Vận động tạo từ, tạo nghĩa của từ ngữ kinh tế trong tiếng Việt hiện đại - Pdf 25

1
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Bàn về vai trò của yếu tố thực tiễn đối với hoạt động nhận thức, Mác cho
rằng “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lí khách quan
hay không, hoàn toàn không phải là vấn đề lí luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính
trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lí”. Lênin cũng đã viết “Quan
điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lí luận về
nhận thức”. Như thế trong bất kì hoạt động nhận thức nào, yếu tố thực tiễn cũng đóng
vai trò là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức đồng thời là thước đo giá trị của
chân lí. Nhận thức rõ quan điểm này, từ trước đến nay những người làm công tác
nghiên cứu khoa học không chỉ vận dụng khoa học để giải thích thực tế mà còn tác
động đối với thực tế theo hướng phục vụ tốt cho đời sống con người. So với các
ngành khoa học kĩ thuật, các ngành khoa học xã hội và nhân văn trong đó có ngôn
ngữ học hướng tác động đối với thực tế thì có phần khó khăn hơn. Muốn tác động
đến thực tế có kết quả cần phải có một hệ thống lý thuyết đúng đắn để chỉ đạo quá
trình nghiên cứu. Ngành ngôn ngữ học Việt Nam trong những năm gần đây cũng cố
gắng hướng các đề tài nghiên cứu gắn với thực tiễn Việt Nam. Nhiều công trình ngôn
ngữ học đã ra đời giải quyết được những vấn đề ngôn ngữ trong đời sống xã hội cũng
như những vấn đề ngôn ngữ của các ngành, các chuyên ngành khác nhau.
1.2. Sau khi đất nước thống nhất (1975), nhất là từ khi Đảng và Nhà nước ta bắt
đầu công cuộc đổi mới (1986), đất nước ta đã có sự chuyển mình phát triển rõ rệt về
mọi mặt. Với phương hướng chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị
trường định hướng XHCN, mở cửa giao lưu văn hóa, trao đổi kinh tế, từng bước hội
nhập với nền kinh tế toàn cầu, nhiều ngành kinh tế mới xuất hiện và phát triển, khơi
dậy những tiềm năng, tiềm lực của đất nước. Bên cạnh những ngành kinh tế có tính
chất truyền thống như nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng còn xuất
hiện các ngành kinh tế thuộc khu vực dịch vụ như tài chính, du lịch, ăn uống, giải trí…
Sự thay đổi và phát triển về kinh tế đòi hỏi phải có những công dân kinh tế, lối tư duy
2
kinh tế và hệ thống ngôn ngữ ngành kinh tế đáp ứng sự phát triển toàn diện của đất

hoa vàng, lúa hương, lúa chiêm chanh, xếp ải… (từ ngữ nông nghiệp); thợ cả, thợ bạn,
dui, kèo, mè, bào, đục, mực, thước… (từ của thợ mộc) ; chài, lưới, mối, giềng, nghề bông,
nghề khơi, mảng, lưới te, lưới dạ, lưới vét… (từ của nghề đánh cá); tầng, trục, ben, tớp
máy, cặm…(từ của công nhân mỏ). Đây là những từ có tính cụ thể, gợi hình ảnh cao. Nó là
sự sáng tạo về ngôn ngữ của quần chúng nhân dân lao động. Nhiều từ ngữ sẽ được chuyển
lên thành thuật ngữ khoa học kỹ thuật khi các ngành nghề này được công nghiệp hóa và
hiện đại hóa. Về các thuật ngữ khoa học, tác giả cũng đã thu thập và trình bày thuật ngữ
của một số ngành khoa học kỹ thuật như Toán học (hình tròn, đường thẳng, mặt phẳng,
góc, cạnh, biên…), Vật lý, Hóa học (pit- tông, xi lanh, dung môi, dung dịch, điện phân,
tích điện…) và một số ngành khoa học xã hội khác (triết học, ngữ ngôn, thành tố, giá trị,
kinh tế, ngoại giao, duy vật…). Hai mươi năm sau, trong giáo trình “Từ vựng – ngữ nghĩa
tiếng Việt” (1981), phần viết về từ nghề nghiệp và thuật ngữ khoa học kỹ thuật, tác giả đã
tập hợp thêm những từ ngữ của ngành giấy, nghệ thuật hát bội, ngành văn thư… Riêng ở
phần viết về thuật ngữ, tác giả đưa ra một số từ ngữ của những ngành khoa học kỹ thuật
mới xuất hiện như ngành dệt, ngành luyện kim đen, ngành sinh học: tai thỏ, đuôi lợn, mai
rùa… lò chõ, thép gió, thép hợp kim, cán, buồng lửa, buồng sinh khí, quặng thiêu kết, liệu
sống, liệu chín , dập nóng… tế bào, mô, gien, kháng thể, di truyền, tính trội, tính lặn v.v.
