụt…có ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định cơ cấu cây trồng, thời vụ, khả năng xen
canh tăng vụ, từ đó ảnh hưởng tới việc hình thành các hình thức TCLTNN. Mỗi loại
cây trồng, vật nuôi thích ứng với các điều kiện thời tiết, khí hậu khác nhau. Nếu biết
cách trồng hợp lí thì sẽ tạo ra sự phát triển, ít rủi do, ngược lại có những thiệt hại
đáng kể và điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự hoạt động bình thường hay khó
khăn của các loại hình TCLTNN
Về mặt sản xuất: đây là lực lượng sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp xét cả
về mặt chất lượng lẫn số lượng. Nơi nào có nguồn lao động dồi dào thì sẽ thận lợi
cho phân bố, phát triển các loại cây trồng cần nhiều công chăn súc. Cũn với những
loại cây trồng, vật nuôi cần ớt cụng chăm sóc thường phân bố ở những nơi thưa dân.
Nguồn lao động đông, có chất lượng tức là có trình độ khoa học kĩ thuật sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của các hình thức TCLTNN. Ngược lại nó
sẽ hạn chế sự phát triển đó.
Về mặt tiêu dùng: dân cư và nguồn lao động ngoài vai trò là người sản xuất
thì đồng thời cũng là người tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, vì thế thị trường tiêu
thụ gắn với số dân có thể coi là một nguồn lực quan trọng. Tập quán tiêu dùng của
dân cư có thể thay đổi, từ đó sẽ dẫn đến sự mở rộng hay thu hẹp không gian của tổ
chức lãnh thổ nông nghiệp.
1.2.3.2. Cơ sở hạ tầng, vật chất phục vụ nông nghiệp:
Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật có vai trò nhất định đối với
việc TCLTNN. Nó là tiền đề thuận lợi hay cản trở sự phát triển nông nghiệp nói
chung hay TCLTNN nói riêng.
Hệ thồng cơ sở hạ tầng (gồm giao thông vận tải, thông tin liên lạc, cung cấp
điện nước) và cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ hoạt động sản xuất nông nghiệp (công
trình thủy lợi, trạm giống, các cơ sở bảo vệ thực vật…) có vai trò ngày càng quan
trọng trong TCLTNN. Sự tập trung cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật trên một
lãnh thổ và góp phần làm cho bộ mặt TCLTNN có nhiều đổi mới.
1.2.3.3. Khoa học công nghệ:
Tiến bộ khoa học trong nông nghiệp phải kể đến những khía cạnh như cơ
giới hóa, hóa học hóa, thủy lợi hóa, điện khí hóa, cuộc cách mạng xanh, công nghệ
sinh học…tất cả những tiến bộ khoa học kĩ thuật đó sẽ làm nâng cao năng suất, sản
lượng cây trồng, vật nuôi, từ đó tác động trực tiếp đến TCLTNN.
Muốn TCLTNN tốt, mang lại hiệu quả cao thì rất cần thiết phải áp dụng sự
tiến bộ của hệ thống khoa học hiện đại, nếu không trong sự phát triển sẽ bị tụt hậu,
khả năng tiếp cận thị trường sẽ ngày càng yếu kém.
1.2.3.4. Thị trường:
của xã hội với sự thống nhất của các thành viên có cùng huyết thống, mà mỗi thành
viên đều có nghĩa vụ và trách nhiệm làm tăng thu nhập, đảm bảo sự tồn tại.
Đặc điểm cơ bản của hộ gia đình
- Về mục đích sản xuất: chủ yếu nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của gia
đình, ít có quan hệ với thị trường.
- Về quy mô đất đai: nhỏ bé, thể hiện tính chất tiểu nông (bình quân diện tích
đất canh tác 2-3 ha/1 hộ). Ở Ấn Độ bình quân diện tích đất canh tác <2ha/hộ,
Philippin < 3ha/hộ, Việt Nam từ 0,5ha/hộ (miền Bắc), 0,6-1 ha/hộ ở đồng bằng sông
Cửu Long. Ở nước ta, hộ gia đình không có quyền sở hữu ruộng đất mà chỉ có
quyền sử dụng.
- Về vốn: đại bộ phận ít vốn, quy mô thu thập nhỏ, khả năng tích lũy thấp
làm hạn chế khả năng đầu tư tái sản xuất. Vật tư được mua phục vụ cho sản xuất từ
tiền bán nông phẩm.
12
- Về kỹ thuật canh tác, công cụ sản xuất: lạc hậu, thô sơ, tính truyền thống.
- Về lao động: chủ yếu sử dụng lạo động gia đình, tự cung tự cấp thỏa mãn
nhu cầu trong gia đình.
