ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ LÀ
BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KHÁI NIỆM
TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG I:
CHUYỂN HOÁ VẤT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG
VÀ CHƯƠNG IV: SINH SẢN- SINH HỌC 11
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
:
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Nguyễn Đức Thành
HÀ NỘI- 2008
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TRONG LUẬN VĂN CHC : Chất hữu cơ
ĐC : Đối chứng
ĐVĐ : Đặt vấn đề
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
KN : Khái niệm
NLAS : Năng lượng ánh sáng
NL : Năng lượng
Nxb : Nhà xuất bản
PPDH : Phương pháp dạy học
PTDH : Phương tiện dạy học
PTTQ : Phương tiện trực quan
QH : Quang hợp
1.1.2. Khái niệm sinh học 11
1.1.3. Các con đường hình thành khái niệm 13
1.1.4. Thuyết phát triển khái niệm 18
1.1.5. Các hướng phát triển khái niệm 20
1.2. Cơ sở thực tiễn 21
1.2.1. Thực trạng dạy và học kiến thức khái niệm 21
1.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế chất lượng lĩnh hội kiến thức khái niệm
SH 25 Chƣơng 2: BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KHÁI NIỆM
TRONG DẠY HỌC CHƢƠNG I " CHUYỂN HOÁ VẬT CHẤT VÀ NĂNG
LƢỢNG" VÀ CHƢƠNG IV " SINH SẢN"- SH 11 THPT
2.1. Phân tích nội dung chƣơng I " Chuyển hoá vật chất và năng lƣợng" và
chƣơng IV " Sinh sản" 27
2.2. Các khái niệm trong chƣơng I " Chuyển hoá vật chất và năng lƣợng" và
chƣơng IV " Sinh sản" 32
2.3. Biện pháp hình thành và phát triển các khái niệm trong chƣơng I " chuyển
hoá vật chất và năng lƣợng" và chƣơng IV "Sinh sản" 35
2.3.1. Các bước hình thành khái niệm 35
2.3.2. Các bước phát triển khái niệm 39
2.3.3. Biện pháp hình thành và phát triển khái niệm trong chương I và IV–Sinh
học 11 51
2.3.4. Vận dụng biện pháp hình thành và phát triển KN vào dạy học chƣơng I
và chƣơng IV- Sinh học 11 THPT 59
Chƣơng 3- THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 71
3.1. Mục đích thực nghiệm 71
3.2. Nội dung thực nghiệm 71
3.3. Phƣơng pháp thực nghiệm 71
3.3.1. Chọn trường, lớp thực nghiệm 71
Hoà, THPT Phan Đăng Lưu, THPT Lê Quý Đôn, THPT Ngô
Quyền, THPT Tiên Lãng, THPT Đồ Sơn- Hải Phòng đã giúp đỡ
và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này.
Luận văn đã thu được những kết quả nghiên cứu bước đầu.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc hẳn không tránh khỏi
những mặt còn hạn chế. Kính mong được sự góp ý của các nhà
khoa học, các thầy giáo, cô giáo và bạn đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, tháng 11 năm 2008
Tác giả
3
PHẦN I- MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Xuất phát từ những yêu cầu đổi mới Giáo dục
Như chúng ta đã biết, nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là đào tạo
những con người và thế hệ trẻ có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, phát
huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy
tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học, công nghệ hiện đại, có tư duy
sáng tạo … Nghị quyết TW 2 khoá VIII và Nghị quyết TW 6 khoá IX của Đảng
cộng sản Việt Nam xác định chiến lược phát triển giáo dục năm 2001-2010: “ Giáo
dục - Đào tạo hướng vào mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài. Nâng cao mặt bằng dân trí đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ
bản, có kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm đến hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái
mới có ý thức vươn lên về khoa học công nghệ”.
Để có con người được giáo dục toàn diện trong tương lai thì nhiệm vụ không
thể thiếu được đối với những người làm công tác giáo dục là cần phải quan tâm đến
việc hình thành và phát triển khái niệm cho học sinh để thông qua đó rèn luyện và
phát triển tư duy sáng tạo.
học sinh, tuy nhiên thực tiễn dạy và học Sinh học ngày nay nói chung và Sinh học
11 nói riêng, cho thấy việc giảng dạy các khái niệm Sinh học vẫn chưa thực sự được
chú trọng. Phần lớn giáo viên chỉ dựa vào những khái niệm đã được định nghĩa ở
SGK cung cấp cho học sinh, ít chú ý đến việc tổ chức các hoạt động học tập để học
sinh hình thành và phát triển khái niệm. Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu
quả và chất lượng giáo dục. Vì vậy, để khắc phục những nhược điểm nêu trên và
xây dựng biện pháp hình thành và phát triển các khái niệm cho học sinh trong dạy
học nói chung cũng như trong dạy học Sinh học nói riêng là điều hết sức cần thiết.