Đồng thời tác giả cũng phân tích kỹ các đặc trưng của thuật ngữ và chỉ ra phương hướng
xây dựng thuật ngữ khoa học tiếng Việt dựa trên tính hệ thống về ngữ nghĩa của kiểu cấu
tạo từ tiếng Việt.
Nguyễn Văn Tu trong giáo trình “Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại” (1976) cũng
đã nói đến và tập hợp các từ vựng thuật ngữ ở phần “Thuật ngữ và từ thường”, trong đó
chú ý tới thuật ngữ của các ngành y học, hóa học, vật lý và một số ngành khoa học xã
hội nhân văn khác như chính trị, triết học, kinh tế…
Nguyễn Thiện Giáp trong giáo trình “Từ vựng học tiếng Việt” xuất bản năm 1985
đã dành một số trang nhất định để phân tích từ vựng tiếng Việt về mặt phạm vi sử dụng và
4
mức độ sử dụng. Bằng phương pháp thống kê, phân loại tỉ mỉ, tác giả đã tập hợp một loạt
các từ ngữ nghề nghiệp. Thuộc nghề nông có cày vỡ, cày ải, bón lót, bón thúc, gieo thẳng,
gieo vãi, lúa chia vè, lúa con gái… Thuộc nghề dệt có xa, ống, suốt, thoi, cữ, go, trục,

sống kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa Việt Nam. Bài báo “Bước đầu nhận xét về cách
sử dụng từ ngữ mới trên báo Nhân dân từ 1986 – 2000” của Bùi Thị Thanh Lương đã
phân tích 1144 từ mới về nguồn gốc (từ thuần Việt, từ vay mượn) và cấu tạo (từ ghép,
từ láy, từ đơn, cụm từ cố định) từ đó đưa ra một số nhận xét sơ bộ về mặt định lượng
và định tính đồng thời chỉ ra nét riêng biệt, đặc điểm mang tính đặc trưng của báo
Nhân dân. Bài báo “Một số nhận xét về cách sử dụng từ ngữ mới trong báo Sài Gòn
giải phóng (qua các số báo phát hành từ năm 1985 đến nay)” của tác giả Chu Bích Thu,
Nguyễn Thu Huyền cũng dựa trên các tiêu chí về nguồn gốc, phương thức cấu tạo và
cách sử dụng từ ngữ trong Sài Gòn giải phóng để xem xét, phân tích 1212 từ ngữ mới.
Cách khảo sát tư liệu và những tiêu chí chủ đạo trong việc phân tích và miêu tả tư liệu
như trên cũng được áp dụng cho hàng loạt bài báo tham gia dự án này như “Một số
nhận xét về cách sáng tạo và sử dụng từ ngữ mới trên báo Hà Nội mới” của Chu Bích
Thu và Ngô Thị Thu Hương, “Một số nhận xét về cách sử dụng từ ngữ mới trên tư liệu
báo Đại đoàn kết (giai đoạn 1986 – 2000)” của nhóm tác giả Chu Bích Thu, Bùi Thị
Thanh Lương, Phạm Anh Tú, Nguyễn Thị Huyền, Trần Hương Thục, “Một số nhận xét
về cách sử dụng từ ngữ mới trong báo Lao động (nguồn tư liệu dựa vào một số báo
phát hành từ năm 2000 đến 2004) của Nguyễn Thúy Khanh và Nguyễn Thị Lan
Hương… Về cơ bản, tất cả những bài báo tham gia dự án này đều có chung một số
nhận xét: 1/ Về cấu tạo, từ ngữ mới trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2004 chủ yếu là
từ ghép có cấu tạo chính phụ “đi vào chi tiết hóa những sự vật, hiện tượng trong cuộc
sống mới nảy sinh”. 2/ Vay mượn từ các ngôn ngữ khác để làm phong phú thêm ngôn
ngữ của mình là một xu hướng phát triển tất yếu hợp với thời đại. 3/ Bản chất cách
sáng tạo và sử dụng từ ngữ mới trên các báo vẫn nằm trong xu hướng phát triển chung
của tiếng Việt. Cũng phải nói rằng, trong hệ thống những từ ngữ mới được khảo sát
6
trên các báo Nhân dân, Lao động, Hà Nội mới, An ninh thủ đô, Công an nhân dân,
Quân đội nhân dân… những từ ngữ chuyên ngành kinh tế chiếm một số lượng nhất
định (tùy theo đặc trưng của từng loại báo). Thí dụ: công ty mẹ, công ty con, biểu phí,
lương cứng, khớp lệnh, sàn giao dịch, áp giá, vốn đối ứng, thị phần, ứng xuất, gói dịch
vụ, thẻ tín dụng, dòng thuế… (Lao động); cảnh sát kinh tế, nợ đọng, tồn đọng, sức đầu

riêng tuy còn nhiều yếu tố chưa được đề cập nhưng cũng đã giúp cho người nghiên cứu
ngôn ngữ có một cái nhìn tương đối toàn diện về “bức tranh” từ vựng hiện nay đặc biệt
là vốn từ vựng trong những chuyên ngành hẹp.