-Về mức độ phát triển có thể trải qua các hình thức sau:
+ Nhóm kinh tế hộ sinh tồn: là dạng rất thấp của kinh tế hộ. Sản xuất một vài
nông sản chủ yếu để duy trì sự sống của gia đình, ít vốn, công cụ sản xuất thô sơ,
phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, năng suất lao động thấp. Hiện nay, nhóm này còn tồn
tại ở một số ít dân tộc ít người thuộc các vùng xa xôi hẻo lánh.
+Nhóm kinh tế hộ tự cung, tự cấp: với nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, lạc
hậu, phân tán. Sản xuất chủ yếu để cung cấp lương thực, thực phẩm và một số nông
sản cần thiết khác đáp ứng yêu cầu tiêu dùng cho gia đình.
+Nhóm hộ sản xuất hàng hóa nhỏ: trong quá trình sản xuất, một bộ phận
nông dân làm ăn khá giả, ngoài phần tiêu dùng cho gia đình, còn dư ra một ít sản
phẩm, hộ đã đưa ra thị trường. Khi cung đã vượt cầu, họ đem những sản phẩm thừa
xuất nông sản hàng hóa theo phương thức sản xuất TBCN hoàn toàn sử dụng lao
động làm thuê.
Đặc điểm của trang trại
-Kinh tế trang trại là loại hình sản xuất nông nghiệp được hình thành và phát
triển trong thời kỳ công nghiệp hóa, để sản xuất nông sản phục vụ công nghiệp hóa,
thay thế cho kinh tế tiểu nông sản xuất tự túc.Mục đích của kinh tế trang trại là sản
xuất nông sản hàng hóa theo nhu cầu thị trường, quy mô sản xuất tương đối lớn.
- Quy luật phát triển kinh tế trang trại ở các nước trên thế giới là thời gian bắt
đầu công nghiệp hóa số lượng trang trại tăng, quy mô nhỏ, đến kỳ công nghiệp hóa
phát triển ở mức độ cao thì số lượng trang trại giảm đi và quy mô trang trại tăng lên.
- Kinh tế trang trại lấy sản xuất nông sản hàng hóa là chính xuất phát từ yêu
cầu thị trường mà lựa chọn loại nông sản hàng hóa để sản xuất. Nhìn chung tỷ suất
nông sản hàng hóa ở các trang trại thường chiếm từ 60-100%.
-Các trang trại nông nghiệp có quy mô khác nhau giữa các nước cũng như
trong từng nước và tồn tại lâu dài cả 3 loại trang trại mặc dù có sự biến động hàng
năm. Thông thường các trang trại quy mô lớn sản xuất nhiều nông sản hàng hóa, giá
thành hạ, lợi nhuận nhiều. Còn các trang trại nhỏ, sản xuất ít nông sản hàng hóa, chí
phí sản xuất cao, lợi nhuận thấp. Ví dụ: Quy mô của một trang trại Châu Á là gần
1ha, Tây Âu là 20-30ha, Mỹ là 150-180ha.
-Tư liệu sản xuất: Trong kinh tế trang trại có trường hợp quyền sở hữu và
quyền sử dụng tư liệu sản xuất thống nhất với nhau, có trường hợp quyền sở hữu
tách khỏi quyền sử dụng tư liệu sản xuất.
- Về lao động: phần lớn các trang trại có quy mô từ 1-2 ha đến hàng trăm ha
ruộng đất, trong đó các chủ trang trại đều là lao động chính (vừa quản lý vừa trực
tiếp sản xuất), chỉ thuê lao động thường xuyên hay thời vụ khi cần thiết.
- Trang trại gia đình không sản xuất kinh doanh đơn độc mà thường kết hợp
với các hợp tác xã dịch vụ kinh tế- kỹ thuật và các doanh nghiệp nông nghiệp quốc
doanh để tạo điều kiện thuận lợi cho đầu vào và đầu ra trong sản xuất kinh doanh.
14
1.3.4.Doanh nghiệp nông nghiệp
Khái niệm: DNNN là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở, tức là một đơn vị
hoạt động kinh doanh và phân phối của nền sản xuất xã hội, dựa trên cơ sở hợp tác
và phân công lao động xã hội, gồm một số người lao động, được đầu tư vốn, trang
bị tư liệu sản xuất để tiến hành hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực phù hợp với
yêu cầu của thị trường, được Nhà nước quản lý và bảo vệ theo luật định.