Do vậy, chúng tôi chọn đề tài : “ Biện pháp hình thành và phát triển khái niệm
trong dạy học chương I: Chuyển hoá vật chất và năng lượng và chương IV:
Sinh sản- Sinh học 11- Trung học phổ thông”
2. Lịch sử nghiên cứu
5
2.1. Trên thế giới
Việc nghiên cứu về khái niệm được tập trung nhiều ở Liên Xô cũ. N.M.
Veczillin (1972) nêu " Hiện tượng đáng chú ý nhất trong lý luận dạy học sinh học ở
mười năm gần đây là việc xác lập học thuyết phát triển các khái niệm". Trong cuốn
đại cương về phương pháp dạy học Sinh học của N.M. Veczillin và V.M.
Kocxunxcaia (1966), lần đầu tiên các tác giả đã giành hẳn một chương cho việc
trình bày về phát triển các khái niệm, lần tái bản thứ hai ( 1972), chương đó đã được
bổ sung. Khái niệm được xem là thành phần cơ bản, và các khái niệm được nghiên
cứu trong sự phát triển và mối quan hệ giữa các khái niệm với nhau.
Cuốn nội dung dạy học Sinh học ở trường trung học của E.P. Brunov 1971,
tác giả đã nhấn mạnh yêu cầu mới là đảm bảo phát triển liên tục của các khái niệm
hiện đại, chính xác, đồng thời tác giả cũng nêu ra sự cần thiết phải tăng cường
chuẩn bị cho học sinh ở lớp dưới những khái niệm lý thuyết, để tạo điều kiện cho họ
có điều kiện tiếp thu khái niệm trong chương trình Sinh học đại cương.
Trong cuốn: "Dạy học sinh học đại cương như thế nào" của tập thể các tác
giả Veczilin, Coocxunxkaia 1967 và trong cuốn: "Các bài lên lớp sinh học đại
Vấn đề hình thành khái niệm trong dạy học cũng đã có nhiều tác giả đề cập
đến như:
- Luận án tiến sĩ của Trần Bá Hoành :" Nâng cao chất lượng hình thành và
phát triển khái niệm trong chương trình Sinh vật học đại cương lớp 9,10 phổ thông"
( 1975). Tác giả đã đề cập đến cơ sở lý luận về con đường hình thành và phát triển
các loại khái niệm và đề ra một số phương pháp dạy khái niệm.
- Vũ Lê ( 1978) đã bàn về sự phát triển các khái niệm trong chương trình
Sinh vật cấp II, III.
- Phạm Hoàng Gia và cộng tác viên với bài:" Bàn về sự lĩnh hội khái niệm
của học sinh cấp II".
7
- Lý luận dạy học Sinh học phần đại cương của Đinh Quang Báo và Nguyễn
Đức Thành ( 1996) cũng đã đề cập đến các con đường hình thành khái niệm
Như vậy, nghiên cứu vấn đề khái niệm, phương pháp hình thành và phát
triển khái niệm đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước quan tâm,
đề cập tới. Tuy nhiên việc hình thành và phát triển các khái niệm trong chương I: "
Chuyển hoá vật chất và năng lượng" và chương IV: " Sinh sản"- Sinh học 11 vẫn
chưa được đi sâu nghiên cứu và chưa được quan tâm giải quyết tốt trong dạy học
hiện nay ở trường THPT.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Xác định hệ thống khái niệm trong chương I : “ Chuyển hoá vật chất và năng
lượng” và chương IV: “ Sinh sản “- Sinh học 11- THPT và đề xuất biện pháp hình
thành và phát triển các khái niệm đó nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Sinh học 11
nói chung, chương I và chương IV nói riêng.
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống các khái niệm trong chương I: " Chuyển hoá vật chất và năng
lượng" và chương IV: " Sinh sản "- Sinh học 11 THPT và biện pháp hình thành và
phát triển các khái niệm đó.
+ Điều tra, quan sát sư phạm.
- Điều tra chất lượng lĩnh hội các khái niệm của học sinh.
- Điều tra về phương pháp dạy học hình thành và phát triển khái niệm của
GV thông qua dự giờ, đàm thoại với giáo viên, qua xem bài soạn.
+ Thực nghiệm sư phạm:
- Soạn giáo án theo hướng đã đề xuất.
- Dạy theo giáo án thực nghiệm.