Đề tài “Vận động tạo từ, tạo nghĩa của từ ngữ kinh tế trong tiếng Việt hiện đại”
của chúng tôi tiếp tục theo hướng nghiên cứu gắn với thực tế sử dụng từ ngữ kinh tế.
Chúng tôi tập trung phân tích hệ thống những từ ngữ đang được sử dụng, những từ ngữ
“sống” trong lĩnh vực này về đặc điểm cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa. Khẳng định
những phương thức cấu tạo từ, những kiểu cấu tạo từ của tiếng Việt có tính năng sản từ
ngữ cao cũng như những chuyển đổi, chuyển hóa về mặt ngữ nghĩa của từ để tạo ra
những từ ngữ mới trong kinh tế, từ đó hướng tới việc lựa chọn, xây dựng, thống nhất,
chuẩn hóa hệ thống từ ngữ ở lĩnh vực này.
3. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài khảo sát các từ ngữ trong lĩnh vực kinh tế trong khoảng mươi lăm năm lại
đây nhất là những năm đất nước ta đang trên đà đổi mới, mở cửa, hội nhập và phát triển.
Trên cơ sở những ngữ liệu đã thống kê được, đề tài tập trung miêu tả và phân loại các từ
ngữ kinh tế về phương diện cấu tạo cũng như về đặc điểm ngữ nghĩa nhằm góp phần
khẳng định sự ý thức hóa vận động tạo từ cũng như sự chuyển đổi về ngữ nghĩa của từ
trong quá trình tạo lập các thuật ngữ khoa học. Từ đó, đề tài cũng góp một phần nhỏ
hướng tới việc chuẩn hóa thuật ngữ khoa học tiếng Việt, biên soạn các cuốn từ điển từ mới
tiếng Việt cũng như nghiên cứu sự phát triển của từ vựng tiếng Việt nói chung.
8
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về vấn đề cấu tạo từ và ý nghĩa của từ trên cơ sở tập hợp và
lý giải những ý kiến nhận xét tiêu biểu của các nhà Việt ngữ học về từ vựng tiếng Việt.
Đồng thời xem xét và tìm hiểu về sự phát triển của từ vựng tiếng Việt và tình hình
nghiên cứu từ vựng tiếng Việt hiện nay.
- Tiến hành thu thập và thống kê tư liệu nghiên cứu. Tư liệu này là những từ ngữ
đang được sử dụng trong ngành kinh tế xuất hiện trong khoảng mười lăm năm lại đây.
Những từ ngữ này được thu thập từ sách vở, báo chí, các phương tiện thông tin đại

3. Khu vực dịch vụ: giao thông, tài chính, ăn uống, du lịch, giải trí…
4. Khu vực tri thức
4.2.2. Từ ngữ kinh tế là những từ, những cụm từ phản ánh đối tượng kinh tế, đặc
trưng của hoạt động kinh tế trong các khu vực, các ngành kinh tế. Trong đề tài này,
chúng tôi ưu tiên xem xét những từ ngữ thuộc khu vực dịch vụ, khu vực thứ ba của nền
kinh tế với một số ngành cơ bản như xây dựng, thương mại, tài chính, ngân hàng… (tất
nhiên trong tư liệu thu thập cũng có một số từ ngữ thuộc các khu vực kinh tế khác).
Bởi đây là những ngành có sự tăng trưởng lớn trong nền kinh tế nước ta nói riêng và
các quốc gia công nghiệp tiến tới xã hội hậu công nghiệp nói chung.
Từ ngữ kinh tế được xem xét trong đề tài này cũng là những từ ngữ xuất hiện
trong khoảng mười lăm năm lại đây. Lựa chọn giai đoạn phát triển về từ ngữ kinh tế
trong khoảng mười lăm năm (từ năm 2000) là bởi từ những năm 2000 Việt Nam tiếp
tục có các bước tiến mới trong công cuộc cải cách nền kinh tế như việc thúc đẩy tiến
trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, hình thành Sở giao dịch chứng khoán, ban
hành Luật doanh nghiệp…
4.2.3. Để xây dựng bảng từ ngữ trong các ngành kinh tế, chúng tôi đã khảo sát
ngữ liệu trên báo chí, các phương tiện thông tin và thực tiễn đời sống xã hội. Nguồn
ngữ liệu chính của đề tài được lấy từ báo chí với tổng số 200 số báo viết trên một số
đầu báo về kinh tế như Thời báo kinh tế Việt Nam, Thời báo Ngân hàng, Công thương,
10
Tiền tệ và đầu tư, Nông nghiệp Việt Nam… và các tờ báo mạng như vneconomy.com,
baodautu.vn, dantri.com.vn, thoibaonganhang.vn, vnexpress.net, tin180.com,
vietnamnet.vn… được xuất bản từ năm 2000 (đặc biệt là từ năm 2005 trở lại đây).
