Sinh học đại cương c6 - Pdf 25

Chương 6
CHU KỲ SỐNG CỦA TẾ BÀO VÀ SỰ PHÂN BÀO
Phân bào là một quá trình phức tạp, về mặt di truyền có thể xem phân bào là phương
thức mà qua đó tế bào bố mẹ truyền thông tin di truyền cho các thế hệ con cháu. Vì qua phân
bào các NST đã được phân đôi trong chu kỳ tế bào sẽ được phân ly đồng đều về 2 tế bào con.
Người ta thường phân biệt các kiểu phân bào sau đây:
- Phân bào nguyên nhiễm (mitosis). Còn gọi là nguyên phân. Là phương thức phân
bào phổ biến nhất, thường đặc trưng cho các tế bào soma và tế bào sinh dục khi còn non.
- Phân bào giảm nhiễm - giảm phân (meiosis). Là phương thức phân bào để hình thành
các giao tử ở các cơ thể sinh sản hữu tính.
- Phân bào tăng nhiễm - nội phân (endomitosis) đặc trưng cho tế bào đa bội.
- Trực phân - phân bào không tơ (amitosis). Đặc trưng cho các tế bào bệnh lý hoặc tế
bào đã biệt hoá.
1. Chu trình tế bào (cell cycle)
Các tế bào trải qua nhiều giai đoạn nối tiếp nhau và kết thúc bằng sự phân chia tạo ra
tế bào mới. Toàn bộ quá trình từ tế bào đến tế bào thế hệ kế tiếp được gọi là chu trình tế bào,
gồm 4 giai đoạn: M, G
1
, S, G
2
.
Sự phân chia tế bào chỉ chiếm một phần của chu trình tế bào
- M (mitosis) là giai đoạn nguyên phân.
- Giai đoạn G
1
(Gap) kéo dài từ sau khi tế bào phân chia đến bắt đầu sao chép vật chất
di truyền. Sự tích luỹ vật chất nội bào đến một lúc nào đó đạt điểm hạn định (restriction) thì tế
bào bắt đầu tổng hợp ADN.
- Giai đoạn S (synthesis) là giai đoạn tổng hợp ADN. Cuối giai đoạn này, số luợng
ADN tăng gấp đôi và chuyển sang giai đoạn G
2

97
Hình 6.2. Các kỳ của phân bào nguyên nhiễm
2.2. Kỳ giữa (metaphase):
Các NST tập trung vào giữa tế bào, các tâm động cùng nằm trên một mặt phẳng xích
đạo. Thoi vô sắc được hình thành đầy đủ và có thể thấy 2 dạng sợi của nó. Một dạng sợi kéo
dài qua suốt tế bào, nối với 2 cực của tế bào. Dạng sợi thứ 2 dính một đầu mút vào cực của tế
bào và đầu mút kia vào tâm động của thể nhiễm sắc.
Ở cuối kỳ giữa các thể nhiễm sắc bắt đầu tách nhau ở ra phần tâm.
2.3. Kỳ sau (anaphase):
Kỳ sau bắt đầu từ lúc các NST phân tách nhau ra và di chuyển về các cực khác nhau.
Bắt đầu tâm động phân đôi, các tâm động con tách nhau ra mang theo các nhiễm sắc tử, và
như vậy 2 nhiễm sắc tử trong 1 NST tách nhau ra và nhờ tâm động sẽ di chuyển về hai cực
của tế bào theo sợi của thoi phân bào. Và các nhiễm sắc tử đã trở thành NST con.
Ở thời kỳ này bắt đầu hình thành nhân nhỏ, các màng nhân xuất hiện màng ngăn cách
các tế bào chị em, các cơ quan tử phân phối đều giữa các tế bào mới.
2.4. Kỳ cuối (telophase):
Ở giai đoạn này các NST con đã chuyển đến 2 cực, chúng dần mở xoắn và ẩn vào dịch
tế bào giống như lúc bắt đầu kỳ đầu. Màng nhân được tái tạo hoàn toàn, hạch nhân xuất hiện.
Đồng thời xảy ra quá trình phân chia tế bào chất.
Quá trình phân chia tế bào chất xảy ra ở động vật và thực vật khác nhau.
• Ở động vật: Ở phần xích
đạo tế bào hình thành eo
thắt ngày càng phát triển
và cuối cùng phân thành
2 tế bào con.
• Ở thực vật: Khác với
động vật là ở xích đạo
hình thành một vách
ngăn và phân tế bào
thành 2 tế bào con.