9
- Kiểm tra đánh giá thực nghiệm và đối chứng bằng câu hỏi tự luận và trắc
nghiệm khách quan.
- Chấm bài và sử dụng thống kê toán học để xử lí số liệu
9. Những đóng góp mới của đề tài
9.1. Xác định thực trạng dạy các khái niệm trong chương " Chuyển hoá vật
chất và năng lượng" và chương " Sinh sản"- Sinh học 11- THPT.
9.2. Hệ thống hoá lý luận về hình thành và phát triển khái niệm sinh học nói
chung, các chương " Chuyển hoá vật chất và năng lượng" và " Sinh sản"- Sinh học
11- THPT nói riêng.
9.3. Xác định hệ thống khái niệm trong chương I và IV- Sinh học 11 trung
học phổ thông.
9.4. Xác định được biện pháp hình thành và phát triển hệ thống các khái
niệm trong chương " Chuyển hoá vật chất và năng lượng" và chương "Sinh sản"-
Sinh học 11- THPT. Góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy học sinh học nói
chung và dạy học các khái niệm nói riêng- đặc biệt là các khái niệm về " Chuyển
hoá vật chất và năng lượng" và " Sinh sản".
9.5. Kết quả thực nghiệm sư phạm khẳng định được tính khả thi của các biện
pháp đã đề xuất.
10. Bố cục luận văn
mới.
1.1.1.2. Quan điểm lôgic học về khái niệm
* Quan niệm của lôgic học hình thức về bản chất của khái niệm
Lôgic hình thức xem khái niệm là một yếu tố đơn giản của sự suy nghĩ, là
một bộ phận của phán đoán, khái niệm chỉ là chỉ là công cụ suy nghĩ và có tính chất
quy ước để thuận tiện cho việc trao đổi sự suy nghĩ. Các nhà triết học duy tâm hạ
11
thấp vai trò của khái niệm nên xem các khái niệm khoa học chỉ là công cụ nhận
thức khoa học, chỉ là những từ mà đằng sau chúng không có hiện thực nào cả.
Lôgic hình thức cho rằng khái niệm có hai đặc điểm:
Một là: Mỗi khái niệm chỉ là tổng số của một số dấu hiệu. Tuỳ theo tổng số
dấu hiệu của khái niệm là nhiều hay ít mà phạm vi ứng dụng của khái niệm sẽ rộng
hay hẹp. Như vậy lôgic hình thức chỉ quan tâm đến mặt lượng của khái niệm, nghĩa
là căn cứ vào số dấu hiệu của khái niệm mà khái niệm nào đó thuộc khái niệm này
hay thuộc khái niệm khác.
Hai là: Khái niệm là những quy ước có sẵn, không biến đổi. Nhìn chung
quan niệm này không đúng vì khái niệm không phải là điều quy ước như là dùng ký
hiệu để biểu thị đại lượng về số lượng toán học, mà nó có nội dung phản ánh hiện
thực của nó và hiện thực biến đổi nên sự phản ánh hiện thực cũng biến đổi theo, tuy
nhiên quan điểm này có khía cạnh đúng là trong điều kiện nhất định nào đó thì nội
dung của khái niệm nào đó phải là không đổi, có như thế thì khi trao đổi, suy nghĩ,
người ta mới có thể hiểu được nhau đầy đủ.
* Quan niệm của lôgic học biện chứng về bản chất của khái niệm
Lôgic biện chứng coi khái niệm là kết tinh sự nhận thức của con người, khái
niệm là hình thức tư duy phản ánh sự vận động, phát triển của thực tại khách quan.
Khái niệm khoa học là sự tổng kết các tri thức về những dấu hiệu, thuộc tính chung
và bản chất giữa các sự vật và hiện tượng. Lôgic biện chứng xem khái niệm có 3
đặc điểm căn bản:
- Đặc điểm thứ nhất: Tính chung
mới, quá trình đó phản ánh sự vận động giải quyết mâu thuẫn giữa nội dung và hình
thức của khái niệm, giữa dấu hiệu được đưa vào khái niệm và tên gọi của khái niệm.
Như vậy, lôgic biện chứng xem khái niệm là sự thống nhất biện chứng
giữa đơn nhất và phổ biến, giữa cụ thể và trừu tượng, giữa nội dung và hình
thức.
13
Quan niệm này hướng dẫn chúng ta những quy tắc hình thành và phát
triển các khái niệm khoa học trong quá trình dạy học sinh học.
1.1.2. Khái niệm sinh học
Khái niệm sinh học là những khái niệm phản ánh những dấu hiệu và thuộc
tính chung, bản chất của các tổ chức và hiện tượng sống.