Nguồn ngữ liệu thứ hai có tác dụng bổ trợ cho nguồn ngữ liệu chính là những từ
ngữ được thu thập trên các bản tin truyền hình như bản tin Việt Nam và các chỉ số, bản tin
Tài chính và các bản tin về kinh tế trên đài phát thanh. Thêm vào hai nguồn ngữ liệu này là
một số từ ngữ về kinh tế được sử dụng trong thực tế đời sống. Đây là những ngữ liệu sinh
động, sống động. Trong những từ ngữ kinh tế này, chúng tôi cũng thu thập một số từ ngữ
trong các cuốn từ điển kinh tế được dùng trong thực tế với tần suất cao.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Những thông tin này đảm bảo tính chính xác về mặt xuất xứ cũng như sự rõ
ràng về mặt ngữ nghĩa.
Quá trình nghiên cứu được tiến hành cụ thể theo các bước sau:
Bước 1: Nghiên cứu lý luận để nắm chắc những vấn đề về cấu tạo từ của tiếng
Việt như đơn vị cấu tạo từ, phương thức cấu tạo từ, các kiểu loại từ; những vấn đề về ý
nghĩa của từ như các thành phần ý nghĩa trong từ, nét nghĩa, hiện tượng nhiều nghĩa, sự
chuyển biến ý nghĩa cũng như trường nghĩa và hiện tượng chuyển trường nghĩa của từ.
Bước 2: Tiến hành thu thập, thống kê tư liệu nghiên cứu. Đây là các từ ngữ
được sử dụng trong ngành kinh tế hiện nay (số lượng xuất hiện, nghĩa các từ ngữ, ghi
chú xuất xứ, nguồn tư liệu của các từ ngữ).
Bước 3: Tiến hành nghiên cứu, xử lý các tư liệu thống kê trên các mặt: số lượng
từ ngữ xuất hiện trong các loại và các nhóm nhỏ trong loại; miêu tả các từ ngữ đó trên
cơ sở của đặc điểm cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa; xác định những kiểu tạo nghĩa và
tạo từ có tính chất năng động sản sinh cao; chỉ ra những xu hướng phát triển hiện nay
và từ nay về sau.
Bước 4: Tiến hành viết luận án và tóm tắt.
12
6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
6.1. Về mặt lí luận
Luận án góp phần phát hiện thực tế, giải thích thực tế ngôn ngữ và phát triển lý
luận cấu tạo từ và tạo nghĩa của từ. Những kết quả nghiên cứu cũng là một minh chứng
hùng hồn cho sức sống của tiếng Việt, khả năng thích ứng của nó với những nhu cầu
xã hội đặc biệt ở những khu vực thực tế ngôn ngữ trước kia chưa có ở Việt Nam do đó
khả năng của tiếng Việt chưa được thử thách.
6.2. Về mặt thực tiễn
Luận án cung cấp một hệ thống từ ngữ kinh tế hiện nay, phân tích và chỉ ra
những vận động để làm giàu hệ thống từ ngữ kinh tế. Từ đó mong muốn góp phần
hướng tới việc xây dựng hệ thống thuật ngữ kinh tế nước nhà.
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu, tài liệu

cách cơ bản. Thứ nhất là vận động tạo từ bằng các phương thức cấu tạo từ của tiếng Việt
tức là vận động trên các nguyên liệu và phương thức cấu tạo từ, “nguồn nội lực” của tiếng
14
ta. Thứ hai là vận động vay mượn từ của các ngôn ngữ tiếp xúc với tiếng Việt tức là sử
dụng những từ ngữ vay mượn để làm phong phú hệ thống từ ngữ.
1.1.1. Vận động tạo từ bằng các phương thức cấu tạo từ của tiếng Việt
Xem xét về quá trình vận động cấu tạo từ ngữ tiếng Việt, chúng ta cần phải nhìn lại
một cách tổng thể bức tranh cấu tạo từ ngữ nói chung và từ ngữ tiếng Việt nói riêng. Cấu
tạo từ là một bộ môn nghiên cứu các vận động trong lòng hệ thống để tạo ra các đơn vị của
hệ thống. Theo Yu Stepanov có thể coi bộ môn cấu tạo từ là một địa hạt giúp ngôn ngữ
học trả lời câu hỏi “những từ mới được tạo như thế nào trong ngôn ngữ”.