15
Đặc điểm của doanh nghiệp nông nghiệp: tuy là một đơn vị tiến hành hoạt
động sản xuất, kinh doanh trên thị trường nhằm mục đích thu lợi nhuận, nhưng
DNNN có những điểm khác biệt so với DN công nghiệp và DN dịch vụ. Cụ thể là:
-Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu của DNNN: Nếu các DN thuộc các
ngành công nghiệp và dịch vụ muốn tiến hành sản xuất chỉ cần một diện tích đất
không nhiều để có mặt bằng hoạt động, thì DNNN phải cần một diện tích tương đối
lớn để sản xuất, nguồn đất được đưa vào sản xuất chủ yếu là đất mặt, nước mặt…
-Điều kiện tự nhiên với ý nghĩa là nguồn lực “đầu vào” là yếu tố tạo sức cạnh
tranh của DNNN trên thị trường. Đồng thời, nó cũng làm cho cơ cấu sản xuất các
hàng nông sản là rất khác nhau giữa các vùng sinh thái và các địa phương
-Đặc điểm của quá trình sản xuất trong nông nghiệp: Sản xuất nông nghiệp
chịu phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và thời gian để có sản phẩm nông
nghiệp thường phải kéo dài, đặc điểm này chi phối quá trình sản xuất kinh doanh
của DNNN.
-Đặc điểm thị trường của doanh nghiệp nông nghiệp: Sản xuất thường phải
gắn với thị trường, vì thị trường vừa là điều kiện vừa là môi trường của sản xuất
kinh doanh. Thị trường của DNNN không chỉ là những thị trường “đầu vào”, mà
còn có cả thị trường “đầu ra”. Đầu vào của thị trường này, ngoài nguồn lực, DNNN
còn phải cần đến thị trường các yếu tố sản xuất khác như vốn, công nghệ và đặc biệt
là thuê đất phù hợp với đối tượng sản xuất của mình. Đầu ra của DNNN là những
nông sản.
1.4.1. Một số mô hình tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trên Thế giới
Một số trang trại trên Thế giới: Kinh tế trang trại đóng góp quan trọng trong
nền kinh tế của các quốc gia. Ở Pháp, với 98000 trang trại đã sản xuất khối lượng
nông sản gấp đôi so với nhu cầu trong nước. Ở Hà Lan, với 1500 trang trại chuyên
trồng hoa hăng năm sản xuất 7 tỷ bông hoa và 600 triệu chậu hoa, trong đó có 70%
dành cho xuất khẩu. Ở Nhật Bản, với 4 triệu lao động ở trang trại (3,7% dân số)
đảm bảo lương thực thực phẩm cho 125 triệu người. Ở Malaysia, các trang trại sản
xuất 4 triệu tấn cọ dầu (75% sản lượng quốc gia).
Mô hình kinh tế trang trại ở Hoa Kỳ_mô hình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa : Các trang trại ở Mỹ đi vào sản xuất chuyên môn hóa 20 chuyên ngành phân bố
trên 10 vùng sản xuất khác nhau như vành đai ngô, vành đai sữa…nhằm tạo ra ưu
thế cạnh tranh về chất lượng nông sản và giá thành. Các trang trại không hoạt động
đơn độc mà nằm trong hệ thống kinh tế liên ngành mang tên AGRIBUSINESS.
AGRIBUSINESS bao gồm các ngành công nghiệp sản xuất vật tư thiết bị kỹ thuật
nông nghiệp, mạng lưới các trang trại nông nghiệp và các ngành chế biến nông sản,
dịch vụ lưu thông tiêu thụ nông sản trong nước và xuất khẩu.
Băng chuyền sản xuất- lãnh thổ ở Hoa Kỳ: hệ thống băng chuyền địa lý có 2
khâu về sản xuất thịt (sinh sản, nuôi dưỡng, chăm sóc gia súc non) hình thành tự
phát dưới sự ảnh hưởng khác biệt lãnh thỗ về điêù kiện tự nhiên, kinh tế đặc điểm
lịch sử của việc di dân vào thế kỷ XIX. Những nơi sản xuất thịt bò(70% sản lượng)
là các bang phía Tây sông Mixixipi, còn những nơi tiêu thụ (70% số thịt tiêu thụ) là
các bang phía Đông Mixixipi. Dòng gia súc lấy thịt luôn từ bang phía Tây chuyển
về các bang phía Đông.
17
1.4.2. Các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở Việt Nam
1.4.2.1. Hộ gia đình
1/Quy mô
Hộ gia đình vẫn là hình thức tổ chức nông nghiệp chủ yếu của nước ta, đóng
93.5%
6.2%
0.3%
Nông nghiệp
Thủy sản
Lâm nghiệp
93.0%
6.5%
0.5%