1.1.2.1. Định nghĩa khái niệm sinh học
Định nghĩa một khái niệm tức là trả lời câu hỏi: một sự vật, hiện tượng nào
đó là cái gì? Muốn vậy phải chỉ ra những thuộc tính bản chất của nó, đủ để phân
biệt nó với các sự vật, hiện tượng khác.
Định nghĩa chính xác một khái niệm là kết quả một quá trình nhận thức lâu
dài của loài người nhưng câu định nghĩa khái niệm không thể chứa đủ mọi hiểu biết
hiện thời về đối tượng được định nghĩa mà chỉ có thể nêu lên những nét bản chất
nhất, chủ yếu nhất. Trong sách giáo khoa, trong dạy học người ta thường bắt đầu
việc giới thiệu tri thức mới bằng việc định nghĩa khái niệm. Đây thường là những
định nghĩa theo trình độ hiện đại của khoa học, đôi khi được đơn giản hoá cho phù
hợp với trình độ lĩnh hội của học sinh và yêu cầu của chương trình. Lên các lớp
trên, khái niệm đó sẽ dần được bổ sung, chính xác hơn.
1.1.2.2. Các loại khái niệm sinh học
Khái niệm sinh học là tri thức khái quát về những dấu hiệu và thuộc tính bản
chất của các cấu trúc vật chất sống, của các hiện tượng quá trình của sự sống, phản
ánh những mối liên hệ tương quan giữa chúng với nhau.
Dựa vào phạm vi phản ánh rộng hay hẹp có thể chia khái niệm sinh học
cách khác, hình thành nhân cách cho học sinh là hệ quả của quá trình dạy học sinh
học.
1.1.2.4. Phương pháp định nghĩa khái niệm
Phương pháp định nghĩa đơn giản nhất là liệt kê toàn bộ các dấu hiệu của đối
tượng được định nghĩa. Nhưng trong thực tế phương pháp này không thực hiện
15
được, vì mỗi sự vật hiện tượng đều có vô số dấu hiệu khó mà kể hết. Mặt khác mỗi
khái niệm nằm trong những mối liên hệ, những mối tương quan nhất định với các
khái niệm khác. Do đó, khi định nghĩa một khái niệm cần đặt nó vào một khái niệm
chung hơn, và không cần nêu lại những dấu hiệu nào là chung nữa mà chỉ cần vạch
thêm dấu hiệu nào là riêng của nó.
Trong trường hợp không thể đưa khái niệm định nghĩa vào khái niệm rộng
hơn được thì mới phải đưa vào định nghĩa một số dấu hiệu của khái niệm.
Khi đưa ra một câu định nghĩa phải bảo đảm các quy tắc cơ bản sau:
- Hai vế của câu định nghĩa phải tương đương , nghĩa là có thể hoán vị cho
nhau.
- Định nghĩa phải nêu được dấu hiệu bản chất của đối tượng, hiện tượng sống
được định nghĩa.
- Khi định nghĩa khái niệm không được vượt cấp, nghĩa là khái niệm dùng để
định nghĩa phải là khái niệm giống gần nhất.
- Khi định nghĩa không dùng câu phủ định.
- Câu định nghĩa phải ngắn gọn, rõ ràng, tránh nói vòng vo.
1.1.3. Các con đường hình thành khái niệm
1.1.3.1. Con đường hình thành khái niệm cụ thể
Bước 1: Xác định nhiệm vụ nhận thức
Bước này tạo cho học sinh ý thức sẵn sàng tiếp thu khái niệm một cách tự
giác và hào hứng bằng cách GV nêu sơ bộ ý nghĩa thực tiễn hay lý luận của kiến
thức sắp học. GV cũng có thể dẫn học sinh tới khái niệm mới bằng cách tạo tình
huống có vấn đề, hoặc giải bài tập nhận thức, trong đó có chứa đựng mâu thuẫn
Khi vạch được bản chất của khái niệm nên gợi ý để học sinh thử diễn đạt
định nghĩa khái niệm rồi giáo viên bổ sung, giúp các em nắm được định nghĩa ngắn
gọn, chính xác. Một khái niệm được chính xác, nội dung của nó phải:
17
- Chỉ ra được dấu hiệu bản chất, đủ để phân biệt nó với các sự vật hiện tượng
khác, nghĩa là biết được sự vật, hiện tượng đó là gì và phân biệt được với các loại sự
vật hiện tượng khác ở điểm nào.
- Chỉ ra được sự vật hiện tượng nào cùng loại với nó.