Tiếp thu những thành tựu nghiên cứu về cấu tạo từ trên thế giới, các nhà Việt ngữ
học cũng đi sâu xem xét cấu tạo từ của tiếng Việt hiện nay trong các công trình viết về
từ vựng học tiếng Việt. Có thể kể tới Đỗ Hữu Châu với “Giáo trình Việt ngữ” tập 2
phần Từ hội học (1962), “Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt” (1981), “Các bình diện của
từ và từ tiếng Việt” (1986); Nguyễn Tài Cẩn với “Ngữ pháp tiếng Việt tiếng – từ ghép
– đoản ngữ” (1975), Nguyễn Văn Tu với “Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại” (1976), Hồ
Lê với “Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại” (1976), Nguyễn Thiện Giáp với “Từ
vựng học tiếng Việt” (1985), “Từ và nhận diện từ tiếng Việt” (1996), “Vấn đề từ trong
tiếng Việt” (2011)… Sự nghiên cứu về cấu tạo từ của từ vựng tiếng Việt ở các tác giả
này theo chúng tôi có thể chia thành hai khuynh hướng lớn: khuynh hướng dựa vào
quan hệ ngữ pháp giữa các hình vị và khuynh hướng dựa vào tính chất của các hình vị.
Khuynh hướng thứ nhất có các tác giả Đỗ Hữu Châu (1962), Nguyễn Văn Tu (1976),
Nguyễn Tài Cẩn (1975). Khuynh hướng thứ hai có các tác giả Hồ Lê (1976), Đỗ Hữu
Châu (1981, 1986). Tuy có những khác nhau về việc xem xét các từ ngữ về phương
diện cấu tạo nhưng các tác giả nghiên cứu đều có những điểm thống nhất ở một số khái
niệm như đơn vị cấu tạo, kiểu cấu tạo, các loại từ được phân chia về cấu tạo.
Khi xem xét về vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt, chúng tôi đặc biệt chú ý đến quan
điểm, tư tưởng của Đỗ Hữu Châu trong“Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt” (1981), “Các
bình diện của từ và từ tiếng Việt” (1986). Theo Đỗ Hữu Châu “từ - cấu tạo, xét ở mặt

16
dùng để cấu tạo ra các từ theo các phương thức cấu tạo từ của tiếng Việt” [5, 28]. Hồ
Lê cho rằng “Trong các ngôn ngữ, ở cấp độ tín hiệu, đều có một loại đơn vị có tôn ti
dưới từ. Đó là những đơn vị có nghĩa nhỏ nhất, có chức năng trực tiếp cấu tạo từ. Tôi
đã từng gọi đó là nguyên vị” [56, 17]. Nguyễn Kim Thản thì viết “Từ tố là yếu tố có ý
nghĩa (từ vựng) nhỏ nhất của ngôn ngữ. Từ tố tuy là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ,
nhưng không quan trọng cho việc đặt câu bằng từ” [92,82]. Quan niệm thứ hai là quan
niệm của đa số các nhà Việt ngữ học khi cho rằng hình vị tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất
có nghĩa của ngôn ngữ. Quan niệm này cũng chính là quan niệm về hình vị của L
Bloomfield “Hình vị là hình thái (mang ý nghĩa) lặp đi lặp lại. Nó không thể lại được
phân chia thành những hình thái (mang ý nghĩa) nhỏ hơn”. Nguyễn Tài Cẩn cũng nhất
quán với quan niệm này khi cho rằng ““Hình vị là đơn vị nhỏ nhất, đơn giản nhất về
mặt tổ chức mà lại có giá trị về mặt ngữ pháp” [3, 11]. V.M. Solncev và Trần Ngọc
Thêm theo quan niệm thứ ba về hình vị. V.M. Solncev viết “Hình vị được hiểu là đơn
vị hai mặt, không phân nhỏ thành những bộ phận có nghĩa và không có tính độc lập cú
pháp” [89, 10]. Trần Ngọc Thêm cũng khẳng định “Hình vị là một đơn vị ngôn ngữ, có
nghĩa, nhỏ nhất và không độc lập về cú pháp” [98, 54].
Với cách tiếp cận coi từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ như truyền thống ngôn ngữ
học đã làm, chúng tôi lựa chọn quan niệm thứ nhất về hình vị với chức năng cơ bản của
nó là chức năng cấu tạo từ.