- Loại thứ 2 xuất phát từ tâm động dần nối với sao. Loại sợi này lôi kéo nhiễm
sắc tử về 2 cực.
+ Điều kiện cần phải có của quá trình phân bào:
Quá trình phân bào là một quá trình phức tạp, tất nhiên phải có cơ chế tự điều hoà và
điều khiển chung. Nhưng đến nay người ta chưa biết thật rõ cơ chế này của sự phân bào.
Tuy nhiên người ta khẳng định: điều kiện cần thiết cho sự phân bào là tế bào phải trải
qua giai đoạn S. Nghĩa phải có sự tái bản AND và nhân đôi NST. Lượng AND được tăng lên
gấp đôi vào gian kỳ và giữ nguyên cho đến kỳ sau, ở kỳ cuối tế bào phân đôi thì AND mới trở
lại mức ban đầu. Và hàng loạt yếu tố nội bào và ngoại bào có ảnh hưởng: ức chế, kích thích
sự phân bào. Ví dụ chất dinh dưỡng, hormone, các độc tố, các tác nhân vật lý: nhiệt độ, tia tử
ngoại, tia phóng xạ, các yếu tố sinh thái: nhịp độ ngày đêm.
+ Trong cơ thể đa bào: có 1 số tế bào có hoạt động phân chia cao như tế bào tuỷ
xương .., có tế bào thấp như tế bào gan.. và cũng có những tế bào hoàn toàn không phân chia
như các nơron thần kinh. Các mô ung thư có hoạt tính phân bào cao.
3. Sự phân bào giảm nhiễm (meiosis):
Như ta đã biết nhờ phân bào nguyên nhiễm mà có sự phân bố đồng đều NST về các tế
bào con, và các tế bào con dù ở thế hệ thứ bao nhiêu đi nữa vẫn mang bộ NST lưỡng bội. Đối
với cơ thể sinh sản vô tính thì không có vấn đề gì xảy ra. Nhưng đối với cơ thể sinh sản hữu
tính là những cơ thể được phát triển từ hợp tử thì có vấn đề vì hợp tử là tế bào lưỡng bội (2n)
được hình thành do thụ tinh là quá trình kết hợp các bộ NST của giao tử đực và giao tử cái.
Và nếu như giao tử là lưỡng bội 2n thì hợp tử ở thế hệ 1 là 4n, thế hệ 2 là 8n và .v.v. Nhưng
số lượng NST con cái và bố mẹ theo đúng quy luật là không thay đổi. Vì vậy trong thiên
nhiên thực tế không xảy ra như trên vì cơ thể hữu tính có một cơ chế phân chia tế bào đặc
biệt: Sự phân bào giảm nhiễm- đặc trưng cho sự phân chia của các tế bào sinh dục. Do phân
bào giảm nhiễm mà các giao tử có bộ NST đơn bội 1n và qua quá trình thụ tinh hợp tử lại có
bộ NST lưỡng bội 2n.
Cơ thể mang tế bào lưỡng bội được gọi là pha lưỡng bội (diplophase). Ví dụ ở thực vật
bậc cao pha lưỡng bội chính là cây mang lá, và trên các cây này sẽ tạo thành cơ quan sinh sản.
Các cây như thế được gọi là cây mang bào tử -thể bào tử: bởi vì các bào tử được tạo thành ở
cây (tiểu bào tử trong các bao phấn, đại bào tử trong phôi tâm của noãn). Các bào tử được

Kỳ xen kẽ: interkinese
Kỳ giữa II
Kỳ sau II
Kỳ cuối II
3.1. Phân chia I:
3.1.1. Kỳ đầu I: Kỳ đầu I có thể kéo dài vài giờ, vài ngày hoặc vài tuần lễ, có khi kéo dài hàng
năm như quá trình sinh trứng ở động vật có vú. Sở dĩ kéo dài như vậy vì trong thời gian này là
giai đoạn sinh trưởng của tế bào sinh dục. Và dài hay ngắn tuỳ theo các nhóm động vật khác
nhau.
Mặt khác chính trong thời kỳ này xảy ra những quá trình phức tạp có liên quan đến sự
tiếp hợp và trao đổi chéo của các NST tương đồng nên cần có thời gian.
*Giai đoạn Leptonem: Ở giai đoạn này trong nhân xuất hiện nhiều sợi nhiễm sắc dài,
có hạt nhiễm sắc và có vân ngang.
Số lượng sợi nhiễm sắc tương ứng với số lượng NST 2n. Các sợi này có cấu trúc xoắn
đôi và rất khó nhận biết các NST trong giai đoạn này.
*Giai đoạn zigonem: Giai đoạn này bắt đầu khi các NST tương đồng liên kết với nhau
từng đôi một. Một chiếc trong cặp NST tương đồng có nguồn gốc từ bố, chiếc kia có nguồn
gốc từ mẹ (từ giao tử đực và giao tử cái). Sự tiếp hợp của các NST tương đồng xảy ra một
cách chính xác. Có thể đính với nhau từ đầu mút sau đó kéo dài dọc NST, cũng có thể đính
với nhau ở nhiều đoạn cùng một lúc. Nhờ sự tiếp hợp mà các hạt nhiễm sắc, các điểm của sợi
nhiễm sắc tương đồng này có thể tiếp cận với các hạt, các điểm của sợi tương đồng kia. Trong
suốt quá trình tiếp hợp NST vẫn giữ nguyên là một thể toàn vẹn.
Điểm đặc trưng để nhận biết giai đoạn Zigonem là sự tiếp hợp của các cặp NST tương
đồng.
100


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status