Bước 5: Đưa khái niệm mới học vào hệ thống khái niệm đã có
Bản thân các sự kiện, hiện tượng trong thực tế không cô lập mà nằm trong
mối quan hệ tương hỗ nên các khái niệm phản ánh chúng cũng có mối quan hệ với
nhau, được hình thành trong mối quan hệ với những khái niệm khác, tạo thành hệ
thống. Chỉ khi lĩnh hội các khái niệm thành hệ thống mới làm chủ được chúng.
Việc đưa khái niệm vào hệ thống có thể tiến hành ngay khi dẫn tới khái niệm
mới bằng một trật tự trình bày hợp lí, hoặc ngay sau khi nắm được khái niệm mới
bằng cách so sánh với các khái niệm có quan hệ lệ thuộc, ngang hàng hoặc trái
ngược nhau. Đối với một nhóm nhiều khái niệm có liên quan với nhau, việc hệ
thống hoá có thể tiến hành vào cuối chương dưới dạng bài tập về nhà hoặc trong giờ
ôn tập trên lớp.
Bước 6: Luyện tập, vận dụng khái niệm trong những điều kiện khác nhau
Như ta đã biết, nắm vững khái niệm có nghĩa là hiểu, nhớ và vận dụng được
những khái niệm và sử dụng nó để lĩnh hội những khái niệm mới. Một khi đã nắm
vững khái niệm thì mới giải quyết được những bài tập có tính chất lý thuyết và bài
tập mang tính chất thực hành, hoặc giải quyết các vấn đề thực tiễn trong đời sống và
sản xuất.
1.1.3.2. Con đường hình thành khái niệm trừu tượng
Sự hình thành khái niệm trừu tượng khác với sự hình thành khái niệm cụ thể
ở bước 2 và bước 3. Sự nhận biết dấu hiệu bản chất ở đây không thể thực hiện bằng
sự quan sát tài liệu trực quan mà phải thông qua lời dẫn dắt của giáo viên. Ở một số
Có thể tóm tắt con đường hình thành khái niệm cụ thể và khái niệm trừu
tượng theo sơ đồ sau: 19
Sơ đồ 1.1: Con đường hình thành khái niệm cụ thể và khái niệm trừu tượng 1.1.3.3. Con đường suy diễn lý thuyết trong việc hình thành nhóm khái niệm liên
quan
Đối với các khái niệm có liên quan chặt chẽ có thể tận dụng khái niệm cũ
hình thành khái niệm mới, bằng cách ngay từ đầu nắm khái niệm mấu chốt và
để dần từ khái niệm này sang khái niệm khác. Trình bày như vậy sẽ làm nổi bật dấu
hiệu bản chất của khái niệm và đặt các khái niệm vào hệ thống theo lôgic phát sinh
một cách tự nhiên.
( từ luận điểm lý thuyết, biến đổi dấu hiệu dẫn tới lần lượt từ khái niệm này sang
khái niệm khác).
1.1.4. Thuyết phát triển khái niệm
1.1.4.1. Cảm giác luận duy vật
Từ Đêmôcơrit đến Bêcơn, Phơbach đều cho rằng: Thực tại khách quan đẻ ra
cảm giác và cảm giác là sao chụp lại một cách trực tiếp thực tại. Như vậy, cảm giác
phản ánh thực tại nột cách trực tiếp, cảm giác là nguồn gốc của mọi tri thức.
Những cảm giác được liên kết, so sánh, quy nạp hình thành những biểu
tượng chung, sau đó được trừu tượng hoá để nắm bản chất trừu tượng, hình thành
khái niệm.
Quan điểm này có nhược điểm là từ tri giác đến khái niệm chỉ là hình thức
chủ quan chứ không thay đổi nội dung của thông tin ban đầu về đối tượng. Giữa
biểu tượng và khái niệm không có đột biến về chất. Như vậy, sự vận động của nhận
thức chỉ là sự liên kết các cảm giác thành biểu tượng chung, hình thành kinh nghiệm
hay còn gọi là khái niệm kinh nghiệm. Bằng con đường như trên chỉ có thể hình
thành khái niệm sinh hoạt, hướng tới sự phân hạng, xếp lại các sự vật, không thể
hình thành khái niệm khoa học.
1.1.4.2. Quan điểm duy lý duy tâm
Quan điểm này có nguồn gốc từ Platông, chủ nghĩa duy lý của Đềcac, lôgic
biện chứng của Hêghen.
Theo quan điểm này thì nhận thức cảm tính là mơ hồ, cho ta hiểu biết sai
lệch về hiện thực, kết quả nhận thức phụ thuộc mức độ hoàn hảo của giác quan từng
Khái niệm xuất phát
Khái niệm
Khái niệm