b) Đặc trưng cơ bản của hình vị tiếng Việt
Khác với các ngôn ngữ Ấn Âu, đại bộ phận hình vị trong tiếng Việt trùng với âm
tiết, tiếng (theo truyền thống ngữ văn Việt Nam) và từ đơn. Nói khác đi ranh giới của
hình vị cũng là ranh giới của âm tiết, của tiếng và từ đơn. Đặc điểm này là kết quả của
đặc trưng gốc về loại hình đơn lập của từ tiếng Việt – sự phân tiết tính. Nguyễn Tài
Cẩn viết “Ở tiếng Việt, giữa hình vị và âm tiết có một mối tương quan rõ rệt… trên đại
thể, hình vị kiểu Việt Nam trùng với âm tiết” [3, 38]. Cao Xuân Hạo cũng khẳng định
“Trong tiếng Việt, tiếng vừa là âm vị, vừa là hình vị, vừa là từ và nếu ta có thể hình
dung một ngôn ngữ Âu châu như một cơ chế hoạt động trên ba cái trục chính – âm vị,
17

Xác định được hình vị cơ sở thì xác định được chúng” [5, 32]. Trường hợp hai trong
các từ như ốc bươu, diều hâu, bọ xít, sâu róm… “Ốc”, “diều”, “bọ”, “sâu” là âm tiết có
nghĩa cho nên là hình vị còn “bươu”, “hâu”, “xít”, “róm” ở trạng thái hiện nay tự thân
không có nghĩa, tuy nhiên vẫn coi là hình vị bởi có thể giả định rằng (những yếu tố
này) sau khi được sản sinh ra theo quy tắc chung thì trong quá trình sử dụng rất có thể
chịu tác động của những quy tắc khác như quy tắc lịch sử, quy tắc hành chức mà có sự
“chỉnh hình ngữ nghĩa” biến đổi và dẫn tới mất nghĩa.
Đặc trưng thứ hai của hình vị tiếng Việt theo chúng tôi là đặc trưng gắn liền với chức
năng cấu tạo từ. Muốn tạo ra các từ thì hình vị phải là đơn vị tự thân có nghĩa. Cái nghĩa
tự thân của hình vị chính là nghĩa từ vựng. Chính đặc trưng này đã loại bỏ tất cả những
hình vị có ý nghĩa bổ sung, nghĩa phân biệt trong từ láy (“đẽ” trong “đẹp đẽ”, “rãi” trong
“rộng rãi”, “dàng” trong “dễ dàng”…), trong từ ghép (“bươu” trong “ốc bươu”, “nẹt”
trong “bọ nẹt”, “núc” trong “bếp núc”…) và hình vị có ý nghĩa ngữ pháp. Nói khác đi
những hình vị này chỉ tồn tại trong những từ đã sinh ra còn từ nay về sau chúng không còn
có thể là “nguyên liệu” để tạo từ mới, chúng đã mất đi năng lực cấu tạo từ.
c) Phân loại hình vị tiếng Việt
Việc phân loại hình vị trong tiếng Việt từ trước đến nay đã được các nhà Việt ngữ học
đề cập và nghiên cứu khá tỉ mỉ (xem bảng 1.1 [23,23]). Phần lớn các nhà nghiên cứu đều
căn cứ vào tiêu chí chức năng – ngữ nghĩa để phân loại. Bởi xét đến cùng đây là tiêu chí
có tính bản chất, quyết định chức năng chung của hình vị, chức năng cấu tạo từ.
Xét về ý nghĩa, hình vị trong tiếng Việt được phân biệt thành hình vị thực (hay hình
vị từ vựng) và hình vị hư (hay hình vị ngữ pháp). Hình vị thực là những hình vị biểu
hiện các ý nghĩa từ vựng như người, nhà, cây, xe, đi, học, tốt, năm, quốc, thủy, sơn…
Hình vị hư là những hình vị biểu hiện các ý nghĩa ngữ pháp như đã, hãy, chớ, rất, vì…
Xét về năng lực cấu tạo từ, hình vị tiếng Việt được phân biệt thành hình vị độc lập và
hình vị không độc lập. Hình vị độc lập là hình vị có khả năng được từ hóa thành từ như
người, đi, chạy, tốt, sẽ, chứ… Hình vị không độc lập là hình vị cho đến nay chưa được từ
19
hóa thành từ tức là nó chỉ làm một bộ phận trong từ như hình vị láy trong từ láy (làm lụng,
đẹp đẽ, vất vả, lung tung…); hình vị gốc Hán mà mức độ Việt hóa còn thấp (lính thủy,

20
Một sự phân loại khác cũng phải nói tới là sự phân loại của Hồ Lê trong công trình
“Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại” (1976). Tác giả gọi các hình thức ngữ âm
có nghĩa, nhỏ nhất là các nguyên vị (hình vị) và theo ông trong tiếng Việt có sáu loại
nguyên vị chính: nguyên vị thực, nguyên vị ngữ pháp, nguyên vị hệ thống, nguyên vị
tiềm tàng, nguyên vị tình cảm, nguyên vị mục đích. Từ sáu loại này, tác giả đưa ra các
loại nguyên vị trung gian: nguyên vị thực – ngữ pháp, nguyên vị thực – hệ thống,
nguyên vị ngữ pháp – hệ thống, nguyên vị thực – tiềm tàng và có hai loại chưa thật rõ
ràng là nguyên vị thực – tình cảm, nguyên vị thực – mục đích. Rõ ràng sự phân loại
này là sự phân loại dựa trên tính chất ngữ nghĩa của các nguyên vị tuy nhiên theo
chúng tôi đây chỉ là sự phân loại giúp chúng ta có được cái nhìn hệ thống chứ chưa làm
rõ chức năng cấu tạo từ của các nguyên vị (dẫu rằng trong khi phân loại tác giả cũng
gắn các nguyên vị với các mẫu cấu tạo từ). Đó là chưa kể sự phân loại này khá phức
tạp, nhiều chỗ chưa rõ ràng, vì thế chưa có tác dụng nhất định đối với thực tế ngôn
ngữ.
Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Từ và nhận diện từ tiếng Việt”, “Vấn đề từ trong
tiếng Việt” phân loại cụ thể hơn tư cách từ của các tiếng. Theo tác giả, trong tiếng Việt
có 5 loại tiếng với những đặc điểm khác nhau:
-Những tiếng mang ý nghĩa thực, có tính độc lập cao về ngữ pháp như nhà,
đi, đẹp…
-Những tiếng mang ý nghĩa hư, có tính độc lập nhất định về ngữ pháp như
vì, tuy, nhưng, sẽ…
-Những tiếng Hán Việt có khả năng làm thành phần câu như vận, động,
gia, đình…
-Những tiếng mờ nghĩa và trống nghĩa có thể làm thành phần câu trong
điều kiện hạn chế như lè (xanh), chiền (chùa), mênh, mông…
-Những tiếng không độc lập về ngữ pháp như bồ, hóng, mặc, cả…
Ngoại trừ trường hợp cuối cùng được xếp vào những từ ngữ phản quy tắc, Nguyễn
Thiện Giáp cho rằng tiếng Việt chỉ gồm 4 kiểu tiếng, từ kiểu thứ nhất đến kiểu thứ tư
và mỗi kiểu tiếng cũng thỏa mãn tiêu chuẩn về từ ở những mức độ khác nhau.

cấu tạo từ thấp. Những hình vị có khả năng cấu tạo từ cao là những hình vị có thể đi
vào nhiều phương thức, nhiều kiểu cấu tạo để tạo ra được nhiều từ mới hơn như các
hình vị chỉ loại lớn cá (cá nục, cá mòi, cá ngừ, cá voi…), máy (máy bơm, máy may,
máy nổ, máy móc…), làm (làm thuê, làm mướn, làm duyên…)… Những hình vị có khả
năng cấu tạo từ thấp là những hình vị tạo ra số lượng các từ mới ít hơn như trườn,
lươn… Từ quan niệm như trên, các bước phân loại hình vị tiếng Việt của tác giả lần
lượt được vận dụng: bước 1 phân chia thành các hình vị có khả năng cấu tạo từ (hình vị
độc lập, thực, có nghĩa) và các hình vị không có khả năng cấu tạo từ (hình vị láy, hình
vị đã mất nghĩa trong từ ghép); bước 2 đến lượt các hình vị có khả năng cấu tạo từ
phân chia thành các hình vị có khả năng cấu tạo từ cao và các hình vị có khả năng cấu
tạo từ thấp như đã dẫn ở trên. Cách phân loại này bao quát được cả hai cách phân loại
phổ biến đã nói ở trên (độc lập / không độc lập, thực / hư). Từ đó Đỗ Hữu Châu khẳng
22
định “Phân loại hình vị theo khả năng cấu tạo từ thì mới có thể dùng sự phân loại đó để
lý giải các sự kiện cấu tạo từ”[5, 36]. Đây là cách phân loại tương đối đơn giản và dễ
ứng dụng vào thực tế, có khả năng lý giải thực tế. Chúng tôi chọn cách phân chia này
để xem xét những vấn đề tạo từ trong luận án.
1.1.1.2. Phương thức cấu tạo từ
Như đã nói, cấu tạo từ là một quá trình “động”, là “bộ máy chuyên chế tạo ra
các từ” [7, 66] cho nên nói đến cấu tạo từ không chỉ nói tới nguyên liệu tạo từ (hình
vị) mà còn phải nói tới các phương thức cấu tạo từ. Theo Đỗ Hữu Châu “Phương thức
cấu tạo từ là những cơ chế, những quá trình xử lý các nguyên liệu hình vị để cho ta các
từ của ngôn ngữ” [7, 66]. Phương thức cấu tạo từ không phải là một cỗ máy có tính
chất độc lập mà nó có mối quan hệ chặt chẽ với hình vị (tức nguyên liệu ở đầu vào) và
từ mới (tức sản phẩm ở đầu ra). Nói khác đi đây là mối quan hệ bộ ba chặt chẽ mà mỗi
thành tố đều có giá trị và sự tác động nhất định. Mỗi phương thức cấu tạo đòi hỏi
những hình vị thích hợp với mình cũng như biết hình vị thuộc loại nào thì cũng có thể
đoán biết phương thức xử lý chúng là phương thức nào (quan hệ phương thức – hình
vị). Nhờ phương thức cấu tạo xử lý hình vị mà các từ mới được tạo ra cho nên nhìn vào
các từ mới với những đặc trưng đồng nhất – khác biệt người ta có thể phân biệt từ sản

Ba phương thức này tạo ra ba loại từ cơ bản cho tiếng Việt: từ đơn (phương thức từ
hóa hình vị), từ láy (phương thức láy hình vị) và từ ghép (phương thức ghép hình vị).
Xét ở trạng thái hiện nay, phương thức từ hóa hình vị đã làm xong nhiệm vụ của mình
tức là nó đã “từ hóa” hết các hình vị rời, có nghĩa vì thế phương thức này không còn
vai trò “tiên phong” trong việc sản sinh ra các từ, nếu có thì chỉ tác động ở một khu
vực hẹp hơn. Đó là “từ hóa” các yếu tố vay mượn của tiếng nước ngoài theo con đường
“âm tiết hóa” (ra – di- o, a – xít, ban – công, ti – vi…); từ hóa các yếu tố mô phỏng âm
thanh (cạch, đốp, đét, bịch…) và từ hóa các yếu tố của từ phức theo con đường rút gọn
(tổng số → tổng, phẫu thuật → phẫu, te - le - phon → phôn…). Cũng như từ hóa hình
vị, phương thức láy hình vị hiện nay tạo ra được ít từ láy cho hệ thống từ vựng vì
“nguyên liệu” của láy không dễ tìm mặc dù phương thức ấy vẫn còn tác dụng. Phương
Láy hình vị
A →A'; A + A'
Ghép hình vị
A + B (b)
24
thức ghép hình vị là phương thức hiện nay đang phát huy tác dụng tạo từ rất lớn. Nhờ
phương thức ghép, từ ngữ trong tiếng Việt đã tăng lên mạnh mẽ và phong phú đáp ứng
đòi hỏi của sự phát triển của thực tế khách quan và nhu cầu giao tiếp của con người.
Phương thức ghép với các kiểu ghép năng động đang sản sinh ra các từ mang tính thế
hệ rất cao đã góp phần bù đắp chỗ “bất cập” của phương thức từ hóa hình vị và phương
thức láy hình vị. Tất nhiên cũng phải nói rằng, về phương thức từ hóa hình vị, một
phương thức tạo từ mà Đỗ Hữu Châu đưa ra, sau này được Hoàng Văn Hành tán đồng,
một số nhà ngôn ngữ học chưa hoàn toàn nhất trí về sự tồn tại của nó. Nguyễn Đức
Tồn cho rằng “khi một âm tiết nào đó đã có thuộc tính bản thể là từ thì người ta chẳng
cần phải sử dụng phương thức tạo từ nào đó tác động vào bản thân âm tiết – hình vị ấy
để “làm cho nó có những đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ
mà không thêm bớt gì cả vào hình thức của nó” hay cũng không cần (trong trường hợp
âm tiết đã vốn là từ) và cũng không thể (trong trường hợp âm tiết chỉ là hình vị, không
thể là từ) “cấp (cho âm tiết là hình vị) những đặc trưng nào đó về ngữ âm, ngữ nghĩa và

ghép thành từ ghép nghĩa, từ ghép láy âm và từ ghép ngẫu hợp. Từ ghép nghĩa là từ
ghép trong đó các thành tố trực tiếp được kết hợp với nhau theo quan hệ ý nghĩa. Từ
ghép láy âm là từ ghép các thành tố trực tiếp được kết hợp lại với nhau theo quan hệ
ngữ âm. Còn từ ghép ngẫu hợp là từ ghép trong đó các thành tố trực tiếp được kết hợp
với nhau một cách ngẫu nhiên. Với việc phân chia thành ba loại từ như trên, tác giả
dường như đã xóa nhòa sự khác nhau cơ bản giữa các phương thức mà cho rằng đây
đều là sự ghép lại của các thành tố, mặc dù có chú ý tới tiêu chuẩn quan hệ giữa các
thành tố. Vì thế “nó đã không chú ý đầy đủ đến các cơ chế tạo nghĩa của các phương
thức tạo từ và của các kiểu nhỏ trong một phương thức, do đó tự nó đã không vạch
được hướng đi cho những sự tìm tòi về ngữ nghĩa cấu tạo” [7,148]. Điều đó cũng được
phản ánh trong việc phân chia các kiểu nhỏ trong loại như phân chia từ ghép nghĩa
thành từ ghép phụ nghĩa (tương đương với từ ghép có cấu tạo chính phụ) và từ ghép
láy nghĩa (tương đương với từ ghép có cấu tạo bình đẳng).

Trích đoạn HIỆN TƯỢNG CHUYỂN NGHĨA CỦA TỪ NGỮ KINH TẾ Ẩn dụ hình thức Ẩn dụ cách thức Ẩn dụ tính chất Ẩn dụ chức năng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status